Y SAO : Rập khuôn con người

HỒ LINH

                             Y  SAO

             

             “Rập khuôn một con NGƯỜI giống hệt như TA, chỉ khác … “

      Andrew Lee tỉnh lại ngay khi người ta tìm được cậu trong một vũng nước cạn. Nhờ nịt chặt người trên ghế ngồi, và không bị rớt xuống mặt đất cứng nên Andrew thoát chết, nhưng thương tích cũng khá trầm trọng. Andrew là một trong số mười hai hành khách may mắn sống sót trên chuyến phi cơ Boeing 747  lâm nạn với 348 hành khách tử thương, bao gồm cả cha mẹ và chị của Andrew.

Khi ông Holly, luật sư của gia đình, vào thăm Andrew với cái tin chẳng lành về những người thân của cậu, Andrew vô cùng đau đớn, buồn bã. Hiện tại, tình hình sức khỏe của Andrew còn đang trong vòng chờ đợi các kết quả chụp quang tuyến X và thử nghiệm, nhất là bộ óc, có dấu hiệu bị chấn thương. Tuy mới mười lăm tuổi, nhưng Andrew là đứa trẻ thông minh từ nhỏ nên cậu đã tốt nghiệp trung học và sửa soạn vào trường MIT học ngành điện toán. Vả lại, cha của Andrew cũng là một thiên tài về máy vi tính, hãng của ông ta dù mới hoạt động chưa tới mười lăm năm mà sản nghiệp đã lên tới hàng tỷ đô la.

Bộ “nhớ” của máy vi tính do công ty Lee and Son LTD sản xuất đã ứng dụng nguyên tử hydrogen thay thế cho chất dẻo silicon. Vị trí thẳng đứng và đảo ngược lại ứng cho hai số 0 và 1 trong hệ thống binary, thí dụ trong bộ óc điều hành trung ương CPU của máy vi tính. Do  tính đàn hồi lớn, tránh được nhiều ma sát khi chuyển vận, lại năng động với dòng điện thấp nên các phần cương liệu của máy không cần bộ phận giải nhiệt nên rất bền, khả tín lại vừa túi tiền của mọi khách hàng, dễ dàng đè bẹp những bộ nhớ của các hãng “cổ điển” trên thị trường điện toán, kể cả Intel. Nếu tính cả tiền bồi thường cho gia đình Andrew và sản nghiệp sẵn có, Andrew sẽ là một người trẻ tuổi có gia tài lớn nhất thế giới. Nhưng, hừ, có ích gì…khi mạng sống cậu ta còn đang trong tình trạng rất mong manh. Vết thương trên đầu có triệu chứng rỉ máu trong não. Nếu máu không ngưng, tiếp tục tăng thể tích, ép lên một phần não, thì phải giải phẫu để hàn mạch máu bị đứt và lấy phần máu bầm ra, tình trạng sẽ rất nguy kịch.  Trong lúc này, Anhdrew còn có thể nghĩ tới tòa nhà đồ sộ của gia đình trên núi Hamilton, tới cái cơ sở to lớn của hãng Lee and Son LTD, nên lòng thực chán nản. Tiền rừng, bạc bể nhiều khi cũng không đổi được mạng sống…Trường hợp Andrew chết đi…sản nghiệp này sẽ rơi vào tay những người họ hàng gần nhất của gia đình Lee là mấy thằng anh em họ bất tài, lười biếng của cậu ta. Ồ, không thể thế được!

Buổi chiều trong bệnh viện thực vắng vẻ. Bác sĩ ca cuối cùng cũng đã tới thăm. Ánh sáng trong phòng giữ mức tối thiểu để bệnh nhân dễ chịu hơn. Vài tia nắng chiều cuối cùng len lén qua màn cửa, kéo một vệt dài trên bức tường mầu xanh nhạt như một chứng tích của cái sinh khí còn rơi rớt lại của một ngày sắp tất. Thực ảm đạm.

Bỗng một ý nghĩ kỳ dị tựa làn chớp lóe lên trong óc, Andrew như muốn ngồi nhỏm dậy, nhưng đầu băng kín, cổ kiềng ngay đơ, tứ chi bó bột, khiến toàn thân Andrew trở nên cứng ngắc như cây gỗ, không thể cử động. Andrew muốn ông Holly ghé sát bên cậu ta để trò truyện cho kín đáo.

Ông luật sư khẽ gật đầu, đang định đứng lên thì Andrew gọi giật lại:

– Ấy, khoan đã. Còn ông, liên lạc ngay  với W.B.C.R

lấy một cái hẹn càng sớm càng tốt. Sau đó, mời ông vào đây liền, vì tôi có chuyện quan trọng muốn thảo luận.

Luật sư Holly hơi ngẩn ra…vì chưa biết W.B.C.R là gì, ở đâu thì Andew đã tiếp:

– Số bên đó là WBCRRRR. Bây giờ ông về nghỉ đi, mai ta nói chuyện

– Vâng.

Ông Holly là một luật sư không xuất sắc, nhưng trung hậu và có thể tin tưởng được. Vì thế, ông đã làm cố vấn pháp luật cho công ty từ ngày lập hãng tới này, nên ông coi quyền lợi của thân chủ như chính quyền lợi của ông vậy. Andrew nhớ cha cậu đã từng nhắc nhở: “Có chuyện gì khó khăn, cứ giao phó cho ông Holly là có thể yên tâm.”

Thế nhưng lần này, sau khi ông luật sư ra về, Andrew điên lên vì những quyết định đang dấy lên trong đầu.  “Đó là phương pháp duy nhất…có thể cứu vãn được tình thế…nếu chẳng may…ta không qua được nạn này, và cái sản nghiệp kia cũng sẽ không bị rơi vào tay mấy tên họ hàng khốn nạn kia”. Thật là bất công khi cả cuộc đời của cha mẹ Andrew làm ăn vất vả, rồi cả bốn mạng sống tiêu tùng để nhận thêm một số tiền bồi thường to lớn, mà lại để cho những tên hèn hạ, bất tài, không chịu làm việc…hưởng thụ. Chúng vừa được của, lại vừa cười vui trên nỗi bất hạnh của gia đình nhà Lee.

Cuối cùng, Andrew dặn ông:

– Ông về, làm ơn bảo Steve vào gặp tôi ngay nhé.

Steve là một thanh niên ngoài ba mươi, dẫn đầu toán kỹ sư nghiên cứu nòng cốt của hãng. Tuy ít tuổi, nhưng Steve là một chuyên viên tài giỏi về computer, lại rất lanh lợi, nên được cha của Andrew quý mến và trọng dụng.

Bên ngoài trời tối lúc nào không hay. Andrew vận dụng hết sự sáng suốt còn sót lại lúc này để sắp đặt cho công việc của mình. Tiếng bíp bíp phát ra từ mấy cái dụng cụ trợ y như một thôi thúc khiến Andrew có lúc sợ hãi vì không biết thời gian có còn đủ để cậu thi hành kế hoạch. Nhất là nhiều khi Andrew nghe thấy như có cái gì rục rịch trong óc…Một mạch máu não vừa đứt thêm…hay những tia máu cũ…đang lan dần…đè bẹp não bộ…để đến một giây phút nào đó…cậu sẽ rơi vào hôn mê…rồi đi luôn? Mổ óc? Có nên không? Chưa ai giải thích tình trạng sức khỏe của Andrew cho cậu ta nghe, nhưng với trí thông minh, với vết thương trên đầu, Andrew thừa biết những gì xấu nhất…có thể xẩy ra cho mình. Vì thế, thời gian…là một vấn đề rất quan trọng lúc này.

Sao lâu quá vậy kìa. Steve đâu??? Andrew nóng lòng chờ đợi tiếng chân của anh ta…vì cậu không thể quay mặt nhìn ra cửa được.

Andrew nhớ lại những cuộc nghiên cứu gần đây nhất của hãng nhà. Mặc dầu cậu không được tham gia, nhưng mọi chi tiết đều được cha cậu mang ra để hai người thảo luận…vì ông ta nghĩ…Andrew cần phải được huấn luyện và thông suốt mọi hoạt động quan trọng trong hãng. Tuổi của Andrew cũng là một vấn đề, nhưng người cha biết khả năng của đứa con trai của mình và tin là cậu ta có thể hấp thụ được những gì ông ta trình bày.

Cuối cùng, Steve cũng vào tới nơi. Andrew mừng rỡ, nói như reo lên:

– Steve tới rồi…anh mang ghế lại ngồi gần đây.

Steve ăn vận xuềnh xoàng như một người technician, quần jean bạc, áo sơ mi mùa hè bỏ ngoài quần.

Anh ngồi xuống bên Anrew,  kéo  chăn  đắp  lại  cho

“ông chủ nhỏ”, vui vẻ hỏi:

– Andrew, cậu trông khá rồi…sáng nay tôi ngồi cả buổi…nhưng cậu cũng chưa tỉnh. Nghe ông Holly bảo cậu gọi…tôi mừng quá.  Nhưng nhiều việc phải làm nên bây giờ mới tới được.

Tuy Andrew không có thể tỏ ra một dấu hiệu nào vì hai tay bó bột, cổ bị giữ ngay, nhưng giọng cậu khiến Steve hiểu được câu chuyện rất quan trọng:

– Steve…đừng nhắc tới cái bệnh tình của tôi bây giờ…Anh nghe rõ đây…chương trình bộ nhớ vi sinh STM của hãng tới giai đoạn cuối chưa?

Steve ngạc nhiên, khẽ nói:

– Sao? Andrew cũng biết chương trình STM à? Có thể nói…đã tới gian đoạn ứng dụng…rồi. Nhưng tiếc rằng gia đình ông chủ gặp nạn…không biết nay mai sẽ tiến hành như thế nào…vì…

Andrew hỏi ngay:

– Vì sao?

– Dự án còn tốn kém nhiều triệu nữa để thực hiện những cái test. …Sản phẩm này…chưa biết ứng dụng trong phạm vi nào…vì vậy thị trường sẽ là một vấn đề gai góc.

Andrew gạt ngang:

– Steve, bỏ luôn cái thị trường của anh đi. Nghe đây…bằng bất cứ giá nào, anh phải sửa soạn gấp để đưa một bộ nhớ vi sinh STM đó vào…não của tôi…càng sớm, càng tốt.

Steve lắp bắp:

– “Andrew, chúng ta chưa qua giai đoạn test để chắc chắn nó có hoạt động đúng mức tiên liệu không.”

Steve lắc đầu, tiếp:

– Chẳng lẽ…cái test đầu tiên lại làm ngay trong óc của …cậu…Andrew ơi sao lại phải như vậy chứ?

Steve thở dài, cố gắng lung lạc ý định của “ông chủ nhỏ”:

– Thôi được, trước khi thực hành việc cậu muốn, tôi xin trình bầy sơ qua cho Andrew hiểu về chương trình vi sinh STM tức Super Tiny Memory. Vì đã dùng được nguyên tử hydrogene trong các CPU của máy vi tính, ông chủ ra lệnh nghiên cứu luôn việc thực hiện máy vi sinh SMT với một số khả năng đặc biệt, có thể tự hoạt động trong một môi trường sinh học với một dòng nhân điện rất yếu. Nhờ phương pháp y khoa tiến bộ hiện nay, ta sẽ đưa máy vi tính này vào vị trí “G” trong não bộ con người. Bằng sự kích thích tâm linh, tất cả ký ức của người này được khơi dậy…và từ từ được “save” vào máy vi sinh STM. Sau đó nó sẽ được lấy ra khỏi não bộ…và…

Steve yên lặng một chút, tiếp:

– Hai vấn đề gai góc hiện nay là…làm thế nào để có thể thuê các người chịu để mình làm test…một cách hợp pháp, hai là rồi khi đã hoàn thành…thì sản phẩm này…không có thị trường. Cậu biết đó, chúng ta là một cơ sở thương mại…chứ không phải là một viện nghiên cứu khoa học có nguồn tài trợ. Bây giờ..tại sao cậu lại nghĩ đến nó chứ?

Steve nhìn Andrew như chờ đợi…một câu trả lời.

Andrew không cần suy nghĩ , nói ngay:

– Steve…không phải là chúng ta không có thị trường mà vì sản phẩm của ta hoàn thành quá sớm khi nhu cầu còn đang trong vòng thử nghiệm. Một ngày kia, lúc cung- cầu gặp nhau, chúng ta sẽ thu vào tiền triệu…

Steve kinh ngạc, nói qua hơi thở:

– Andrew, cậu nói tới một thị trường tương lai…nào đó?

Andrew khẽ cười:

– Thị trường “cloning”.

Steve thực sự không ngờ Andrew biết điều đó.

Nhưng Andrew tiết lộ:

– Tất cả, cha con chúng tôi đã bàn thảo…

Khoa sinh học từ rất lâu đã cho biết mọi sinh vật đều được cấu tạo bởi những phần tử rất nhỏ gọi là cell tức tế bào. Ngoài phần màng, tế bào có hai phần quan trọng là  sinh chất và một cái nhân ở giữa. Nhân có một màng hữu cơ chung quanh, ở trong chứa một ít protein và một chất đặc biệt DNA là vật liệu cấu thành các nhiễm sắc thể. Các nhiễm sắc thể hình que, đi thành cặp song song. Dọc theo những dây nhiễm sắc thể này có nhiều điển rất đặc biệt gọi là gene có chức năng quyết định một hay nhiều đặc điểm của cơ thể. Mỗi giống có số cặp nhiễm sác thể khác nhau, tế bào con người có 23 cặp. Các tế bào phát triển bằng cách tự cắt…một sinh hai, hai sinh bốn…vân vân. Quá trình chia cắt như sau: Mỗi nhiễm sắc thể chẻ dọc thành hai sợi giống nhau, biến  23 cặp thành hai bộ( cũng có 23 cặp) giống nhau. Trong khi đó, màng của nhân tan biến, mỗi bộ nhiễm sắc, dời đến một chỗ cuối tế bào đối nhau. Sau đó, tế bào thắt lại theo đường xích đạo cho đến khi nó chia làm hai tế bào mới và tách rời nhau. Tiếp đó là quá trình tương dị hóa tức differentiation, các tế bào phân cắt tạo những hình dạng khác nhau, sắp xếp theo những hình thức đặc biệt để tạo thành những cơ quan của sinh vật như tim, gan, phổi, não bộ v.v. để cấu tạo nên một sinh vật mới. Tất cả tiến trình tạo lập này đều do các gene điều khiển. Tuy nhiên, một sinh vật được tạo thành, khởi đầu bằng một tế bào đặc biệt,  độc nhất, hay nói khác đi nó là một cá nhân, vì có đầy đủ mọi cái để có thể phát triển thành một cá nhân với những đặc điểm về mầu da, mầu tóc, mầu mắt, tính tình, năng khiếu, và nó được gọi là zygote. Zygote được tạo thành do hai tế bào có cách phân cắt đặc biệt. Thay vì các nhiễm sắc thể chẻ đôi, ở đây trong tế bào tiên khởi, 23 cặp chia làm hai, mỗi phần chỉ có 23 nhiễm sắc thể “độc thân” và trôi về hai phía cuối đối diện của tế bào và chịu tiến trình phân cắt tại thành những tế bào đặc biệt gọi là gamete. Loại gamete do tế bào tiên khởi chia cắt thành một nhỏ không phát triển, tế bào kia phát triển phần phụ thuộc thành một trứng của sinh vật mẹ. Loại gamete phân cắt từ tế bào tiên khởi thành 2 tế bào bằng nhau, đó là hai sinh tử của sinh vật cha. Khi hai gamete, một thuộc cha, một thuộc mẹ (tinh tử và trứng) kết hợp để cho một tế bào  với 23 nhiễm sắc thể của tinh tử hợp với 23 nhiễm sắc thể của trứng cho ta một zygote với 23 cặp nhiễm sắc thể, tức 46 chiếc. Các tế bào này phân cắt, phát triển để cho một phôi thai (embryo). Trong số 23 cặp nhiễm sắc thể của tế bào tiên khởi bên mẹ hay bên cha, có 22 cặp có hệ thống DNA và gene như nhau, còn cặp thứ 23 của hai bên khác nhau. Bên mẹ, hai nhiễm sắc thể đó giống nhau và thuộc loại gọi là X; bên cha, cặp này lại khác nhau, một thuộc loại X (giống bên mẹ), một loại khác, gọi là loại Y. Vì thế ở giai đoạn phân cắt thành hai gamete đầu tiên, hai tế bào trứng của mẹ giống nhau, tức 22 nhiễm sắc thể “độc thân” thường và một nhiễm sắc thể X. Bên cha, khi sản xuất gamete (tức tinh trùng) từ tế bào tiên khởi sẽ cho một gamete có 22 nhiễm sắc thể “độc thân” thường và một nhiễm sắc thể X hay một nhiễm sắc thể Y. Nếu tinh trùng có loại X kết hợp với trứng để cho một zygote có đôi nhiễm sắc thế thứ 23 là XX thì phôi thai là gái; nếu tinh trùng có loại Y, khi kết hợp với trứng (có X), ta sẽ được một tế bào zygote có cặp nhiễm sắc thể thứ 23 mang hai loại XY, phôi thai là trai. Trong tiến trình kết hợp giữa trứng và tinh trùng trên, nơi dạ con của người mẹ, nếu hai tinh trùng của người cha cùng một lúc xâm nhập vào một cái trứng và cái trứng đó thụ thai sẽ phát triển thành hai phôi thai, và cho ta hai con người giống hệt nhau. Hai trẻ sinh đôi sẽ trước sau lần lượt được sinh ra.

Phương pháp “cloning” mà ta tạm gọi là “y sao”, tức tạo dựng một sinh vật giống hệt sinh vật trước, nhưng lại ở hai thời điểm khác nhau, xa hay gần tùy ý. Phát minh khoa sinh học này trước đây đã bị các chính phủ nhân danh luân lý và đạo đức, ngăn cấm dùng công quỹ để hổ trợ cho các khoa học gia sinh học theo đuổi tiếp công trình nghiên cứu, thí nghiệm để đẩy tới khả năng cloning được con người, nhất là sau thời gian một vài nơi như ở thành phố Edinburgh ở xứ Escosse do bác sĩ Ian Wilmut thực nghiêm và trình làng con cừu cloning tên Dolly được tám tháng hay những cuộc thí nghiệm cùng mục đích ở thành phố Seatle của Mỹ, cloning bò ở Melbourn thuộc Úc Đại Lợi… Ngày 12-3-97, Nghị Viện Âu Châu ở thành phố Strasbourg, với đại biểu của 40 quốc gia hội viên đã thông qua một nghị quyết cấm việc cấy nhân tế bào tức cloning, để sản xuất những người giống hệt nhau. Họ cũng lên tiếng kêu gọi công đồng thế giới nghiêm cấm những cuộc thí nghiệm cấy người như vậy. Tòa thánh La Mã và tất cả các tôn giáo lớn trên thế giới như Hồi Giáo, Tin Lành, Do Thái Giáo… đều minh thị tuyên bố kết án việc thực hiện phương pháp cloning để tạo ra con người. Ngay như việc thụ thai trong ống nghiệm là phương pháp mà sự vô luân không trầm trọng bằng cloning, thực tế cho thấy đã tạo ra những đức trẻ cơ thể chậm phát triển,  đầu óc lệch lạc, khó khăn hội nhập, có các vấn đề tâm lý như khó học, gặp những vấn đề về nhân cách, không có ý niệm thế nào là một gia đình tốt đẹp với những thắc mắc ai là cha mẹ thực sự của chúng. Nhưng, trong thực tế, có những tổ chức tư nhân giầu có, đặc biệt là bọn làm ăn ngoài vòng pháp luật, các tay trùm bạch phiến chẳng hạn, lén lút tài trợ cho những nhóm khoa học gia vốn say mê nghiên cứu và khám phá, không lý tới hậu quả của việc mình làm, lập nên những phòng thí nghiệm tối tân, với điều kiện sau này dùng phương pháp cloning giúp các tay tổ này trở nên bất tử…. Căn bản phương pháp cloning này là dùng một cái tế bào khỏe mạnh của sinh vật “bản chính”, chỉ lấy cái nhân của nó với 23 cặp nhiễm sắc thể, trong đó cặp thứ hai mươi ba có thể là hai nhiễm sắc thể giống nhau XX hoăc khác nhau XY, vất đi phần vỏ ngoài, sau đó, thay thế cái nhân này vào nhân của một cái trứng của sinh vật cái đồng loại, tức không có nhiễm sắc thể nào cả. Cái zygote ( tức cái trứng ) này được nuôi trong một dung dịch đặc biệt. Khi nó đã phát triển tới giai đoạn phân cắt, người ta cấy vào tử cung của một sinh vật cái. Phôi thai (embryo) này phát triển thành cái gọi là “clone”, sẽ được sinh ra sau đó, có tất cả những đặïc tính sinh vật lý của sinh vật “bản chính”. Cloning tức y sao được bí mật tiếp tục tích cực nghiên cứu, và rồi cuối cùng, họ cũng đã đạt tới trình độ cloning con người. Khác với sự sinh đôi thông thường, hai trẻ giống nhau, nhưng đều được tạo đựng do một nữa nhiễm sắc thể của mẹ, một nửa của cha. Cloning lại khác hẳn, tạo nên một con người từ một tế bào lấy từ người “bản chính”, nghiã là các nhiễm sắc thể với hệ thống chất DNA và gene hoàn toàn của “bảnh chính”.  Do đó, con người y sao giống như khuôn con người bản chính từ hình dáng, tâm tính, trí tuệ, nhưng không cùng tuổi như cặp song sinh. Có một khó khăn trước mặt là ký ức của người “bảnh chính”, thì…không y sao được. Cái “clone” là trai hay gái là do cái nhân của tế bào của người “bản chính” được đặt vào cái vỏ trứng lúc khởi đầu tiến trình cloning.

Đó là điều Andrew muốn đặt vấn đề với Steve:

– Steve nhớ là người ta không thể cloning “ký ức”. Vì thế…những tên clone tức y sao sau này…rất cần tới bộ vi sinh STM của chúng ta, nghĩa là sau khi bộ vi sinh đã đầy ắp ký ức, kể cả phần tri thức và học thức,  của người “bản chính”, sẽ được đưa sang não của người “y sao” của anh ta…thế là hai người hoàn toàn là một…nghĩa là anh “bản chính” được tái sinh tại một thời gian khác. Tới lúc đó…ta giầu to…

Nói đến đây, Andrew khẽ thở dài…

Steve giật mình vì lời nói của Andrew, anh lắc đầu:

– Nhưng điều tôi không hiểu là tại sao bỗng nhiên cậu…muốn test bộ vi sinh STM của mình?

Anhdrew không giấu được lo lắng, khẽ nói:

– Steve, tôi sợ…tôi không qua khỏi cái nạn này…Vì thế, tôi muốn “save” ký ức của tôi trước, sau đó, tôi…phải “cloning’ chính tôi…để sau này, với bộ nhớ vi sinh STM có sẵn ký ức của tôi…sẽ “save” vào não bộ của…người y sao của tôi…Tôi không muốn ra đi…mà không còn một hy vọng gì cho tương lai, gia sản của gia đình tôi bị rơi vào tay kẻ khác…Tôi cần phải được tái sinh…Bob nghe rõ chưa…dù tôi có chết bây giờ…mươi mười lăm năm nữa, tôi sẽ trở lại…điều khiển hãng mình…Lúc đó…Bob cũng chưa tới năm mươi, nhỉ!

Andrew cười thích thú.

Steve chưa hết bàng hoàng, Andrew hỏi:

– Steve, anh đâu có muốn nhận những thằng Henry, Michael làm chủ của mình chứ?

Steve hiểu ngay vấn đề, gật đầu:

– Dĩ nhiên không. Thôi được, cậu đã quyết định như vậy, tôi sẽ thi hành lệnh này. Còn về vấn đề cloning?

Andrew nói ngay:

– Chuyện này tôi sẽ giao cho ông luật sư nhà mình điều đình với World Bio-Cloned Research.

cứu ngay công việc đi. càng sớm càng tốt và cho thực an toàn.

Steve cười:

– Tôi biết việc mà…chuyện cũng không đến nỗi…phiêu lưu lắm đâu, nhưng vấn đề là…

Andrew rất thông minh, hiểu ngay:

– Tôi biết anh muốn nói gì…Hãy tới bác sỉ Thomas của tôi…trình bầy vấn đề để ông ta dàn xếp một cái hợp đồng với bệnh viện này.

Steve đứng lên:

– Cậu còn điều gì cần dặn tôi nữa không? Tôi muốn về để sớm bắt tay vào công việc vì nó rất hấp dẫn tôi…

Andrew vui vẻ:

– Đủ rồi. Tôi mong mọi diễn tiến đều thuận lợi…

– Chúc cậu ngủ ngon. Bye

– Bye.

Sáng sớm hôm sau, ông luật sư  Holly đã đứng cong lưng bên giường Andrew với một thắc mắc to lớn:

– Andrew, cậu bảo tôi lấy hẹn với cái “tổ quỉ” đó làm gì vậy?

Andrew từ từ mở mắt ra, nhìn đôi mắt trợn trừng của ông ta, mỉm cười, khẽ nói:

-“Ông ngồi xuống đi…chúng ta có chuyện phải bàn…

Ông Holly kéo vội ghế, ngồi xuống:

-“Tôi chờ nghe đây, cậu cứ nói đi.”

Andrew hạ thấp giọng:

– Xin ông nghe tôi nói đây…chuyện này rất đứng đắn, và  được  suy nghĩ chính chắn, ông đừng nghĩ đó là ý tưởng điên rồ của một thằng teen.

Ông luật sư  như thấy được vấn đề quan trọng:

– Được, cậu cứ nói đi.

Andrew khẽ cười:

– Ông tới đó…thương thảo một…vụ cloning cho tôi…cho chính tôi.

Ông Holly há hốc miệng vì kinh ngạc. Andrew kịp chặn họng ông ta lại:

– Đừng làm ồn…tôi muốn giữ  kín chuyện này.

Cậu ta bình tĩnh tiếp:

– Tôi vừa được bác sĩ cho biết là tôi sẽ phải mổ óc…để lấy cục máu bầm bên màng não bộ ra…Cuộc giải phẫu thành công hay không…chưa biết chắc được. Tôi có thể “đi luôn” như không. Vì thế, tôi cần phải làm một cái “clone” cho chính tôi. Cái khó nhất là cloning  ký ức…thì chúng tôi đã có phương pháp giải quyết…

Ông Holly khẽ lắc đầu luôn mấy cái, thở dài:

– Thôi được…tôi sẽ điều đình với bọn đó…

Andrew liệu việc như một người trưởng thành có nhiều kinh nghiệm:

– Nhưng…vẫn còn có chỗ…khó khăn…

Ông Holly cau mặt:

– Sao?

– Vấn đề pháp lý của “cái clone” của tôi.

Lúc này ông luật sư  ngẩn  ra  như  một  người chưa từng bao giờ đụng tới luật pháp:

– Vấn đề pháp lý…tôi không hiểu.

– Nghĩa là…trong trường hợp chẳng may con người này của tôi chết đi…thì  luật  pháp  phải  công nhận cái “clone” của tôi là chính tôi vậy.

Ông Holly hừ thành tiếng:

– Cậu nên nhớ…vấn đề cloning con người chưa từng được luật pháp công nhận.

Andrew cười khẽ:

– Ông Holly, ông là một luật sư đại tài mà. Bao năm nay ba tôi tín nhiệm nơi ông…Chính vì nó chưa có căn bản pháp lý, tôi mới cần ông đưa vụ của mình ra trước pháp luật…để hợp thức hoá một vấn đề đã có trong thực tại. Được như vậy … mặc dầu cái “clone” của tôi chưa trưởng thành, nhưng nó sẽ có đủ tư cách như chính tôi trong dạng bào thai…và…tất cả gia sản của tôi sẽ không thể lọt vào tay kẻ khác. Ông nghe rõ không? Tôi không muốn một đứa khốn nạn nào…có quyền thừa hưởng gia tài mà ông gật gù:

– Tôi hiểu…tôi hiểu. Yên tâm, vấn đề cloning cho tới nay chỉ bị ngăn cản bằng việc không cho dùng công khố để phát triển chứ không cấm đoán bằng một…đạo luật khả thi. Nhiều phòng thí nghiệm đã từng ứng dụng nó trong việc ghép mầm sống người sơ sinh, cũng như chưa ai kiểm soát được những thai nhi do cloning mà ra.

– Thế cái “key” của vấn đề?

Ông Holly bật miệng, như tự hỏi:

– Yếu tố DNA?

Andrew reo lên:

– A, trúng phoóc… pháp luật hiện hành bác khước thế nào được…khi cái clone giống người bản chính 100% , kể cả ký ức, dấu  tay  và DNA nữa, ở bất cứ một giai  đoạn nào mà người gọi là “bản chính” đã từng sống qua?

Ông Holly gật đầu lập luận thêm:

– Phải, nếu luật pháp phủ nhận…thì cả hệ thống pháp lý xác quyết nhân thân một người dựa trên dấu tay…và yếu tố DNA từ trước tới nay sẽ sụp đổ hoàn toàn. Điều đó không thể sảy ra được…loạn ngay. Cái clone không phải là một đứa con vì hai cha con cũng không giống nhau về yếu tố DNA và dấu tay… Đây là một vấn đề pháp lý cực kỳ quan trọng, sẽ bùng nổ những cuộc tranh luận vô cùng gây cấn trên toàn thế giới trong tương lai.

Cả hai đang hứng chí thì một cô y tá vào lấy nhiệt độ cho Andrew. Ông Holly lui ra gần cửa sổ, nhìn ra ngoài, hai bàn tay cứ đan vào nhau, bứt rứt. Ông vốn là con người từng trải, thận trọng trong mọi công việc, nhất là vụ lớn như thế này, ảnh hưởng tới sự sống còn của nhà Lee.  Vì thế, khi cô y tá vừa ra khỏi phòng, ông khẽ hắng giọng, rồi ghé sát bên Andrew, nói:

– Cậu Andrew, không phải tôi mang tinh thần tiêu cực trong vụ tranh đấu này. Nhưng để thực sự bảo toàn cho gia sản của cậu, tôi đề nghị thêm một giải pháp phụ… một giải pháp “cổ điển” để phòng hờ.

Andrew lặng yên suy nghĩ, rồi nói:

– Được, xin cho ý kiến.

– Tôi đề nghị là song song với việc cloning, cậu nên làm gấp một thai nhi trong ống nghiệm…Nếu mình chưa thắng…trong vụ tìm tính cách pháp lý cho cái clone…thì ít nhất, tài sản vẫn nằm trong tay…thai nhi thừa kế của cậu.

Ông ta cười thành tiếng:

– Và sau đó…hai “cha con”  cậu vẫn có thể chung sống…để cùng điều hành cơ sở của gia đình Lee…dù…con cậu có thể… lớn tuổi hơn cậu nữa.

Andrew cũng cười theo khi nghĩ điều ông Holly dự đoán nếu xẩy ra:

– Ông muốn nói tới cái “clone” của tôi và thai nhi trong ống nghiệm ấy à? Hừ…con lớn hơn cha! Thực “fantasy”. Nhưng không sao…

Ông Holly đã hiểu câu chuyện và nhiệm vụ của mình một cách bình tĩnh và sáng suốt. Tuy nhiên, khi nhìn con người bị băng bó đầy mình, nằm gọn trong chiếc giường rộng thênh thang…ông không ngờ đó là đứa trẻ vừa bàn luận với mình một câu chuyện lạ lùng nhất từ trước đến nay.

Tiếng Andrew như vang lên từ đâu đâu:

– Ông Holly, ông thông suốt vấn đề rồi chứ…thôi mình chia tay…

Ông luật sư hơi ngỡ ngàng vì hai tiếng “chia tay”, nhưng cũng nói:

– Tôi rất hiểu, cậu cứ yên tâm dưỡng bệnh…Bye!

Andrew không nói thêm gì nữa vì chỉ cần ông ta biết tới đó.

– “Vậy tôi đi đây.” Ông Holly vội vã đi ra.

Andrew nhìn theo, thở  phào nhe nhõm.

Qua hôm sau, tất cả mọi kế hoạch mà ba người toan tính đều tiến triển tốt đẹp, từ chuyện đưa bộ nhớ vi sinh STM vào não bộ của Andrew, sau đó lấy ra, giao cho Steve giữ , tới việc tạo thai nhi trong ống nghiệm và nhất là tiến trình cloning thực sự được bắt đầu. Nhưng giữa khuya hôm kế tiếp, người ta đưa Andrew lên bàn mổ. Trước sự lo lắng của toán bác sĩ điều trị lẫn giải phẫu, Andrew bình tĩnh một cách lạ lùng vì cậu nghĩ tới kế hoạch vẹn toàn của mình.  Dù các toan tính của ba người có được thực hiện toàn hảo dưới những tiến bộ khoa học rất hiện đại, nhưng Andrew đã quên một điều…hết sức quan trọng là…còn một yếu tố quyết định chung cuộc để được gọi là “tái sinh” mà “chẳng ai” có thể cloning tức y sao được…đó là cái “personality tức cái tôi” Andrew!

Nhưng có một điều “cái tôi” rất khó mà kiểm chứng. Nếu “clone” của tôi cứ nhận “là tôi” thì cũng chẳng có ai có thể nói “nó không phải là tôi” vì chỉ có “tôi” mới biết “tôi” có phải là “tôi” hay không. Đó cũng là một điểm pháp lý khác nữa sẽ gây nhiều bão táp!!!

Hai mươi năm sau.

Ngày đó, Andrew thoát chết trong đường tơ kẽ tóc khi qua một cuộc giải phẫu óc.

Sau một thời gian tĩnh dưỡng trong bệnh viện, khi biết chắc chắn mình đã qua khỏi hiểm nguy, Andrew gọi riêng từng người lại, Luật sư  Holly và Steve để ra lệnh phá hủy ngay những gì mà Andrew đã hoạch định trong trường hợp chàng qua đời. Ông Holly phải hủy bào thai trong ống nghiệm và Steve hủy cái phôi thai cloning của Andew. Có điều quan trọng là cả hai đều dối gạt ông chủ. Steve thì đã dấu cái clone tại một nơi bí mật để nghiên cứu thêm, còn ông Holly muốn cứu cái bào thai, mà theo niềm tin của một người Công Giáo thuần thành, việc giết một thai nhi có trọng tội không khác một vụ giết người, nên báo cáo chuyện lấy tinh trùng của Andrew đã không thực hiện kịp trước khi đưa chàng lên bàn mổ. Nhưng thực ra ông đã kịp thời can thiệp bắt họ phải thực hiện trước lúc cuộc giải phẫu bắt đầu mấy phút. Lúc đó, Steeve thực hiện việc thu hồi ký ức của Andrew vào bộ nhớ STM.

Sau khi hoàn toàn bình phục, Andrew ra hãng để thay cha lo mọi việc. Tuy nhiên, những ngày tháng đầu, chàng vẫn phải dựa vào Steve về kỹ thuật và ông Holly về ngoại giao và pháp lý.

Cho tới khi Andrew ngoài ba mươi tuổi, chàng đã điều hành công ty một cách vững vàng và rất thành công trên thương trường. Những bộ nhớ vi sinh STM tuy chưa mở rộng được thị trường, nhưng, nếu có khách mua, thường do những nhà triệu phú hoặc bọn Mafia quốc tế, nên giá bán ra rất cao.

Andrew đã có một luật sư  trẻ lo việc trong sở, nhưng ông Holly vẫn là vị cố vấn đáng tin cậy của Andrew.

Steve thì càng ngày càng bớt quyền hạn theo thời gian lớn lên của Andew…tuy nhiên anh ta cũng được hưởng một số cổ phần quan trọng của công ty. Nhưng không nói ra, Steve càng ngày càng muốn bảo thủ quyền lợi của mình trong hãng…vì nghĩ rằng công lao của mình đóng góp vào sự lớn mạnh của hãng nhiều hơn cả của ông chủ nhỏ. Vì thế, anh ta đã qua mặt Andrew, dùng tiền và thế lực để kéo bè kết cánh được một số nhân viên quan trọng trong hãng. Tuy nhiên Steve rất không khéo trong mối tương quan của anh ta với Andrew bằng cách vâng phục sự chỉ huy của chàng.

Một buổi sáng, Steve mời Andrew đi ăn với anh tại một nhà hàng Sizzler. Trong lúc vui câu chuyện, Steve gợi ý:  headquater

– Andrew à, hãng mình mỗi lúc một bành trướng, tôi nghĩ Andrew phải có một nhân dáng oai vệ bằng cách cậu nên để một bộ râu. Tôi thấy hàm cậu cạo sạch như thế, trông có vẻ trẻ trung quá, so với địa vị ông chủ của hãng mình.

Andrew nghe Steve đề nghị, ngẫm nghĩ cũng thấy lạ tai, nên cười khoái trá:

– Thực thế à Steve. Không sao, mình bắt đầu thử xem sao.

– Mình phải chụp hình treo trong phòng khách,  phòng meeting để khách mình ngắm chơi. Tôi thấy cậu…sống hơi già trước tuổi…

Andrew đã tin tưởng người phụ tá, bây giờ là phó giám đốc của công ty, nên chàng nghĩ tốt về đề nghị của anh ta dù thấy có gì mâu thuẫn trong đó.

Khi bức hình đầu tiên của ông Tổng Giám Đốc được treo lên tường, cả hãng xì xầm bàn tán, ai cũng cho chuyện này là một chuyện nên làm. Trước đây vì mặïc cảm quá trẻ, Andrew ít xuất hiện trong các cuộc ngoại giao kinh doanh, và thường Steve thay chàng. Nay với khuôn mặt, từ bộ râu, mái tóc, thêm cặp kính trắng gọng vàng được săn sóc cẩn thận khiến khi nhìn mình trong gương, Andrew rất vừa ý.  Nhưng  chàng  đâu biết

Mình đang rơi vào cạm bẫy.

Kinh tế Mỹ lúc sau này bị trì trệ do sự cạnh tranh của các quốc gia đang phát triển, nhất là những nước ở Phi Châu, nơi hầu như  không bị đánh thuế và nhất là giá nhân công rất rẻ, rẻ hơn cả các quốc gia trong vùng Á Châu. Ngược lại, giá nhà đất và các phương tiện hạ từng ở vùng này quá cao so với, không những các nước đang phát triển mà ngay cả với một số lớn các tiểu bang của Hoa Kỳ. Vì thế, các hãng xưởng lớn của địa phương tiếp tục di chuyển một phần quan trọng hệ thống sản xuất của hãng tới những vùng nhân công dư thừa, địa ốc rẻ, thuế không có hoặc rất nhẹ để giá thành của sản phẩm hạ thấp mới có thể sống còn.

Vì thế, trong một phiên họp nội bộ, Steve đã đề nghị một kế hoạch đi chuyển hầu hết phần bộ sản xuất của hãng sang La Honda City, một thành phố mới mở của các nhà tài phiệt Nhật Bản bên Mexico, để cắt giảm giá thành của sản phẩm. Andrew thấy chuyện này cũng không có gì mới lạ để phải bàn cãi vì ngay cả các hãng lâu đời như IBM, Intel, Sun họ cũng đã và đang làm chuyện tái phối trí này. Vì thế, một kế hoạch di chuyển được giao cho Steve nghiên cứu và thi hành. Theo đó, chỉ một phần có tính cách hành chánh còn ở lại, hầu như toàn bộ cơ sở đều nằm trong chương trình tái phối trí.

Ngày ra mắt ban giám đốc tại cơ sở mới được tổ chức rất chu đao, vừa để cho nhân viên toàn hãng lên tinh thần, vừa muốn lôi cuốn các cổ đông bỏ thêm tiền vào công ty, và nhất là hấp dẫn các tay tài phiệt trên thế giới khiến giá cổ phần của công ty tăng trên thị trường chứng khoán.

Andrew đã định ngày dùng phi cơ riêng để sang dự ngày khai mạc cơ sở mới. Steve đã sang bên đó từ nhiều ngày trước để chuẩn bị mọi chuyện với ban tham mưu của anh ta.

Trong chương trình phân công, ông Holly sẽ ở lại hãng để thay Andrew trông nom cơ sở chỉ còn là những văn phòng có tính cách hành chánh của cơ sở trong những ngày chàng đi vắng

Andrew đã sẵn sàng để di chuyển. Nhưng đêm trước ngày chàng lên máy bay, Andrew chợt nghĩ đến ông Holly, đến công lao ông đã đóng góp cho hãng và nhất là cho cá nhân chàng, Andrew bỗng thấy không nên để ông “thủ thành” trong dịp cả hãng có chuyện vui. Ông đi vài ngày cũng chẳng có sao, nhất là chàng vừa muốn làm một ngạc nhiên cho ông bằng một buổi tuyên dương công lao của ông đối với công ty cùng “thiên hạ”, trước khi ông sẽ về hưu vào cuối năm. Đây chỉ là ý nghĩ vừa nẩy ra trong trí Andrew về người cộng tác viên mà cha chàng đã nối lại cho chàng, nhất là ông Holly cũng rất xứng đáng để nhận lãnh cái vinh dự đó. Vì thế, dù trời đã khuya, nhưng Andrew vẫn điện thoại cho ông:

– Allô, xin lỗi ông Holly…đã quấy rầy giấc ngủ của ông.

Người già chắc ít ngủ, nên ông Holly trả lời rất nhanh nhẩu:

– Cậu Andew hả, tôi đã ngủ đâu. Có chuyện gì thế?

Andrew cao giọng:

– Tôi nghĩ ở đây cũng chẳng có chuyện gì quan trọng, nếu ông sang bên đó với tôi…vài bữa.

Ông Holly cười:

– Mai tôi chưa đi được đâu. Cậu cứ đi trước đi…còn tới cả tuần nữa mới tới ngày khai mạc cơ mà. Tôi có chuyện cần phải làm vào mấy ngày sắp tới…xong chuyện, tôi sẽ sang đó trước hôm khai mạc, có thể là chuyến buổi chiều. Chúc cậu đi vui vẻ nhé.

Andrew ngập ngừng, giọng khẩn khoản:

– Tôi muốn dành một sự ngạc nhiên cho ông ở bên đó…thế nào ông cũng sang nhé.

Ông Holly cũng vui, cười:

– Vâng, cậu cứ đi trước, tôi hứa sẽ sang sau.

Thế là sáng sớm hôm sau, Andrew lên chiếc máy bay riêng, rời phi trường quốc tế San Jose lúc sáu giờ sáng, mùa đông ngày ngắn đêm dài, nên trời còn mờ sương, thấp thoáng ánh đèn vàng đậm…chạy dài trên những con đường còn vắng vẻ.

Ông Holly thường giữ đúng lời hứa. Ông có mặt trên chuyến phi cơ hạ cánh xuống La Honda City vào đúng bảy giờ mười lăm phút.

Rời máy bay, đến khu lấy hành lý, luật sư  Holly không thấy ai ra đón mình. Đợi cả giờ tại phi trường, cuối cùng ông gọi taxi để về trụ sở của hãng. Ông nghĩ chắc Andew quá bận việc sửa soạn cho ngày ra mắt nên quên cả lời hứa của ông. Khu cơ xưởng của hãng chiếm cả một “bloc” phố. Kiến trúc lớn nhỏ nằm san sát bên nhau, dưới những cột đèn sáng rực rỡ.

Sự xuất hiện của ông Holly khiến Steve hơi lúng túng. Anh ta đón ông bằng một cái bắt tay, với ánh mắt đầy thắc mắc:

– Có việc khẩn cấp à, ông luật sư?

Không thấy Andrew trong phòng khách, ông Holly ngạc nhiên vì sự có mặt của ông không được Andrew thông báo cho Steve, nên dĩ  nhiên chẳng có ai ra đón  ông  ngoài phi trường.

Nhìn đôi mắt của Steve, ông Holly ngập ngừng, đáp:

– Ồ không có gì quan trọng hết…tôi muốn có mặt để chúc mừng Andrew thôi. Cậu ấy đâu rồi Steve nhỉ?

Mắt Steve rời ông Holly, nhìn ra xa, hơi cau mày:

– Cậu ấy có việc ra ngoài…Ông có thể về nhà nghỉ, mai mình sẽ gặp Andrew nhé.

Trước khi được đưa về tòa nhà chung cư của hãng, ông Holly được người Phó Giám Đốc đưa thăm sơ qua các khu của cơ sở. Thực ngăn nắp, được thiết kế và trang bị rất tốn kém. Nhân viên đi lại tấp nập, nhưng phần đông đều là những người mới tuyển, nên ông chỉ gặp được vài người quen cũ mà thôi.

Sau một bữa ăn nhẹ với Steve, ông Holly được xe hãng đưa về một ngôi biệt thự để nghỉ ngơi.

Người quản gia đưa ông về phòng riêng. Ông Holly có cho anh một chút tiền, rồi hỏi:

– Ông Tổng Giám Đốc ở phòng nào nhỉ?

Anh ta nhanh miệng, lắc đầu:

– Thưa, đây là nhà ông Phó Giám Đốc. Ông Tổng Giám Đốc ở nhà khác, cách đây chừng vài dậm.

Ông Holly gật đầu:

– Thế đó.

Như  vậy, tối nay, ông không có dịp gặp Andrew.

Sau khi người quản gia ra ngoài, nhẹ tay khép cửa phòng, ông Holly dọn dẹp loanh quanh, treo quần áo vào tủ, lấy khăn và quần áo lót vào phòng tắm. Ông thấy không còn chuyện gì khác phải làm hơn việc lên giường đi ngủ.

Không biết đêm qua, Steve về nhà lúc nào. Nhưng sáng hôm sau, chưa tới bẩy giờ luật sư Holly đã bị đánh thực và mời ăn điểm tâm với hai vị Tổng, Phó Giám Đốc tại câu lạc bộ của hãng.

Tám giờ, ông Holly bước vào phòng đại sảnh của câu lạc bộ đã thấy người ra kẻ vào tấp nập.

Trong một căn phòng đặc biệt dành cho các VIP, tức những nhân vật rất quan trọng, ông Holly được mọi người đón tiếp niềm nở.

Andew ngồi đầu bàn bên kia, trong khi ông Holly ngồi gần đầu bàn này, bên cạnh Steve. Vì thế, chỉ một cái bắt tay và trao đổi một vài câu xã giao, ông Holly đã được hướng dẫn tới chỗ ngồi. Trong bàn ăn, không quá mười người, đều là những nhân rất quan trọng của công ty.

Suốt trong bữa ăn, luật sư Holly thắc mắc về ánh mắt ngỡ ngàng qua chiếc kính gọng vàng của Andew, cái bắt tay hời hợt, không giống như trước đây, Andrew thường nắm tay người rất chặt, lắc ít nhất ba cái với nụ cuời trên môi. Andew có vẻ bị bệnh. Có thể lắm, vì những ngày này, ở địa vị của cậu ta, mệt là cái chắc thôi.

Trái lại, Steve chủ động mọi chuyện. Anh ta trình bầy trước ban tham mưu ngày ra mắt của công ty vào chiều nay, kể ra một lô các khách danh dự, từ ông Tổng trưởng Công Nghệ của chính phủ địa phương, bà Mayor của  thành phố, đại diện các  công  ty, những  hãng  bảo hiểm cỡ lớn của Mỹ.

Sau bữa ăn sáng, luật sư  Holly không được coi như một thành viên của công ty, nhưng như một khách quý trong số quan khách phương xa, tham gia cuộc đi thăm các danh lam, thắng cảnh quanh vùng. Vì thế, ông không có dịp gặp riêng với Andrew cho tới lúc khai mạc đại hội.

Luật sư Holly ngồi trong hàng ghế quan khách, ông không vui, nhưng lại nghĩ có lẽ đây là cách đối xử đặc biệt của Andew mà cậu ta đã nói là dành cho ông một sự ngạc nhiên chăng. Quả thực ông Holly ngạc nhiên, nhưng ông không nghĩ đó là một ân huệ mà ông mong muốn. Và, theo ông, trong bao năm qua, Andrew cũng chẳng bao giờ đối xử với ông như người ngoài, và cậu ta cũng biết điều đó rất vừa lòng ông. Thế sao bây giờ lại xảy ra cớ sự này?

Cho đến khi Andew lên đọc diễn văn chào mừng quan khách thì ông Holly sửng sốt và cảm thấy vô cùng lo lắng. Giọng của Andew cao hơn mọi khi, lại chậm rải, buồn tẻ. Trước đây,  Andrew khác hẳn. Dù cậu còn trẻ so với địa vị của mình, nhưng Andrew rất tự tin trong mọi trường hợp nên, dành chủ động trong mọi hoàn cảnh, luôn luôn tạo nên sinh khí mỗi khi có sự hiện diện của cậu ta. Vì thế, khi thấy sự thay đổi vừa đột ngột, vừa không tốt khiến cho ông Holly ái ngại cho Andew. Ông nghĩ tới những chuyện con người bị khống chế bởi tay chân bằng cách bị cho uống những thứ  độc dược để mất hết tự chủ và bị người khác sai khiến. Nỗi sợ hãi càng tăng khi ông Holly thấy trong suốt buổi lễ, ông đã không có một sự ngạc nhiên nào như Andew nói dành cho ông vào đêm trước ngày cậu ta sang đây, ngược lại, hầu như  Andrew không hề để ý cả đến sự có mặt của ông nữa.

Cuộc tiếp tân rất thành công, nhưng người nổi nhất đêm nay không phải là Andrew mà là Steve. Andrew về phòng làm việc để tiếp mấy nhân vật quan trọng địa phương, trong khi Steve hội họp với các tay đại tư bản và kỹ thuật cao trong phòng họp sang trọng.

Ông Holly đã từng yêu cầu được gặp Andrew, nhưng bị từ chối, lý do vì sự có mặt của ông ở đây quá đột ngột, thời khóa biểu tiếp quan khách của ông Tổng Giám đốc đã định từ nhiều ngày trước, nên không thể thay đổi được. Một số nhân viên cũ bên Cali sang cũng không có thì giờ tiếp chuyện ông, vì ngay cả ở bên nhà, ông cũng không mấy gần gũi với họ. Cuối cùng, ông luật sư thấy mình vừa dư thừa, vừa lẻ loi, chưa muốn nói là hơi bẽ bàng, nên chẳng còn muốn ở lại đây lâu hơn. Một cố gắng cuối cùng, ông nhờ nhân viên tiếp tân thông báo việc ra về của ông với Andrew. Ông hy vọng lời chào từ biệt của ông khiến Andrew sẽ thu xếp để hai người gặp nhau, vì cậu ta không thể…đối xử với ông lạnh nhạt đến như thế. Nhưng ông Holly đã lên máy bay với nỗi tuyệt vọng vì Andrw không làm như ông nghĩ, mà cậu ta chỉ gửi lời chúc ông ra về bình an mà thôi.

Với kinh nghiệm của hơn ba mươi năm trong nghề, ông Holly tin chắc sự việc xảy ra bên La Honda City đã có gì bất thường, nhất là sự bất thường này tai hại cho sự nghiệp và cơ đồ của Andew. Và người đang gây thanh thế để khuynh loát địa vị của Andew không ai khác hơn  là Steve.

Người ra phi trường đón luật sư  Holly là một thanh niên. Vóc dáng cậu này mảnh khảnh, nhưng lại có đôi mắt thực sáng, tỏa ra vẻ thông minh xuất chúng, không khác người tuổi trẻ tài cao Tổng Giám Đốc của đại công ty Lee & Son LTD.

Khi vừa nhìn thấy thanh niên, ông Holly bàng hoàng tới rịn mồ hôi trán. Có thể nào như thế? Vì nếu ông có thể bí mật giữ lại được cái bào thai trong ống nghiệm của Andrew, nuôi lớn lên thành một thanh niên tuấn tú như thế thì ai ngăn cấm Steve qua mặt mọi người, giữ lại cái “clone” của Andew? Và biết đâu, Andew đang sinh hoạt tại cơ sở của hãng bên La Honda City lại chẳng phải là Andrew mà chỉ là cái “clone” của cậu ta dưới bàn tay điều khiển của Steve? Ông Holly liên tưởng tới cái kế hoạch của Steve về việc để râu của Andrew trước đây…Nhờ bộ râu này, người ta khó phân biệt được sự già trẻ giữa hai khuôn mặt của Andrew và cái clone của cậu ta. Vậy…Andew hiện tại ở đâu? Như vậy số phận của người Tổng Giám Đốc công ty Lee & Sang LTD đang lâm nguy…! Vì nếu không có mặt của Andrew mà mọi người đều tin cái “clone” của Andrew chính là cậu ta thì cuộc tranh chấp cũng rất gay go. Chỉ còn một yếu tố duy nhất để lật tẩy cái “clone” này là số tuổi của hai người. Muốn thế, ông Holly phải đưa nội vụ ra trước tòa,  nhưng ông sẽ gặp khó khăn về thủ tục là vì không có quyền lợi gì để hành xử cái quyền đó. Cuối cùng, chỉ có hai giải pháp. Một là khám phá ra vụ Andrew bị hãm hại, tức là cậu ta bị bọn Steve thủ tiêu trên đường tới La Honda City, và chính Andrew Lee Jr ra mặt tố cáo. Vì Steve không hề biết Andrew có một đứa con trong ống nghiệm, và chính yếu tố này khiến anh ta ỷ y vào sự khôn ngoan của mình mà để lộ ra nhiều sơ hở khiến ông Holly có thể ra tay.

Cho đến khi thông báo nội bộ của công ty nói Andrew sẽ đưa Headquarter của hãng về bên La Honda City và cậu ta không trở về làm việc bên Cali nữa. Một phó giám đốc thứ hai bên cạnh Steve sẽ về điều khiển cơ quan hành chánh của hãng ở Cali, thì ông Holly tin chắc sự nghi ngờ của mình đã là sự thực. Ông âm thầm mướn thám tử sang bên La Honda City điều tra.

Ông Holly tự hứa là ở bất cứ hoàn cảnh nào, ông cũng sẽ ra sức bảo vệ Andrew, và không thể để công ty của nhà Lee mất vào tay kẻ khác, nhất là Steve. Điều quan trọng hàng đầu bây giờ là số phận của Andrew.

Những điều tra viên được cử sang La Honda City đều là các người có có khả năng nghề nghiệp rất cao. Vì thế, không lâu, ông Holly đã rất bàng hoàng khi được báo cáo, dù ông đã từng nghĩ tới một sự bất hạnh nhất này, là Andrew đã không không hề bước chân xuống phi trường thành phố này, dù chuyến phi cơ tư nhân của hãng đã tới đây đúng giờ. Vậy Andrew đã thực sự mất tích. Andrew hiện tại không phải là Andrew.

Ông Holly biết con người đó chính là cái clone tức bản y-sao của Andrew, với tất cả những tính chất “sinh học” tuyệt đối giống hệt Andrew, kể cả hình dáng cùng ba yếu tố căn bản của con người là DNA, dấu tay và ký ức, riêng ký ức chính là những gì đã được thu lại từ khối óc của Andrw bằng cái chíp STM do chính hãng nhà sản xuất, mà người đứng đầu chương trình nghiên cứu này chính là Steve. Cái sơ hở duy nhất của Steve là hắn đã không thu lại những ký ức trong những ngày cuối cùng của Andrew ở lại Cali, nhất là cuộc nói chuyện của Andrew với ông một đêm trước khi Andrew sang bên đó. Điều này ông Holly đã hiểu và làm sáng tỏ về thái độ lạnh nhạt và không hề biết đến lời hứa của Andrew với ông vào đêm trước ngày Andrew lên đường.   Tuy trên Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ cho tới nay chưa có một phán quyết nào xác định Y- sao và người được y-sao là một trên phương diện pháp lý. Nhưng tại các tòa dưới, đã có những bản án ở một số tiểu bang cấp tiến đã công nhận điều này, hoặc ít nhất các “clone” là một thừa kế viên đứng trước cả con ruột của người được y-sao. Ông Holly lúc nào cũng vô cùng lo lắng cho số phận của ông chủ nhỏ của ông.

Với tình thế này, nếu có sự tranh chấp giữa Andew Jr và Andrw y-sao, phần thắng có thể sẽ nghiêng về bọn Steve, và cơ nghiệp của dòng họ Lee sẽ lần lượt sang tay kẻ khác nếu.

Và hai việc quan trọng nhất mà ông Holly phải làm tức khắc là hợp thức hóa tình trạng nhân thân của Andrew Lee Jr bằng một bản án xác nhận tại tòa và chứng minh sự mất tích của Andrew để dồn bọn Steve vào thế bị cáo một cuộc thủ tiêu. Nếu sự thực phải làm như vậy, tuy tài sản của nhà Lee không rơi vào tay kẻ gian, nhưng một sự mất mát to lớn là Andrew, một ông chủ nhỏ, một người bạn thiết của ông không còn nữa.

Que sera sera? Điều này đã khiến…những sợi tóc đen cuối cùng của ông Holly đã trở thành trắng hết, chỉ nội trong một đêm.

Hồ Linh

(Trích từ tác phẩm Nhan Sắc Mấy Độ)

Advertisements

TẤM THẺ BÀI KHÔNG TÊN***

HỒ LINH

 

TẤM THẺ BÀI KHÔNG TÊN

 

Người đàn ông tay mân mê hai tấm thẻ bài làm chúng cọ sát với nhau kêu lách cách, mắt nhìn ra xa ngoài biển, đêm tối chập chùng. Ngay dưới chân, sóng vỗ vô bờ đá rì rào bất tận, bọt nước bắn tung lên tới gần mỏm đá, nơi chúng tôi đang ngồi.

Đàng sau là trại tỵ nạn. Trong những căn lều thô sơ, chỉ đủ che nắng, che mưa, lúc này mọi người đang say sưa ngủ với cái mộng trời mới, đất mới. Mỗi người ra đi, đều bỏ lại sau lưng tất cả những gì mình đã sẵn có, lớn, nhỏ khác nhau, nhưng nếu so sánh với hiện tại, thì đó vẫn là một sản nghiệp đáng giá. Có ở trong hoàn cảnh khốn khó như thế, người ta mới thấm thía hai chữ Tự Do!

Riêng người đàn ông này, tôi biết rõ là ông ta đã đổi cảnh thiếu thốn này bằng một gia tài khiến bất cứ ai biết cũng phải thèm thuồng. Tòa villa sang trọng trên đường Duy Tân, chiếc xe du lịch Toyota đi chưa quá một năm…với đặc quyền đặc lợi của một sĩ quan cao cấp trong quân đội nhân dân!

Từ lúc xuống tầu cho đến khi vào được trại tị nạn, hầu như không ai biết lý lịch của ông ta và gia đình một vợ hai con. Ông ta đã trả giá cho mỗi người để được xuống tầu bằng năm cây, không một tiếng mặc cả.

Khi ra đến ngoài khơi, gia đình ông có lẽ chưa một lần đi biển, nên cả bốn người đều bị say sóng, nôn mửa, nằm vật nằm vã. Tôi là lính hải quân, nên hơn mười ngày lên đênh trên biển, vẫn tỉnh queo. Vì thế, thấy mấy tay nải của ông ta, thiếu sự trông coi, có thể bị mất, nên tôi đã gìn giữ giùm cho đến lúc tất cả mọi người đến được đất liền.

Rồi không lâu, có người phát giác ra ông ta là một sĩ quan của “quân đội nhân dân”, ai cũng xa lánh và nghi ngờ ông được bọn Cộng sản gài để ra nước ngoài hoạt động cho chúng. Riêng tôi, ra đi một thân một mình…ba mẹ tôi đã qua đời, anh em không có nên rất ao ước được sống cái cảnh gia đình xum họp. Vì thế, thấy mấy người nhà ông ta bị nghi kỵ, tôi bỗng thương hại, nên đỡ đần việc nọ, việc kia. Nhờ đó, tôi nhận ra họ cũng…có tình người, chứ không hẳn bị Cộng sản uốn nắn đễ trở nên một cái máy bất nhân. Tình thân nảy sinh từ đó và không lâu, chúng tôi trở nên đôi bạn vong niên. Nhưng phải đợi tới đêm nay, ông mới kể cho nghe chuyện tấm thẻ bài không tên mà ông thường đeo ở cổ.

Quả thực một sĩ quan quân đội Cộng sản đeo chiếc thẻ bài…của lính “ngụy” thì thực là một chuyện lạ.

Tiếng gió u u, tiếng sóng biển dạt dào làm giọng ông vốn đã trầm, nên càng khó nghe hơn.

– Tôi biết cậu rất thắc mắc về tấm thẻ bài này, nhưng…tôi chưa có dịp ngồi tâm sự với cậu…như đêm nay…tôi nhớ, chính một đêm không trăng như  thế này cách đây đúng năm năm…

Phải là chuyện quan trọng người ta mới có thể nhớ ngày tháng tường tận như thế. Ông ngưng lại một chút, rồi thở dài, tiếp:

– Ngày chúng tôi vào tiếp thu Saigon của…cậu, trên những trục lộ chính, quân đội nhân dân được người của thủ đô miền Nam đón tiếp rất là nồng hậu. Lúc đó, chúng tôi nghĩ rằng, việc tiến chiếm miền Nam đúng là một …chiến công vĩ đại, đúng là kịp thời giải phóng nhân dân miền Nam khỏi ách thống trị ác độc của bọn Mỹ-Ngụy.

Ông ngừng lại, rồi nhìn tôi, tiếp:

– Tođi thi hành nghĩa vú quađn sự cũng vào thời baỉng tuoơi caơu bađy giờ. Hêt ở núi đoăi Vieơt Baĩc, tới rừng già Ai Lao, roăi U Minh, từ câp baơc nhỏ tới chư huy những đơn vị lớn, suôt đời binh nghieơp chư biêt tuađn leơnh tređn, nghe những ođng chính ụy tác đoơng tinh thaăn…đeơ chiên đaẫu tôt cho sự nghieơp cách máng cụa nhađn dađn. Vì thê, tuy thây sự trù phú cụa Saigon cũng lây làm lá vì có cái gì đó khác với những đieău mình được biêt. Nhưng khi thây đoăng bào đón tiêp, tođi cũng nghĩ là mình đã đem lái hánh phúc thực sự cho đoăng bào. Roăi tới những chiên dịch chưnh trang thành phô, chiên dịch dép

bỏ những nghĩa trang, nhất là nghĩa trang của lính ngụy trên đường xa lộ Saigon-Biên hòa. Đơn vị của tôi đã thanh toán mục tiêu không tới một tuần lễ. Cái tượng lính ngụy ngồi “gác” ở cổng nghĩa địa, cũng bị chúng tôi kéo xuống. Có những anh em bộ đội vì muốn trả thù cho dù với một bức tượng vô tri, nên đã dùng búa tạ, cưa điện cắt xẻ…chân, tay tên lính đó nữa.

Trời về khuya, gió biển đã bắt đầu lạnh. Ông ngưng kể, lấy thuốc lá đưa tôi một điếu, rồi bật quẹt mồi lửa cho cả hai. Sau một hơi thuốc hãm khói, thở ra đàng mũi, rồi khẽ lắc đầu, ông tiếp:

– Hết chiến tranh, chúng tôi được thư thả với một đời sống sung sướng hơn lúc trước rất nhiều. Tôi được đưa vợ con từ Bắc vào sống tại Saigon, được chia một trong những nhà của Ngụy quân để lại. Đơn vị tôi chỉ huy làm vòng đai an ninh cho phi trường Biên Hòa nên tôi thường về nhà vào những ngày thứ bẩy, tối chủ nhật trở lại đơn vị.

Nhưng, sau thời gian hứng khởi vì chiến thắng, lúc bắt đầu cuộc sống bình thường, tôi mới khám phá ra một điều…là nhân dân miền Nam không ưa chúng tôi như  chúng tôi đã tưởng. Công cuộc giải phóng miền Nam đã từng làm chúng tôi hãnh diện, hình như biến thành nỗi bất hạnh của họ. Và, một điều buồn hơn hết là nhân dân miền Nam đã không quí mến quân đội nhân dân…bằng những tên lính ngụy thời trước. Trong câu chuyện, nhiều khi vô tình, họ hay khoe “các ông ấy thế này…các ông ấy thế kia” với một giọng rất là thân thương. Nhiều đêm, tôi suy nghĩ không hiểu vì sao những tên “lính ngụy ác ôn” kia lại được họ thương mến như vậy. Những khi hỏi họ về tội ác của Mỹ- Ngụy, họ kể ra vanh vách, không khác gì các chính trị viên của đơn vị nói với anh em quân đội. Hỏi có thù lính ngụy không thì họ vẫn trả lời là rất thù hận,

nhưng tình cảm của họ tuy không nói ra lại dành cho những bọn thù địch đó rất sâu đậm.”

Ông ngưng kể, hít liên tiếp mấy hơi thưốc, rồi búng mẩu thuốc giở ra xa. Đầu đỏ của điếu thuốc mất hút trong bóng đêm chập chùng. Ông đốt tiếp điếu khác, lại “rít” một hơi dài, rồi tiếp:

– Cho đến…một đêm kia.

Ông ta hỏi một câu chẳng dính dáng gì tới câu chuyện đang kể:

– Cậu có đạo không?

– Cháu theo Công giáo.

Ông gật gật đầu:

-“Đêm thứ bẩy đó, như  thường lệ, tôi từ Biên Hòa về Saigon, nhưng thay vì dùng xe díp như mọi khi, lần này tôi lái chiếc xe Honda mới mua của một người quen trên Biên Hòa, đem về cho đứa con gái…mới lên lớp mười. Nhưng không may, mới vào xa lộ được dăm phút thì trời đổ mưa. Hừ mưa Saigon, cậu biết rồi chứ gì, đến như  anh du kích công đồn. Trời mưa tối đen như mực, thỉnh thoảng mới có một chiếc xe đi ngược chiều, chiếu đèn chói cả mặt.”

– Sao bác không “đụn” ở đâu đợi hết mưa hãy đi?

Ông lắc đầu:

– Hai bên xa lộ lúc đó đâu có nhà cửa gì. Tôi cũng cố giương mắt nhìn hai bên đường nhưng không  thấy

cố giương mắt nhìn hai bên đường nhưng không thấy một ánh đèn nào của một khu xóm.

Ông ngưng lại, hơi rùng mình:

– Không thấy nhà nhưng lại thấy mình đang đi qua…

– …?

Ông gật đầu như nói một mình:

– “Tôi vừa nhận thấy mình đang đi qua cái nghĩa trang của bọn “lính ngụy’. Nhớ lại chính mình đã tham gia vào cái chiến dịch triệt hạ…những cái mả này…thì bất chợt xe tôi cán vào một vật gì đó khiến xe trượt bánh, quay mấy vòng…hất tôi xuống đường một cái như trời giáng. Tay phải tôi gẫy quặt khi đập xuống mặt đường. Tôi như ngất đi…mấy giây, thấy máu từ cánh tay, từ trán chảy ra âm ấm ngấm vào người. Mưa vẫn to, tôi cố gượng dậy, nhưng không nổi. Lúc đó, tôi nghĩ…nếu cứ nằm ở đây, vết thương tuy không chí tử, nhưng không cầm được máu thì cũng sẽ chết vì mất máu thôi.”

Ông im lặng một chút, như muốn câu chuyện thấm vào người nghe, rồi tiếp:

– “Giữa lúc đó, bất chợt  bên kia đường lấp ló ánh đèn. Rồi không lâu, ánh đèn đó chập chờn, lắc lư tiến ra xa lộ. Tôi bừng lên hy vọng được cứu sống.  Đúng như mong ước, càng lúc, ánh đèn càng tới gần. Tay trái nắm chặt cánh tay phải, tôi ngước đầu lên nhìn sang bên kia đường, nhận ra một người đang xách trên tay…một cái đèn chai. Khi người đó đến vừa tầm mắt, tôi mới nghĩ ra tại sao ánh đèn chao đảo nhiều như vậy. Hóa ra vì người tới cứu tôi là một người tàng tật. Nửa thân dưới được chiếu sáng, tôi nhận ra ông ta mặc chiếc quần nhà binh, cụt một chân nên phải đi nạng, một ống quần thõng xuống dài tới sát đất. Dù gì đi nữa, nếu ông ta không cứu được tôi thì cũng có thể kiếm người lại giúp.

Lòng tôi thực hồi hộp.

Tiếng nạng gỗ gõ xuống mặt đường, tôi nghe rất rõ. Rồi cuối cùng, người đó cũng đến sát bên tôi. Không nói một lời, ông ta móc cái đèn chai vào thang cái nạng, rồi quì một gối xuống, một tay luồn ngang ngực tôi, nhấc bổng người tôi lên một cách rất nhẹ nhàng. Không một hơi thở mệt nhọc, người đó thoăn thoắt đưa tôi qua xa lộ, rồi đi vào một con đường mòn. Không bao xa, tôi thấy được đưa vào một nơi không còn mưa rơi. Trong lòng tôi cũng yên tâm và nghĩ rằng chắc mình đang được một người nghèo khó cứu về nơi tạm trú của anh ta vì lòng nhân từ  thường chỉ có ở những con người thanh bạch, họ là tuyệt đại quần chúng thuộc gia đình cách mạng, khác với bọn trọc phú hoặc ngụy quân ngụy quyền chỉ quen ức hiếp bóc lột nhân dân.

“Đang nghĩ lan man thì tôi được đặt nằm trên một cái ổ…không bằng rơm mà bằng lá khô. Tôi ngửi thấy mùi khuynh diệp là loại cây lớn được trồng trong cái nghĩa trang của “lính ngụy”. Bên ngoài, tiếng mưa rơi vẫn còn nặng hạt, nghe rào rào chung quanh.”

“Từ đầu đến giờ, người cứu tôi không hé miệng, nhưng tôi không thể không nói lời cảm ơn, nên khẽ nói:

– Cám ơn…đồng chí…đã cứu…

Lúc nói, tôi ráng nhìn lên, để thấy người đó cho rõ,

nhưng tôi chưa nói hết câu thì một giọng  khàn  khàn, như gió thoảng bên tai:

– Tôi hổng có phải là đồng chí của anh.

Tiếng cười khẽ rít trong miệng:

– Nhưng đã thấy anh cái ngày anh dẫn các đồng chí tới đây.

Tôi đang phân vân vì câu nói ấy, thì ông ta tiếp:

– Nhưng…tôi vẫn giúp anh.

Câu nói càng khó hiểu. Lúc đó tôi nghĩ cứ được cứu đã, còn những gì về sau sẽ tính.

“Tôi vẫn không nhìn rõ mặt, nhưng một khám phá nữa làm tôi ngạc nhiên vì khi lau vết thương cho tôi, tôi thấy tay đặt lên nạng bị cụt tới gần khuỷu. Tuy nhiên, không phải vì thế mà ông ta không làm được việc.

“Vết thương trên đầu đã được băng lại. Tới cái tay gẫy, ông ta dùng giây, buộc chặt cánh tay gần nách để máu đỡ chảy, rồi nói:

– Anh phải chịu đau một chút vì cánh tay này đã bị trật xương rồi, tôi lấy lại, rồi mới băng được.

“Nói xong, một chân ông ta giữ bên trên khuỷu tay, tay kia cầm cổ tay tôi kéo thực mạnh. Trời, đau không thể tả được. Tôi bắt phải hét lên…rồi ngất đi.

…Lúc trời sáng”

Ông ngưng lại vì đã nói một mạch câu chuyện. Tay ông giữ tấm thẻ bài đong đưa trước mặt, như đang ngắm một báu vật, rồi hất mạnh, chụp nó trong tay, quay sang tôi, nói:

– Cậu có thể tưởng tượng lúc tỉnh dậy, tôi thấy mình ở đâu không?

Tôi thấy lờ mờ ý ông ta nhưng chưa kịp đáp thì ông đã tiếp:

– Hừ, thực không thể ngờ, vì tôi thấy mình đang nằm bên một vật như là một tảng xi măng trơn và lạnh, và được che bằng một tấm mộ bia phải, tấm mộ bia của ngụy quân.

“Tôi chỗi dậy, người không đến nỗi đau lắm, chui ra khỏi nơi trú ẩn. Nắng đã lên, cảnh hoang tàn của những mộ phần bị khai quật còn ngổn ngang gạch đá chung quang đấy, chiếc xe Honda của tôi còn nguyên như chưa hề bị té. Và lạ lùng nhất làø cái vật như tảng xi-măng đó chính là bức tượng người “lính ngụy” khi trước được dựng trước cổng  nghĩa trang, đã bị chúng tôi lôi xuống, cưa một chân, đập vỡ một tay…không khác những khuyết tật của người ân nhân của tôi đêm qua!”

Nghe đến đây, tôi giật mình

– Bác nói…bức tượng Tiếc Thương?

Ông lắc đầu:

– Tôi không biết…nhưng chắc như vậy. Tôi sờ lên đầu, viết thương tuy không băng bó gì nhưng gần như không còn đau. Đến cái tay mới kỳ diệu, vết thương như đã ăn da non và không còn cảm thấy là bị trật xương gì cả và…

Tôi lắng tai để nghe một cái gì đó…mà người kể chuyện hơi ngưng lại để gây sự chú ý hơn của người nghe.

Đúng như thế, ông khẽ thở dài:

– Và cậu biết không cái dây cột tay tôi đêm qua để cầm máu chính là dây đeo của cái thẻ bài này!

Tôi buột miệng:

– Của ai?

Tôi hỏi thế vì mỗi thẻ bài có khắc tên của người đeo nó. Nếu chẳng may người lính bị tử trận, nhờ đó người ta mới biết được danh tính.

Ông ta không trả lời ngay, chìa tấm thẻ bài ra, đưa cho tôi, rồi nói:

– Cậu sờ xem có đọc được tên người đó không.

Trong đêm, tôi cũng biết chắc ông đang nhìn tôi đăm đăm.

Tôi đặt tay lên miếng kim loại âm ấm vì nằm trong lòng tay ông ta, thấy cả hai mặt nhẵn thín, không khắc tên. Cuối cùng tôi nói:

– Không có tên…chắc là một cái thẻ bán ngoài chợ.

Nhưng ông ta lắc đầu:

– Tại cậu không biết  đó thôi, tôi tin chắc là tấm thẻ bài này là của bức..tượng đó, bức tượng đã hiện ra…để cứu mạng tôi đêm trước!

Ông đốt thêm điếu thuốc trong khi lòng tôi phân vân vì lời ông vừa nói.

Sau mấy hơi thuốc liên tiếp, ông yên lặng, hơi cúi đầu, như ngắm cái thẻ bài trong đêm, rồi khẽ nói:

– Tôi tin như thế. Nhưng điều quan trọng là từ ngày đó, tôi đã hiểu và hết thắc mắc vì sao…người dân miền Nam đã hết lòng thương tiếc những người lính Cộng Hòa của họ. Những người lính nàyï rất khác chúng tôi…ở lòng độ lượng và nhân lành. Tôi đã được cứu cũng nhờ cái tinh thần bác ái đó.

Ông rít thêm một hơi dài nữa trước khi vất mẩu thuốc xuống biển:

– Đó là lý do khiến tôi quyết định đưa gia đình tôi ra đi…!

Sóng vỗ, gió biển ào ào cũng không át nổi tiếng của ông ta và tôi đã nghe được tới lời cuối cùng của câu chuyện cái thẻ bài không tên đó.

HỒ LINH

RÙA THẦN- trích từ Hà Nội Ảo

Hồ Linh

               

                          RÙA THẦN

Hà Nội.

Thực không còn gì để thương để nhớ khi sắp lại rời xa. Ba hôm rồi, Sinh mới vỡ lẽ ra rằng chàng là kẻ lạ mặt ở thành phố này. Một nhà cao tầng được xây trùm lên khu phố xưa khiến nhà cũ của gia đình chàng không còn vết tích. Nhiều đường phố đã đổi tên. Nhiều di tích lịch sử bị phá hủy hoặc biến hình biến sắc.

Hai mươi năm ở miền Nam, ba mươi năm sống đời tỵ nạn nơi xứ người, lúc nào lòng Sinh cũng hướng về Hà Nội như một nơi thân yêu, chốn quê hương không thể cắt rời. Được sinh ra ở đây, rồi thời trẻ dại, tuổi niên thiếu với bao kỷ niệm êm đềm. Những con đường, những góc phố còn đầy ắp những hình ảnh tuy cũ kỹ nhưng mỗi khi nghĩ tới là không khỏi nuối tiếc. Cảnh cũ đó, nhưng thân nhân thì không còn đến một người, chẳng khác gì Từ Thức như kẻ xa lạ trở lại quê nhà sau một thời gian ngắn lạc nơi tiên cảnh. Một nỗi trống trải vô cùng lớn lao đến sợ hãi khi Sinh chợt thấy rằng ở giữa một thành phố với hơn ba triệu cư dân mà mình không quen một ai, quanh đây lại như có đôi mắt sáng quắc của dã thú âm thầm rình rập chàng với tất cả hiểm nguy. Chúng là bọn du đãng, chuyền nghề theo dõi “con mồi”, chặn ngang người ta ở nơi nào đó để trấn lột, một tên nghiện ngập đói thuốc giết người chỉ vì vài ba đô la hoặc một tên “cò” chạy việc chưa ra tiền, anh xe ôm nhiều lòng tham, một viên chức lớn hay nhỏ mà hối lộ là lẽ sống, được dịp cũng không bỏ lỡ cơ hội ra tay. Và nhiều nhiều nữa, không nói trước được, vì chỉ khi xẩy ra rồi người ta mới hỡi ôi thôi, trong đó không còn lẽ phải, không còn nhân nghĩa, không còn tình thương kể cả tình thương gia đình thiêng liêng. Đó là hình ảnh giữa thanh thiên bạch nhật của cái xã hội mới này, được phản ảnh hàng ngày trên báo chí địa phương.

Trời tối không sợ ai nhìn thấy hay nhờ không khí về đêm đã bớt ô nhiễm mà các khẩu trang không còn đeo trên đường phố, Hà Nội phơi bầy bộ mặt lịch sử của những kẻ thời cơ chiếm ngụ thành đô, khiến các người chủ thực sự phải lưu vong ngay tại quê mình.

Sinh ra ngồi ở bên hồ Gươm này đã gần một tiếng đồng hồ. Ngày mốt, chàng sẽ vào Nam, không biết bao giờ mới thấy muốn trở lại thành phố này nữa đây.

Nhà Gô-đa cũ, bây giờ là một trung tâm thương mại “cao cấp”, đèn chiếu sáng trưng, nhưng đã đóng cửa nên thật vắng vẻ. Chung quanh hồ, mờ xa, thấp thoáng ánh đèn vàng khè, tiếng máy nổ cứ như rú lên từng cơn của những chiếc xe chạy vội đưa đón khách đi chơi khuya. Cảnh vật không phân biệt được cây sấu, cây liễu hay cây phượng nữa. Trời không trăng, ngàn sao lấp lánh sau những tàng cây thưa lá, và một khoảng trời trống trước mặt chỉ đủ soi mờ một lớp sương mỏng bay là là trên mặt hồ. Sinh nhìn xuống lòng nước sánh đen một cách lạ lùng, nó như bị biến dạng từ một thứ chất lỏng màu đỏ đặc quánh lại. Vì thế nó có mùi tanh tưởi lẫn trong hơi thối rữa của rong rêu bốc lên, ngửi đến lợm giọng. Xa xa, tháp Rùa chìm trong sương đục, chỉ nhận ra nhờ mấy hàng đèn chạy trên nóc và dọc bốn cạnh tường. Nếu hồ hết rùa ngàn năm thì tháp chỉ còn là một phế tích vô nghĩa.

Sinh đang định về, bỗng nghe có tiếng ho rũ rượi ở đâu đó. Chàng nhướng mắt nhìn kỹ, nhận ra tiếng ho từ chiếc ghế đá cách chàng không xa. Tiếng ho tiếp tục hầu như không thể dứt. Sinh nhỏm người đến gần, hỏi:

-Ai vậy? Có cần tôi giúp gì không.

Sinh tay lần túi áo, lấy ra chai dầu gió xanh chàng mang theo trong cuộc hành trình này phòng khi trái gió giở trời, bước mau tới cái ghế đá cạnh bên. Tiếng ho ngừng một chút, rồi giọng yếu ớt, nói:

– Cảm ơn ông, tôi không sao.

Một cụ già? Lão tới đây lúc nào Sinh không hay. Sinh đến, ngồi hẳn xuống bên cạnh cụ ta, tay đưa chai dầu:

– Cháu có dầu nóng đây, cụ dùng tạm.

Không khách khí, ông cụ đưa tay ra nhận, hai ba ngón xương xẩu đụng vào tay Sinh, chàng thấy lạnh như sắt nguội. Trong bóng tối, Sinh lặng lẽ quan sát ông cụ cẩn thận bôi dầu vào cần cổ, gáy, hai thái dương, mũi, rồi đưa trả chai dầu, Sinh gạt đi:

– Thôi, cụ giữ để dùng, ở nhà cháu có lọ khác rồi.

– Vậy xin cảm ơn ông.

Trong lúc ông cụ cất chai dầu vào túi, Sinh hỏi làm quen:

– Nhà cụ gần đây không? Sao đi chơi muộn vậy?

Có lẽ nhờ dầu nóng, ông cụ chỉ còn húng hắng, rồi trả lời:

– Cảm ơn ông, nhà lão cũng gần đây. Ở trong nhà bí quá, không thở được mới ra hóng mát một chút thôi.

Có điều làm Sinh chú ý là ông cụ nói giọng Hà Nội ngày xưa cũ. Cụ dùng tiếng ông để gọi người khách mới quen (Ông Lộc của Nửa Chừng Xuân” thay vì tiếng “anh” của thời đổi đời. Anh đồng chí bố!), nên chàng thấy ngay sự thân thiện của một kẻ gặp “đồng hương ở nơi xa lạ”, nên hỏi hơi đường đột:

– Thế gia đình nhà ta ở cả đây?

Giọng ngậm ngùi:

– Không, chúng đã xuôi nam tất. Riêng lão thì phải ở lại để làm cái việc “nghìn năm sau nối lại với nghìn năm xưa”.

Đó là chữ nghĩa của Hồ Dzếnh trong bài Ngập Ngừng đấy.

Khẽ thở dài:

– Sống lâu để phải nhìn bao cuộc phế hưng cũng là niềm khổ đau ông ạ.

Sinh lắc đầu:

– Cháu chỉ mới thấy điều đó mấy hôm nay thôi.

Ông cụ, giọng xa vắng:

– Từ thời cái hồ này có tên là Lục Thủy, còn thông với sông Nhị Hà… có bao giờ bốc mùi hôi thối như vầy. Thế mà kể từ cái ngày…

Sao nói tới chuyện xa xưa thế, nhưng Sinh cũng hiểu ý, ngắt lời:

– Mồng mười tháng mười…

Ông cụ nói như reo lên:

– Đúng cái ngày đó. Sao ông biết?

Sinh khẽ cười:

– Thì cháu vẫn còn kẹt lại đây.

Có tiếng “hừ” rất khẽ :

– Mấy ngày sau đó, đột nhiên có ba cụ kim qui bò lên Tháp Rùa kia, phơi nắng hai ba hôm liền, người ta tuyên truyền rằng rùa thần nổi lên chào mừng bác cháu ta đấy… chứ có biết đâu chính là vì nước hồ đã bị ô nhiễm, rùa thần cũng bị ngạt thở…Từ đó cho tới nay, rong rêu kia không được vớt đi, phát triển ngày một khủng khiếp khiến vài ba cụ rùa hàng nghìn năm tuổi, không chịu nổi, lần lượt về chầu Trời.

Có tiếng ho khan, rồi lặng yên. Sinh nghĩ đến Hà Nội và mối hận của Thục Đế nên  hỏi:

– Cụ trọng tuổi, lại có dịp chứng kiến bao đổi thay nơi đây, cụ có ý kiến gì về tương lai của thành phố vạn cổ sầu này không.

Một lúc yên lặng khá lâu, một giọng nói thực rõ ràng, khác hẳn với lúc ban đầu:

– Nếu ông muốn nghe thì lão cũng chiều ý. Thực là :

“Tạo Hóa gây chi cuộc hí trường

Đến nay thấm thoát mấy tinh sương

Lối xưa xe ngựa, hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài, bóng tịch dương”(1)

Lại một lúc yên lặng, rồi tiếp:

– Muốn biết thấu đáo về một nơi chốn, ta phải xét đến cái thế đất, tức phong thủy của nơi đó, huống hồ lại là kinh đô của một nước. Để có đầu đuôi ngọn ngành, ta phải trở lui về đời nhà Đường bên Tầu, thời Cao Biền mang quân sang tái chiếm Giao Châu trong tay quân Nam Chiếu. Hắn là một tay cừ khôi về phong thủy, bùa chú. Khi xưa, vào thời nhà Tùy đô hộ, Khâu Hòa xây một tòa thành nhỏ ở đất Tống Bình, bên sông Tô Lịch gọi là Tử Thành làm thủ phủ. Khoảng tám mươi năm sau, một Kinh Lược sứ khác sửa sang cho rộng hơn và đổi tên thành là An Nam La Thành.

– Nghe nói Cao Biền cưỡi diều bay lên trời tìm long mạch?

– Phải. Người xưa truyền lại, nói hắn đắp chòi cao làm nơi phóng diều, đưa hắn bay lượn giữa trời xanh để tìm long mạch trên đất nước ta. Nơi nào dùng được thì để lại, nơi nào không dùng tới, hắn yểm đi để con dân nước Việt muôn đời không ngóc đầu lên nổi. Và Cao Biền  đã thấy La Thành nằm nơi một thế đất đại can long bên giòng sông Nhị Hà. Thời đó quả có hai con sông, trong đó con sông Phú Lương hay còn gọi là Lô giang nằm bên hữu ngạn, chắn phía đông doi đất, bắc và tây được giới hạn bởi hai khúc sông Tô Lịch, vòng thành phía nam chạy sát con sông Kim Ngưu. Cao Biền xây lại thành Đại La vào hẳn trung tâm long mạch, sửa sang chính trị, được một số “nịnh thần” tôn là Cao Vương, ý muốn gầy dựng cơ nghiệp cho con cháu đời đời cai trị dân Việt.

Sinh nhớ lại sử ký, góp ý:

– Cho tới đời Lý Thái Tổ…

– Phải, Cao Biền đã giỏi, Lý Công Uẩn của ta còn giỏi hơn. Từ lâu, ngài đã biết Đại La Thành có long mạch lý tưởng xây dựng kinh đô. Trước đó, các nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê đều đóng đô tại Hoa Lư, tuy cũng là một nơi đắc địa, nhưng sự nghiệp nhà nào cũng không được lâu bền. Vì thế, sau khi lên ngôi, Lý Thái Tổ quyết dời đô ra Đại La Thành. Trong chiếu dời đô, ngài viết: “Đó là nơi trung tâm đất nước, đúng là cái thế rồng cuộn, hổ ngồi, có địa thế  núi sông sau trước, rộng mà bằng phẳng, cao mà sáng sủa, dân sẽ không khổ vì ngập lụt, muôn vật phong phú, tốt tươi. Xem khắp nước Việt ta chỗ ấy là hơn cả. Thật là chỗ hội họp của bốn phương và là nơi đô thành bậc nhất của bậc đế vương muôn đời.”(2). Có một yếu điểm là khu đất quá bằng phẳng, nên vua cho đắp thêm trong thành các núi đất như Tam Sơn, Ngũ Nhạc, Khán Sơn cùng với Nùng Sơn để sửa lại một phần phong thủy và giúp cảnh trí thêm hùng vĩ. Trên đường tới kinh đô mới, lúc vào cửa ngõ La Thành, bỗng có rồng vàng xuất hiện trên bầu trời, nhà vua mới cải tên Đại La ra Thăng Long, tức Hà Nội ngày nay.

– Nếu nói là muôn đời, sao hậu duệ Cao Biền không hưởng gì đáng kể. Và cả nhà Lý nữa, tuy là giòng họ trị vì lâu nhất lịch sử nước nhà, cũng chỉ lâu hơn hai trăm năm mà thôi.

– “Cao Biền dẫu sao cũng là người ngoài, đâu đã đến lượt, ngoài việc cháu là Cao Tầm được thay làm Tiết độ sứ khi vua Đường đưa ông ta về làm tiết độ sứ Tây Xuyên bên Tầu. Ngay như  người trong nước, long mạch để phúc trạch cho không phải là không có điều kiện, càng không phải thiên thu… Đức càng kiên cố thì vận càng dài, đến khi nào đức cạn thì vâïn cũng tuyệt theo. Thăng Long chính là một nơi như thế. Hình như có một giới hạn đã định sẵn cho những “nhà” nào ngự trên long mạch ấy… Vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, việc đầu tiên, đáng lẽ phải lập tông miếu, xã tắc… thì ngài lại dựng tám ngôi chùa tại phủ Thiên Đức (trước là châu Cổ Pháp thuộc Bắc Giang) – quê ngài… Tại sao ngài lại dựng tám ngôi chùa? Có phải ngài muốn chuẩn bị sẵn chốn về cho vong linh mình và con cháu sau này? Nghĩa là Ngài đã biết trước và hiểu rõ những bí mật về long mạch của đất kinh sư mới mà Ngài vừa chọn? Con số tám huyền bí ấy về sau như là cái giới hạn khó vượt qua đối với tất cả những chủ nhân của long mạch ấy”(3).

Trong lịch sử nước nhà, con số tám này đã tương ứng một cách chuẩn xác cho mỗi dòng họ làm vua. Tính từ Lý Thái tổ khai sáng nhà Lý (1010-1225) tới Lý Huệ Tôn đúng tám đời thì suy vong. Nhà Trần (1226-1399) giành sự nghiệp từ tay nhà Lý, truyền ngôi được 12 vị vua từ Trần Thái Tôn tới Trần Thiếu Đế, nhưng cũng chỉ được tám đời vì đời thứ sáu tới 4 vua. Đến nhà hậu Lê, từ Lê Thái Tổ tới Lê Chiêu tông có chín vị vua, nhưng chỉ truyền đươc bảy đời (đời thứ bảy có 3 vua). Người ta nói một đời vua thuộc Lê Lai ( vì có gia phả viết Lê Lai cứu Lê Lợi nhưng lại chết về tay nhà vua, người đời công bằng với lịch sử nên mới có câu hâm mốt Lê Lai, hâm hai (mới tới) Lê Lợi được lưu truyền cho tới ngày nay)… Đức mỏng như nhà Hồ chỉ được hai đời, nhà Mạc được năm đời, nhưng trong đó chỉ có Mạc Đăng Doanh huy hoàng chừng mười năm trên long mạch đất Thăng Long, thời gian còn lại bị chiến tranh liên miên với nhà Lê Trung Hưng và Chúa Trịnh, phần nhiều vua quan phải tại đào. Tới thời Lê Trung Hưng, uy quyền nằm trong tay phủ Chúa, phúc trạch của long mạch thuôc về Chúa Trịnh. Và tính từ Minh Khang Thái Vương Trịnh Kiểm (3) đến Án Đô Vương Trịnh Bồng cũng chỉ được đúng tám đời Chúa.(4)

Sinh ngồi nghe mà lòng vô cùng ngạc nhiên :

– Hóa ra long mạch cũng rất khắc nghiệt với những kẻ vô đức.

– Đúng thế. Người ta có thể che mắt thiên hạ, nhưng không qua khỏi được ý Trời. Tỷ như những kẻ vô đức như họ Hồ có thể nào chiếm giữ được long mạch lâu dài. Ông nên biết “đất này là một vùng ngưỡng diện, sách xưa gọi là Dương lai, Âm thụ, khí ngưng kết ở trên, mà tiêu tan ở bên dưới, vì thế địa huyệt kết ở ngọn Nùng Sơn là nơi cao nhất trong kinh thành”(3). Nay, có kẻ mưu dùng khu Ba Đình xây kiến trúc cao thay thế núi đó, nhưng đáy rỗng thì chỉ uổng công, mà lại chọc giận Trời Đất. Ngoài ra, một số những chi long, cước long là những nơi thêm hoa, thêm gấm cho long mạch nằm ở một số di tích lịch sử, chúng cho là tàn tích phong kiến nên phá hủy cả, đó cũng là một điều bất cập cho tương lai chế độ.

Ngồi nói chuyện quên cả thời gian. Liếc nhìn đồng hồ dạï quang thấy đã hơn một giờ khuya. Sinh vỗ tay lên vai ông lão, thấy áo cụ ướt đẫm sương đêm. Chàng ngạc nhiên:

– Chết chửa, áo cụ ướt đẫm rồi này. Cảm lạnh thì chết thôi.

Ông lão lắc đầu:

– Không sao, lão cũng đã quen rồi.

Và cụ như cố nhín lại để nói cho hết câu chuyện:

– Nay mai ông sẽ thấy, Trời không tha những kẻ xử tệ với nhau… Như lão vừa nói, Lê Thái Tổ dùng kiếm Trời ban giết Lê Lai chỉ vì không muốn giữ lời hứa chia đôi thiên hạ khi ông này hi sinh tính mạng để cứu Ngài, mà hậu duệ mất một đời vua, thần Kim Quy đòi lại kiếm thần. Do đó mới có hồ Hoàn Kiếm này để làm gương cho hậu thế. Thế mà có những đứa dám lợi dụng lớp rong rêu dơ bẩn hãm hại cả rùa thần thì Trời nào tha, Đất nào dung? Ông không tin, cứ việc… đếm thử đi, con số ấy còn được bao nhiêu…

Nói xong, ông cụ mới đứng dậy như muốn tạ từ.

Sinh giọng ái ngại:

– Cụ đi lối nào, cháu xin theo, đưa cụ về tận nhà.

Ông lão bắt chặt tay chàng, lắc đầu:

– Không cần đâu, lão cũng ở gần đây thôi. Ngồi đàm đạo với ông một chút thấy khỏe nhiều, hết cả ho…(khẽ cười)

Hai người vui vẻ chia tay, quay gót theo hai hướng ngược nhau, Sinh trở về khách sạn trên đường Hàng Bông. Đi được mươi bước, chàng bỗng nghe thấy phía sau như có tiếng cá quậy bắt mồi ở dưới hồ. Như phản xạ tự nhiên, Sinh quay nhìn lại, đường vắng tanh không có lấy một bóng người.

Sáng hôm sau, vì có cái thư phải gửi gấp về Mỹ, Sinh phải ra nhà bưu điện bên hồ Gươm. Lúc xong việc, chàng thơ thẩn tới chỗ ghế đá đêm qua ngồi nói chuyện với ông lão người Hà Nội chính gốc. Trời buổi sáng không khí mát mẻ. Hàng liễu ven hồ xõa tóc biếc rủ xuống mặt nước rong xanh lớp lớp dầy đặc. Nhìn lại, Sinh còn thấy dấu giầy vải hiệu Nike của chàng chen lẫn với những dấu chân gì khác in trên mặt đất ướt quanh chiếc ghế đá. Thêm một điều khó hiểu nữa là nơi đêm qua ông lão ngồi, Sinh thấy dính một lớp rong rêu như ở dưới hồ vớt lên. Chàng rất sửng sốt, liên tưởng tới cái vai áo ướt đẫm của ông cụ.

Chợt trên cầu Thê Húc, có mấy người đang chỉ chỏ xuống mặt hồ xa, miệng la lên:

– Rùa…rùa nổi kìa…

– Rùa ngạt hơi…sắp chết một con nữa rồi.

Mấy ông bà đang tập Tai Chi gần Tháp Bút cũng ùa ra xem. Sinh kinh ngạc vì quả thực có rùa nổi, nhưng chỉ có cái đầu ngóc lên khỏi mặt nước. Chính những lớp rong rêu dơ bẩn che kín mặt hồ đã giết dần mòn các cụ rùa như ông lão nói đêm qua. Mấy mươi năm rồi, sao người ta không vớt chúng lên, làm sạch hồ để cứu rùa ngàn năm? Phải chăng người ta sợ rùa thần sẽ giúp nhân dân đòi lại công đạo?

Mùa Xuân Bính Tuất, 2006

1]Thăng Long Thành Hoài Cổ của Bà Huyện Thanh Quan.

2]Nguyễn Khắc Ngữ: Nghệ thuật Cổ Truyền Việt Nam.

(3]Thăng Long Lược Phong Thủy Ký của Vũ Phong Lưu, Bình Dương (VNN), đăng trên Thời Báo.

4]Thực ra khi đương thời, Trịnh Kiểm giữ chức Thái Sư.

Tám đời nhà Chúa Trịnh gồm:

1/ Bình An Vương Trịnh Tùng

2/ Thanh Đô Vương Trịnh Tráng.

3/Tây Vương Trịnh Tạc.

4/ Định Vương Trịnh Căn.

5/ An Đô Vương Trịnh Cương.

6/ Uy Nam Vương Trịnh Giang và Minh Đô Vương      Trịnh Doanh.

7/ Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm..

8/ Đoan Nam Vương Trịnh Khải và Án Đô Vương Trịnh   Bồng.  (Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim)).

KHÉP MẮT BÌNH MINH:14- Hết

HỒ LINH

KHÉP MẮT BÌNH MINH

 

CHƯƠNG MƯỜI BỐN

 

    Không biết nó đã theo dõi Micheal và Hoa từ lúc nào, khi hai người vừa từ trong xe bước ra, thằng Jack đã đứng chận ngay đuôi xe.

Hoa giật mình, hốt hoảng lùi lại mấy bước, khẽ nói:

– Micheal, thằng Bob!

Micheal nhìn quanh, mới mười giờ sáng, Eastridge Mall vừa mở cửa, nên bãi đậu xe còn vắng tanh có kêu cứu cũng chẳng ai nghe. Vì thế, Micheal đưa tay ngăn ngang người Hoa, nói nhanh:

– Hoa vào trong tìm người “guard”, lẹ lên.

Hoa nhìn Micheal, rồi nhìn Bob, chần chừ chưa muốn để một mình Micheal ở đây với tên Mỹ trắng. Nhưng Micheal đã giục tới lần thứ hai, Hoa mới líu ríu đi gật lùi mấy bước, rồi chạy mau vào trong mall. Bob có ý định đuổi theo, nhưng Micheal đã đứng trước nó giang tay ngặn lại.

Bob cao hơn Micheal một cái đầu, cũng mập mạp hơn anh. Vả lại, từ bé đến giờ, anh chưa từng đánh nhau với ai, nên lúc này, Micheal hỏi dò:

– Tao với mày chưa từng quen biết…vậy mày muốn gì?

Thằng Bob, mắt gườm gườm nhìn Micheal, nói nhát gừng:

– Mày là thằng…cướp…bạn gái…của tao?

Micheal nhíu mày, lắc đầu:

– Hoa không bao giờ là bạn gái của mày…

– Mày là thằng ngu…nó đã có bầu với tao…và đã lén tao phá cái thai đó…

Dù đã được Hoa cho biết trước, nhưng lúc này, nghe thằng Bob nói tới…Micheal cũng thấy nhói trong tim. Cơn giận bốc lên khiến Micheal liều lĩnh, không sợ một cuộc đánh nhau…dù thằng Mỹ tô con hôn anh. Micheal nắm chặt hai tay, sửa soạn chiến đấu:

– Mày là thằng khốn nạn, lừa bịp con gái…Tao phải cho mày một bài học.

Thấy Micheal hùng hổ tiến đến, Bob hơi lùi lại, rồi đưa tay phải về phía sau. Một thoáng, nó vung tay, có ánh thép nhoáng lên. Thấy địch có dao, Micheal hơi khựng lại…lo lắng. Đàng kia, thằng Bob cười gằn, tiến tới. Hắn đưa dao, quét một đường trước mặt, Micheal ngửa người tránh khỏi. Tên Mỹ hồi dao, lướt đường thứ hai ngang bụng địch thủ khiến Micheal phải lùi lại sau. Nhưng lưng Micheal vừa đụng đuôi xe của anh làm anh lúng túng, đưa hai tay ra phía trước như sửa soạn nắm lấy tay thằng Mỹ nếu nó quét đường dao thứ ba.

Trước tình thế hiểm nghèo…mà Micheal khó tránh bị tổn thương, ít nhất ở hai bàn tay, thì bỗng nhiên có tiếng xe hắn máy rú lên. Trong lúc căng thẳng tột cùng của cả hai bên..tiếng máy xe nổ ròn ngay bên khiến đường dao thứ ba của Bob hơi khựng lại, cả hai đưa nhanh mắt về phí có xe đi lại. Nhưng chớp mắt, một bóng người nhào tới, đẩy Bob té xuống đầt, chiếc xe máy kêu rú lên, còn tiếp tục lao về phía trước, đổ kềnh, hai bánh còn quay tít.

Micheal ngỡ ngàng nhìn người thanh niên vừa cứu anh, đang vật lộn với Bob. Con dao của thằng Mỹ văng ra xa…và không đầy một phút, tay Bob đã bị thanh niên kia khóa lại, dựng nó dậy, đẩy tới trước mặt Micheal.

Thanh niên là một người Á Đông, thấp hơn Bob, nhưng to con không kém. Micheal dùng Anh ngữ hỏi:

– Anh không sao chứ. Rất cảm ơn cứu mạng.

Thanh niên hơi mỉm cười, nói bằng tiếng Việt:

– Chắc anh người Việt…phải không ạ?

Micheal mừng rỡ:

– Phải phải, thực may…tôi tên Micheal…

– Tôi tên Tư Chơi…

Nó nói với Bob bằng thứ tiếng Anh không chỉnh :

– Tao cho mày đi…lần sau…tao không tha đâu…

Tư Chơi đẩy thằng Mỹ ra xa khiến nó hơi chúi về phía trước, rồi liếc nhanh về phía hai người trước khi bỏ đi. Tư Chơi chạy nhanh đến chiếc xe gắn máy hai bánh còn quay tí, tắt máy rồi dựng lại bên lề đường.

Vừa lúc đó, Hoa từ trong lật đật đi ra cùng với người gác gian của trung tâm thương mại.

Đến gần hai người, ông ta quay lại hỏi Hoa:

– Người nào là bạn cô?

Hoa ngỡ ngàng nhìn Tư Chơi, nhưng Micheal đã trả lời thế cô:

– Chào ông…Tôi là bạn của cô ấy. Thằng tấn công tôi đã bị chú này đánh đuổi đi rồi.

Trong lúc đó, Tư Chơi nhặt con dao của Bob để lại hiện trường. Nó cầm phần lưỡi, đưa chuôi dao về phía người gác gian, nói:

– Dao của nó đây…

Ông ta cầm lấy, gấp lưỡi lại, hỏi Micheal:

– Vậy ông không sao chứ…

– Cảm ơn ông đã ra tiếp cứu…

Người gác gian gật đầu, rồi thư thả trở vào trong.

Hoa nhìn Micheal rồi nhìn Tư Chơi:

– Rất cảm ơn…chú đã giúp chúng tôi…

Micheal cười, tới bắt tay Tư Chơi:

– Rất cảm ơn chú…

Anh trao cho nó tấm danh thiếp, rồi hỏi:

– Nhà chú Tư ở đâu…chúng tôi mong có dịp tới thăm.

Tư chơi cười, giọng lì nhí:

– Thôi, cảm ơn bác sĩ…tôi sống lang bang lắm…

Chỉ nghe cái tên của nó, Micheal không ngạc nhiên vì lời nó nói về nơi ỡ, anh gật đầu:

– Vậy tôi mời chú lúc nào…tới phòng mạch tôi chơi…

Tư Chơi khẽ cười:

– Tôi…chưa bị…sâu răng…

Cả Hoa và Micheal đều cười:

– Bộ khi đau răng mới tới chơi với nhau được à? Cứ tới…tôi không bẻ những cái răng tốt của chú đâu…

Cả ba đều vui vẻ chia tay.

Một tuần sau đó.

Bắc dẫn Tư Chơi lần theo cái hành lang hơi tối, trải thảm mầu xanh nhạt, khá rộng tìm số phòng mạch của Micheal.

– Đây rồi, một trăm ba mươi tám…Micheal Ng, D.D.S.

Bắc vặn tay khóa, nhè nhẹ mở cửa. Một mầu ánh đèn nê-ông trắng xanh chiếu sáng căn phòng đợi rộng rãi với hai hàng chế nệm nâu dọc hai bờ tường. Hai đứa rụt rè ngồi xuống ghế, mắt nhìn chung quanh, vắng vẻ.

Chiếc cửa sổ nhìn vào bàn tiếp viên cũng trống trơn, không có ai.

Tư Chơi sẽ hỏi:

– Không có ai? Họ về rồi à?

Bắc lắc đầu:

– Mày ngu quá…cửa chưa khóa là còn người ở đây. Chị ấy hẹn năm giờ…bây giờ chưa tới…còn thiếu năm phút nữa.

– Ờ thì đợi năm phút nữa.

Tư Chơi chưa từng tới những nơi “trang trọng” như thế này bao giờ. Nó lẩn thẩn nhìn lên những bức hình răng, miệng treo trên tường trong lúc chờ đợi.

Hoa biết được Tư Chơi là bạn của Bắc nhờ một hôm cô tình cờ nhắc lại chuyện được nó đột nhiên tới tiếp cứu với Tuấn, trong khi Bắc đến nhà chơi. Hoa có thắc mắc hỏi Bắc:

– Tên nó có vẻ du đãng quá?

Bắc cười:

– Thì nó là du đãng thứ thiệt mà chị.

Bắc kể sơ hoàn cảnh gia đình và đời sống hiện tại của Tư Chơi cho Hoa nghe. Dù thế, Hoa vẫn nói:

– Bắc à, chị nhờ em mời Tư Chơi lại phòng mạch anh Micheal chơi một lần đi.

Bắc nhận lời.

Vì thế, hôm nay đúng hẹn, hai đứa dẫn nhau tìm tới phòng chữa răng của Micheal.

Hai đứa đang băn khoăn chờ đợi thì có tiếng mở cửa, Hoa từ trong đi ra, vui vẻ nói:

– Hai chú tới lâu chưa.

Cả hai đứng lên, Bắc đáp:

– Vừa tới ạ. Thấy vắng vẻ quá tưởng…

– Tưởng bọn này quên à? Không. Bây giờ là giờ nghỉ rồi, mình có thì giờ nói chuyện lâu hơn…Anh Micheal đang rửa tay…ra ngay bây giờ.

Vừa lúc, Micheal mở cửa bước ra:

– Cám ơn chú Bắc nhé…nếu không có chú, chẳng biết bao giờ tôi mới được gặp lại chú Tư Chơi. Hai chú ngồi xuống mình nói chuyện.

Micheal và Hoa cũng kéo ghế ngồi đối diện với hai đứa. Từ lúc vào đến giờ, Tư Chơi không nói gì chỉ gật đầu…lí nhí chào hai người. Nhìn dáng dấp lúng túng, rụt rè của Tư Chơi bây giờ, Micheal hơi ngạc nhiên khi nghĩ tới vẻ hiên ngang, khí phách của nó lúc ra tay đàn áp thằng Jack. Sự bộc lộ này mới chính là con người thật của nó, một đứa con trai mới lớn, hiền lành đến ngây ngô.

– Hôm chú ra tay với thằng Mỹ con…trông không khác mấy tay võ nghệ cao cường trong movie. Tôi với chị Hoa cứ cảm phục chú mãi.

Tư Chơi thấy người khen mình, hơi ngượng, lắc đầu:

– Chuyện đụng độ…là chuyện thường của bọn em…Không thế, sao sống nổi với tụi nó, bác sĩ.

– Ồ, anh em với nhau…đừng gọi bác sĩ bác siếc gì nhé. Này chú Tư…đã biết đây, lúc nào rảnh tới tôi chơi, nghe.

Nó nhìn lên cười nửa miệng:

– Bác sĩ bận…làm sao có giờ để tiếp bọn em…

– Ồ vừa nói đừng gọi bác sĩ…chú lại quên…Lúc nào làm việc thì làm, lúc nào muốn nghỉ là nghỉ. Nói thế chứ ở đây năm giờ đóng cửa rồi…đừng ngại.

Tư Chơi không nói lại, chỉ hơi nhún vai.

Hoa như nhớ ra điều gì, cô bỏ vào phòng, một lát ra với một chiếc hộp gói giấy hoa trên tay. Micheal nhìn cô, mỉm cười gật gật đầu như tán thành. Hoa đưa chiếc hộp quà cho Tư Chơi, nói:

– Tư à, anh Micheal có chút quà…tặng chú làm kỷ niệm.

Tư Chơi ngỡ ngàng, băn khoăn chưa biết có nên nhận hay không thì Micheal nói vào:

– Chú Tư à, một chút quà làm kỷ niệm chứ không phải để đền ơn đâu…Ơn đó lớn lắm, đền sao nổi phải không…

Bắc cũng ra vẻ hãnh diện, nói vào:

– Anh chị ấy coi bọn mình như em ấy mà…mày nhận đi không anh ấy buồn.

Cuối cùng, Tư Chơi nhận với vài câu cảm ơn…

Bắc vui vẻ:

– Mày mở quà ra…tao xem với.

Hoa cũng gật đầu đồng tình. Tư Chơi cười, từ từ gỡ mấy miếng băng keo…Bên trong là một chiếc jacket

đen, đàng sau thêu kim tuyến một chiếc đầu hổ đang nhe răng ra oai. Tư Chơi mặc thử, vừa vặn. Nó xoay người nhìn trước nhìn sau ra vẻ vui thích khiến Micheal và Hoa đều hài lòng.

Nhìn dáng điệu có vẻ…con nít của Tư Chơi lúc đó, bỗng nhiên Micheal muốn làm một cái gì tốt hơn cho nó…như giúp nó trở lại nhà trường chẳng hạn, học hành mấy năm, kiếm một cái nghề chuyên môn để sống, dứt bỏ chốn bụi đời, là chuyện nên lắm. Với lợi tức hiện tại của phòng răng, việc ấy không là một gánh nặng cho anh. Tuy nhiên, Micheal biết chưa đến lúc nói ra…vì chưa đủ thân tình, Tư Chơi có thể vì tự ái từ chối.

Chuyện Micheal và Tư Chơi mới chỉ đến đó. Sau khi Bắc và nó ra về, Micheal có nói với Hoa về ý định của mình, cô cũng đồng ý và cảm phục lòng tốt của anh.

 

 

 

CHƯƠNG MƯỜI LAM

 

Không biết nó đã theo dõi Micheal và Hoa từ lúc nào, khi hai người vừa từ trong xe bước ra, thằng Jack đã đứng chận ngay đuôi xe.

Hoa giật mình, hốt hoảng lùi lại mấy bước, khẽ nói:

– Micheal, thằng Bob!

Micheal nhìn quanh, mới mười giờ sáng, Eastridge Mall vừa mở cửa, nên bãi đậu xe còn vắng tanh có kêu cứu cũng chẳng ai nghe. Vì thế, Micheal đưa tay ngăn ngang người Hoa, nói nhanh:

– Hoa vào trong tìm người “guard”, lẹ lên.

Hoa nhìn Micheal, rồi nhìn Jack, chần chừ chưa muốn để một mình Micheal ở đây với tên Mỹ trắng. Nhưng Micheal đã giục tới lần thứ hai, Hoa mới líu ríu đi gật lùi mấy bước, rồi chạy mau vào trong mall. Bob có ý định đuổi theo, nhưng Micheal đã đứng trước nó giang tay ngặn lại.

Bob cao hơn Micheal một cái đầu, cũng mập mạp hơn anh. Vả lại, từ bé đến giờ, anh chưa từng đánh nhau với ai, nên lúc này, Micheal hỏi dò:

– Tao với mày chưa từng quen biết…vậy mày muốn gì?

Thằng Bob, mắt gườm gườm nhìn Micheal, nói nhát gừng:

– Mày là thằng…cướp…bạn gái…của tao?

Micheal nhíu mày, lắc đầu:

– Hoa không bao giờ là bạn gái của mày…

– Mày là thằng ngu…nó đã có bầu với tao…và đã lén tao phá cái thai đó…

Dù đã được Hoa cho biết trước, nhưng lúc này, nghe thằng Bob nói tới…Micheal cũng thấy nhói trong tim. Cơn giận bốc lên khiến Micheal liều lĩnh, không sợ một cuộc đánh nhau…dù thằng Mỹ tô con hôn anh. Micheal nắm chặt hai tay, sửa soạn chiến đấu:

– Mày là thằng khốn nạn, lừa bịp con gái…Tao phải cho mày một bài học.

Thấy Micheal hùng hổ tiến đến, Bob hơi lùi lại, rồi đưa tay phải về phía sau. Một thoáng, nó vung tay, có ánh thép nhoáng lên. Thấy địch có dao, Micheal hơi khựng lại…lo lắng. Đàng kia, thằng Bob cười gằn, tiến tới. Hắn đưa dao, quét một đường trước mặt, Micheal ngửa người tránh khỏi. Tên Mỹ hồi dao, lướt đường thứ hai ngang bụng địch thủ khiến Micheal phải lùi lại sau. Nhưng lưng Micheal vừa đụng đuôi xe của anh làm anh lúng túng, đưa hai tay ra phía trước như sửa soạn nắm lấy tay thằng Mỹ nếu nó quét đường dao thứ ba.

Trước tình thế hiểm nghèo…mà Micheal khó tránh bị tổn thương, ít nhất ở hai bàn tay, thì bỗng nhiên có tiếng xe hắn máy rú lên. Trong lúc căng thẳng tột cùng của cả hai bên..tiếng máy xe nổ ròn ngay bên khiến đường dao thứ ba của Bob hơi khựng lại, cả hai đưa nhanh mắt về phí có xe đi lại. Nhưng chớp mắt, một bóng người nhào tới, đẩy Jack té xuống đầt, chiếc xe máy kêu rú lên, còn tiếp tục lao về phía trước, đổ kềnh, hai bánh còn quay tít.

Micheal ngỡ ngàng nhìn người thanh niên vừa cứu anh, đang vật lộn với Bob. Con dao của thằng Mỹ văng ra xa…và không đầy một phút, tay Jack đã bị thanh niên kia khóa lại, dựng nó dậy, đẩy tới trước mặt Micheal.

Thanh niên là một người Á Đông, thấp hơn Bob, nhưng to con không kém. Micheal dùng Anh ngữ hỏi:

– Anh không sao chứ. Rất cảm ơn cứu mạng.

Thanh niên hơi mỉm cười, nói bằng tiếng Việt:

– Chắc anh người Việt…phải không ạ?

Micheal mừng rỡ:

– Phải phải, thực may…tôi tên Micheal…

– Tôi tên Tư Chơi…

Nó nói với Bob bằng thứ tiếng Anh không chỉnh :

– Tao cho mày đi…lần sau…tao không tha đâu…

Tư Chơi đẩy thằng Mỹ ra xa khiến nó hơi chúi về phía trước, rồi liếc nhanh về phía hai người trước khi bỏ đi. Tư Chơi chạy nhanh đến chiếc xe gắn máy hai bánh còn quay tí, tắt máy rồi dựng lại bên lề đường.

Vừa lúc đó, Hoa từ trong lật đật đi ra cùng với người gác gian của trung tâm thương mại.

Đến gần hai người, ông ta quay lại hỏi Hoa:

– Người nào là bạn cô?

Hoa ngỡ ngàng nhìn Tư Chơi, nhưng Micheal đã trả lời thế cô:

– Chào ông…Tôi là bạn của cô ấy. Thằng tấn công tôi đã bị chú này đánh đuổi đi rồi.

Trong lúc đó, Tư Chơi nhặt con dao của Bob để lại hiện trường. Nó cầm phần lưỡi, đưa chuôi dao về phía người gác gian, nói:

– Dao của nó đây…

Ông ta cầm lấy, gấp lưỡi lại, hỏi Micheal:

– Vậy ông không sao chứ…

– Cảm ơn ông đã ra tiếp cứu…

Người gác gian gật đầu, rồi thư thả trở vào trong.

Hoa nhìn Micheal rồi nhìn Tư Chơi:

– Rất cảm ơn…chú đã giúp chúng tôi…

Micheal cười, tới bắt tay Tư Chơi:

– Rất cảm ơn chú…

Anh trao cho nó tấm danh thiếp, rồi hỏi:

– Nhà chú Tư ở đâu…chúng tôi mong có dịp tới thăm.

Tư chơi cười, giọng lì nhí:

– Thôi, cảm ơn bác sĩ…tôi sống lang bang lắm…

Chỉ nghe cái tên của nó, Micheal không ngạc nhiên vì lời nó nói về nơi ỡ, anh gật đầu:

– Vậy tôi mời chú lúc nào…tới phòng mạch tôi chơi…

Tư Chơi khẽ cười:

– Tôi…chưa bị…sâu răng…

Cả Hoa và Micheal đều cười:

– Bộ khi đau răng mới tới chơi với nhau được à? Cứ tới…tôi không bẻ những cái răng tốt của chú đâu…

Cả ba đều vui vẻ chia tay.

Một tuần sau đó.

Bắc dẫn Tư Chơi lần theo cái hành lang hơi tối, trải thảm mầu xanh nhạt, khá rộng tìm số phòng mạch của Micheal.

– Đây rồi, một trăm ba mươi tám…Micheal Ng, D.D.S.

Bắc vặn tay khóa, nhè nhẹ mở cửa. Một mầu ánh đèn nê-ông trắng xanh chiếu sáng căn phòng đợi rộng rãi với hai hàng chế nệm nâu dọc hai bờ tường. Hai đứa rụt rè ngồi xuống ghế, mắt nhìn chung quanh, vắng vẻ.

Chiếc cửa sổ nhìn vào bàn tiếp viên cũng trống trơn, không có ai.

Tư Chơi sẽ hỏi:

– Không có ai? Họ về rồi à?

Bắc lắc đầu:

– Mày ngu quá…cửa chưa khóa là còn người ở đây. Chị ấy hẹn năm giờ…bây giờ chưa tới…còn thiếu năm phút nữa.

– Ờ thì đợi năm phút nữa.

Tư Chơi chưa từng tới những nơi “trang trọng” như thế này bao giờ. Nó lẩn thẩn nhìn lên những bức hình răng, miệng treo trên tường trong lúc chờ đợi.

Hoa biết được Tư Chơi là bạn của Bắc nhờ một hôm cô tình cờ nhắc lại chuyện được nó đột nhiên tới tiếp cứu với Tuấn, trong khi Bắc đến nhà chơi. Hoa có thắc mắc hỏi Bắc:

– Tên nó có vẻ du đãng quá?

Bắc cười:

– Thì nó là du đãng thứ thiệt mà chị.

Bắc kể sơ hoàn cảnh gia đình và đời sống hiện tại của Tư Chơi cho Hoa nghe. Dù thế, Hoa vẫn nói:

– Bắc à, chị nhờ em mời Tư Chơi lại phòng mạch anh Micheal chơi một lần đi.

Bắc nhận lời.

Vì thế, hôm nay đúng hẹn, hai đứa dẫn nhau tìm tới phòng chữa răng của Micheal.

Hai đứa đang băn khoăn chờ đợi thì có tiếng mở cửa, Hoa từ trong đi ra, vui vẻ nói:

– Hai chú tới lâu chưa.

Cả hai đứng lên, Bắc đáp:

– Vừa tới ạ. Thấy vắng vẻ quá tưởng…

– Tưởng bọn này quên à? Không. Bây giờ là giờ nghỉ rồi, mình có thì giờ nói chuyện lâu hơn…Anh Micheal đang rửa tay…ra ngay bây giờ.

Vừa lúc, Micheal mở cửa bước ra:

– Cám ơn chú Bắc nhé…nếu không có chú, chẳng biết bao giờ tôi mới được gặp lại chú Tư Chơi. Hai chú ngồi xuống mình nói chuyện.

Micheal và Hoa cũng kéo ghế ngồi đối diện với hai đứa. Từ lúc vào đến giờ, Tư Chơi không nói gì chỉ gật đầu…lí nhí chào hai người. Nhìn dáng dấp lúng túng, rụt rè của Tư Chơi bây giờ, Micheal hơi ngạc nhiên khi nghĩ tới vẻ hiên ngang, khí phách của nó lúc ra tay đàn áp thằng Jack. Sự bộc lộ này mới chính là con người thật của nó, một đứa con trai mới lớn, hiền lành đến ngây ngô.

– Hôm chú ra tay với thằng Mỹ con…trông không khác mấy tay võ nghệ cao cường trong movie. Tôi với chị Hoa cứ cảm phục chú mãi.

Tư Chơi thấy người khen mình, hơi ngượng, lắc đầu:

– Chuyện đụng độ…là chuyện thường của bọn em…Không thế, sao sống nổi với tụi nó, bác sĩ.

– Ồ, anh em với nhau…đừng gọi bác sĩ bác siếc gì nhé. Này chú Tư…đã biết đây, lúc nào rảnh tới tôi chơi, nghe.

Nó nhìn lên cười nửa miệng:

– Bác sĩ bận…làm sao có giờ để tiếp bọn em…

– Ồ vừa nói đừng gọi bác sĩ…chú lại quên…Lúc nào làm việc thì làm, lúc nào muốn nghỉ là nghỉ. Nói thế chứ ở đây năm giờ đóng cửa rồi…đừng ngại.

Tư Chơi không nói lại, chỉ hơi nhún vai.

Hoa như nhớ ra điều gì, cô bỏ vào phòng, một lát ra với một chiếc hộp gói giấy hoa trên tay. Micheal nhìn cô, mỉm cười gật gật đầu như tán thành. Hoa đưa chiếc hộp quà cho Tư Chơi, nói:

– Tư à, anh Micheal có chút quà…tặng chú làm kỷ niệm.

Tư Chơi ngỡ ngàng, băn khoăn chưa biết có nên nhận hay không thì Micheal nói vào:

– Chú Tư à, một chút quà làm kỷ niệm chứ không phải để đền ơn đâu…Ơn đó lớn lắm, đền sao nổi phải không…

Bắc cũng ra vẻ hãnh diện, nói vào:

– Anh chị ấy coi bọn mình như em ấy mà…mày nhận đi không anh ấy buồn.

Cuối cùng, Tư Chơi nhận với vài câu cảm ơn…

Bắc vui vẻ:

– Mày mở quà ra…tao xem với.

Hoa cũng gật đầu đồng tình. Tư Chơi cười, từ từ gỡ mấy miếng băng keo…Bên trong là một chiếc jacket

đen, đàng sau thêu kim tuyến một chiếc đầu hổ đang nhe răng ra oai. Tư Chơi mặc thử, vừa vặn. Nó xoay người nhìn trước nhìn sau ra vẻ vui thích khiến Micheal và Hoa đều hài lòng.

Nhìn dáng điệu có vẻ…con nít của Tư Chơi lúc đó, bỗng nhiên Micheal muốn làm một cái gì tốt hơn cho nó…như giúp nó trở lại nhà trường chẳng hạn, học hành mấy năm, kiếm một cái nghề chuyên môn để sống, dứt bỏ chốn bụi đời, là chuyện nên lắm. Với lợi tức hiện tại của phòng răng, việc ấy không là một gánh nặng cho anh. Tuy nhiên, Micheal biết chưa đến lúc nói ra…vì chưa đủ thân tình, Tư Chơi có thể vì tự ái từ chối.

Chuyện Micheal và Tư Chơi mới chỉ đến đó. Sau khi Bắc và nó ra về, Micheal có nói với Hoa về ý định của mình, cô cũng đồng ý và cảm phục lòng tốt của anh.

 

 

 

CHƯƠNG MƯỜI SÁU

 

Chỉ nội trong một trăm giờ, liên quân Tây Phương, mà chủ động là Hoa Kỳ với một lực lượng rất hùng hặu, đã đuổi quân xăm lăng Irag ra khỏi bờ cõi nước Kuwaik, một quốc gia trong Vịnh Ba Tư. Sở dĩ Tây Phương quyết liệt như thế vì đó là nguồn cung cắp dầu hỏa cho hầu hết các nước tiền tiến kỹ nghệ.

Với một hỏa lực và một chiến thuật chớp nhoáng, Mỹ đã chứng tỏ mình là một nước có sức mạnh hàng đầu trên thế giới sau thời kỳ chiến tranh lạnh chấm dứt với sự tan rã của khối Cộng sản Âu Châu. Bài học đắt giá trong cuộc chiến tranh Việt Nam với sách lược giằng dai, tiêu hao của Cộng Sản khiến quân Mỹ bị sa lầy, dù sức mạnh về quân sự hơn hẳn đối phương. Vì thế, với chiến thuật đánh mau và mạnh tại vịnh Ba Tư mà người Mỹ đặt cho một cái tên “Bão Sa Mạc” hay “Desert Storm” đã đạt được kết quả to lớn.

Sự chiến thắng vẻ vang này đưa tên tuổi của Tổng Thống Hoa Kỳ George Bush lên cao chót vót, cùng với các cộng sự viên hàng đầu như tướng Tham Mưu truởng Powell, tuớng Tổng tư lệnh chiến trường WWWW. Dân chúng Mỹ lúc đó rất hãnh diện về cuộc chiến thắng cũng như không một cách chính thức, họ coi những người tham dự trận đánh như một anh hùng của dân tộc, nhất là ngài tổng thống.

Nhưng tiếc rằng sau trận đại thắng, nước Mỹ được coi như vô địch về sức mạnh quân sự, nên quốc hội Hoa Kỳ nhận thấy không những chi phí quốc phòng không cần tăng, mà có thể giảm bớt để đỡ gánh nặng thuế khoá cho dân chúng. Nhưng hậu qủa này không làm cho khuynh hướng gia tăng thuế khóa hàng năm chấm đứt, mà ngược lại, Cũng vì các dự án về võ khí vị hủy bỏ, đồng thời một số trung tâm quân sự bị giải tán, khiến khối lượng người thất nghiệm gia tăng một cách đáng kể. Từ đó, nền kinh tế của Hoa Kỳ lâm vào tình trạng suy thoái, đưa tới sự bất mãn của dân chúng. Chính vì lý do “tiền” mà chỉ hơn một năm sau, uy tín của tổng thống Bush bỗng chốc xuống dốc một cách tệ hại. Thuế má vẫn gia tăng khiến câu nói đầy hấp dẫn khi tranh cử kỳ đầu thắng lợi “Read my leaps” của ông, nay trở thành một câu nói láo. Cuối cùng ông Bush bị thất cử bởi một “thằng cha căng chú kiết” trước đó chưa hề ai biết tới, thống đốc một tiểu bang hạng bét Akansas, một anh bị nhiều phụ nữ tố cáo lem nhem về tình dục, một anh sinh viên trốn lính, một tên nghiện hút và phản chiến thời chiến tranh Việt Nam. Sự thắng cử của Bill Cliton cho ta hai hệ luận. Một là kinh tế trên hết. Chính bị thất bại trong phạm vi kinh tế…lạm phát cao, thất nghiệp nhiều, cán cân chi phó chênh lệch đưa tới tình trạng thiếu hụt trầm trọng với những món nợ của chính phủ lên tới nhiều ngàn tỉ đô-la mà ông Buch phảo “ra đi”. Chiêu bài “đổi mới” của Bill Cliton đã hấp dẫn quần chúng. Sau đó, sự thắng cử của một thanh niên nhiều tai tiếng, hạnh kiểm không lấy gì làm tốt chứng tỏ lương tâm của người Mỹ đã có xu hướng băng hoại, phản ảnh một xã hội thiếu đạo đức và tôn thờ vật chất, tiền bạc. Việt nam có câu ngạn ngữ “Bạc như dân” quả thực rất đúng cho trường hợp của ông George Bush ngày nay.

Trong bối cảnh đó, cộng đồng người Việt tị nạn tại Mỹ cũng bắt chước dân địa phương chia làm hai phe, một ủng hộ George Bush, tức đảng Cộng Hòa, một ủng hộ Bill Clinton, tức đảng Dân Chủ.

Ý niện sơ khởi về hai khuynh hướng này là đảng Cộng Hòa có thành tích “chống Cộng” và do đó, sẽ hổ trợ tích cực cho công cuộc cứu nước của họ. Ngược lại, đảng Dân Chủ có thành tích binh vực dân nghèo…trong đó, thành phần của người tị nạn chiếm một tỷ số đáng kể. Nhưng, người ta lại tin là đảng này có đường lối mềm dẻo đối với Cộng Sản Việt Nam…nên thường gây bất lợi cho công cuộc phục quốc của người Việt lưu vong.

Theo thống kê, người Việt ủng hộ đảng Cộng Hòa rất cao so với người ủng hộ đảng Dân Chủ. Vì thế, sự thất cử của ông Bush đã làm cho người Việt nói chung buồn không ít. Phía bên này nhìn mấy anh ủng hộ đảng Dân Chủ bằng con mắt nghi kỵ, coi họ như bọn người thiên tả, hay hơn nữa, những kẻ “phò” Cộng sản. Bằng vào tình trạng phân hóa này, những người thiểu số bỗng nhiên trở thành những người có “hành tung” mờ ám. Họ là những người “lẻn” về Việt Nam đầu tiên cùng với làn sóng các cụ ăn trợ cấp xã hội hoặc lãnh tiền già SSI. Nhờ quy chế xã hội tại Mỹ, các cụ này ký cóp được chút tiền, lại nhiều thời giờ nhàn rỗi, bỗng nhớ quê cha đất tổ, nhớ con, nhớ cháu…nhớ bà con chòm xóm nên…trở về thăm quê xưa.

Những thiên kiến về chính quyền của đảng Dân Chủ đó…được chứng minh một cách “hùng hồn” khi ít lâu sau ngày được vào “ngự trong tòa Bạch Ốc” là ông Clinton đã bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Cộng Sản Việt Nam. Nhưng, nếu nhìn một cách sâu xa, cái dự định đó đã bắt nguồn từ trước lâu rồi của chính tổng thống George Bush. Ngoài ra, sự chuẩn bị bắt tay…với những đặc ân dành cho nhà cầm quyền Việt Nam bắt nguồn từ quyền lợi của Mỹ…nói chung, của đám Đại Tư Bản Mỹ nói riêng. Từ khi nhà cầm quyền Cộng sản Hà Nội có khuynh hướng đổi mới để cứu nguy chế độ Cộng sản, bằng cách mở cửa, đón tiếp những nhà tư bản của một số Quốc gia lân cận như Tân Gia Ba, Đài Loan, Nhật Bản, và xa hơn, vài nước Âu Châu như Pháp, Anh, Đức…tới đầu tư, khiến khối tư bản Hoa Kỳ nóng lòng, sợ chậm chân lại phải uống nước đục…ở cái thị trường mà họ nghĩ là béo bở này. Do đó, họ gây áp lực với chính phủ Mỹ, dù đó là Cộng Hòa hay Dân Chủ. Chính vì đồng hóa quyền lợi của nhóm đại tư bản với quyền lợi của Quốc Gia khiến các ông tổng thống Mỹ…trở nên tay sai của bọn này. Sau nhiều năm nghiên cứu, ông tiến sĩ Peter Phùng đã chỉ đích danh nhóm tư bản Mỹ đã khuynh loát, không những chỉ mình nước Mỹ mà cả thế giới để phục vụ quyền lợi của chúng. Ông Peter Phùng gọi bọn này là nhóm DAM, viết tất của những chữ Đại Âm Mưu. Vì thế, việc bỏ cấm vận cho Cộng sản Việt Nam là đường hướng chung của Mỹ mà thôi. Và, ai cũng có thể tiên đoán được rằng, chính sách ngoại giao của Mỹ và Việt Nam sẽ không ngưng ở đó mà sẽ còn tiến xa hơn nữa, như lập quan hệ bình thường, ban bố tối huệ quốc…. Hệ quả làhai bên xoá bỏ hận thù…và biết đâu sẽ chẳng là đồng minh trong tương lai! Nên nhớ rằng, người Mỹ không bao giờ thực sự đưa yếu tố nhân đạo, nhân quyền vào chính sách. Nếu có lúc nào họ ầm ỹ tuyên bố như thế cũng chỉ là duyên cớ để lợi dụng từ đó mà thôi. Biết đâu đã đến lúc “người Mỹ” thấy rằng…dùng “thằng Cộng sản Việt” làm tên giữ cửa ngõ vùng Đông Nam Á đỡ tốn phí và có hiệu quả hơn là một chính phủ dân chủ tự đo…như Việt Nam Cộng Hòa trước chẳng hạn.

Trong hoàn cảnh đó, ai cũng tỏ ra hiểu biết cặn kẽ đường lối, chính sách của “người Mỹ”, nhưng cộng đồng người Việt vẫn chia ra làm hai phe chống đối nhau, dù họ biết rằng phe này hay phe kia đều chẳng có ký lô ảnh hưởng nào đối với chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ.

Phe thiểu số “rụt rè” bệnh vực cho quyết định bỏ cấm vận của Clinton. Các anh này trả bài ca ngợi sách lược đó như là cách duy nhất để đưa nước Công Sản này dần dần tiến tới một nền dân chủ mà không cần đổ máu. Một khi người dân trong nước có dịp mở mắt ra nhìn cộng đồng thế giới bên ngoài để biết mình bị bóc lột và đang sống một cuộc sống lầm than. Từ đó mới nảy sinh ra bất mãn, đưa tới phản kháng bằng tư tưởng, rồi hành động, khởi sự cho một cuộc cách mạng thực sự, lật đổ chế độ Công sản. Thời gian đầu, nhóm trên còn sợ sệt và bị cô lập với số đông. Nhưng, sau đó, họ bạo dạn dần, theo với đà cởi mở của chính quyền Clinton đối với Công sản Việt Nam.

Ngược lại, những người phản đối với lý luận rằng bỏ cấm vận cho Hà Nội chẳng khác gì tiêm mũi thuốc hồi sinh cho một chế độ đang giẫy chết vì nghèo đói và bất công…và họ coi nhóm kia như là những anh đón gió trở cờ…Điều “quyết tâm” của họ là phải giải thể chế độ Công sản phi nhân đang cai trị bảy mươi triệu đồng bào ruột thịt. Nhưng, giải thể bằng cách nào thì mỗi người “chủ trương” một đàng, và ai cũng cương quyết bảo vệ lý luận của mình. Ai không chấp nhận đường lối tranh đấu “kiểu mình” thì tức khắc bị đội nón cối liền. Câu tục ngữ “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết” luôn luôn được nói tới, nhưng không ai…muốn đoàn kết với những kẻ…khác đường lối đấu tranh của mình hay của nhóm mình. Thực khôi hài khi cùng một lúc có tới hai, ba chính phủ tự xưng là Chính Phủ Việt Nam Tự Do Không Cộng sản…mà các vị, từ tổng thống cho tới thủ tướng, tổng bộ trưởng lúc nào cũng ngẩn ngẩn ngơ ngơ như người mộng du.

Phong trào về Việt Nam trước thì lén lén lút lút chỉ sợ người khác nhận diện…Nhưng sau một thời gian…sự chống đối ngàn dần…vì chẳng làm cho ai sợ, nên người ta trở nên dầy dạn, và số người về “du lịch”..ngày một đông, không những chỉ những ông bà già trầu, nhóm “đón gió trở cờ” và nhiều người trong nhóm “thầm lặng” được coi như không có thái độ dứt khoát giữa hai khuynh hướng, mà cả những ông từng hô hào đả đảo “du lịch Việt Nam”. Những cửa hàng bán và gửi đồ về Việt Nam, các văn phòng Travel bán vé máy bay mọc lên như nấm. Một vé về Việt Nam bán ra trung bình một ngàn rười đô-la, một cái Reentry Permit cho quí vị chưa có quốc tịch Mỹ giá trên dưới hai trăm, cái visa về Việt Nam cũng cả trăm đồng. Vì thế, một người muốn làm một chuyến “du lịch Việt Nam”, phí tổn chuyên chở không dưới hai ngày đồng…các Travel Agent kiếm mỗi đầu người cả ngàn bạc. (vé máy bay chừng 8 trăm, hai thứ giấy tờ chừng hơn một trăm). Vấn đề xin visa vào Việt Nam chắc chắn phải liên hệ với các tòa đại sứ hoặc lãnh sự của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam. Đó là khởi điểm cho những cuộc giao thiệp, làm ăn với Việt Cộng sau này.

Ông Tân, một giáo sư có bằng cử nhân Anh Văn, một thời làm hiệu trưởng một trường trung học tư thục đầu tiên của người Bắc di cư tại Saigon, một hôm đến tiệm sách của vợ chồng Hùng khẽ đề nghị:

– Anh Hùng à, sẵn có cửa tiệm rộng rãi, sao không làm luôn việc gửi quà, gửi thuốc về Việt Nam? Nếu anh muốn, tôi sẽ giới thiệu anh với một người bạn bên Pháp đang nhận gửi những gói quà thuốc tây về Saigon…

Hùng ngần ngại, lắc đầu:

– Mình đâu có thể làm…chuyện đó anh!

– Sao lại không thể? Anh không thấy…người ta đang gửi quà ầm ầm về nước đó sao?

– Tôi biết chứ. Nhưng anh à, có những cái người khác làm được, mà mình thì không. Ông Galilé chỉ vì biết trước…trái đất quay quanh mặt trời…trong lúc mọi người tin trái đất là trung tâm điểm của vũ trụ mà bị tù…Ai cũng biết chắc là không chóng thì chầy, những công việc liên hệ tới Việt Nam rồi sẽ tới…nhưng ngay bây giờ không phải là thời điểm tốt để làm những chuyện đó. Cái lý sự cùn của Hng không thuyết phục nổi ông cựu hiệu trưởng khiến ông Tân thở dài, nói:

– Mình không làm…thì cũng vẫn có người làm thôi. Anh thấy đó, biểu tình chống du lịch Việt Nam mãi…có làm cho ai ngán đâu…người ta ùn ùn về…đấy thôi. Cuối cùng rồi cũng êm luôn.

Hùng lắc đầu:

– Thà là người khác làm…chứ mình không làm…Anh thấy không, bên các trại tỵ nạn bây giờ, họ đang phân loại…tị nạn chính trị…và tị nạn kinh tế đó sao? Vì có những người thơi thới hân hoan du lịch Việt Nam rồi lại trở ra an toàn…khiến cho người ta nghi ngờ sự ra đi của các thuyền nhân sau này…không còn tính chất tị nạn chính trị nữa. Những ai không thuộc thành phần gia đình quân cán chính của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa hay đã từng làm cho người Mỹ thời trước đều được xếp vào loại Tị Nạn Kinh tế và phải hồi hương. Đó là ảnh hưởng bất lợi trầm trọng đầu tiên của việc du lịch Việt nam.

Ông Tân cũng lắc đầu quầy quậy:

– Từ khi Mỹ bỏ cấm vận cho Hànội thì những công việc liên hệ tới Việt Nam đâu có còn bất hợp pháp nữa. Mình có làm cũng là thực hiện quyền của mình thôi, ai cấm cản được.

– Ông Tân ạ, tôi đâu có nói là làm việc phi pháp. Nhưng, có những việc nằm trong quyền hạn của mình, nhưng vì lương tâm, mình không nên làm. Tôi lấy một thí dụ…như cái tên phóng viên chụp cái hình tướng Loan kê súng bắt vào đầu kết liễu đời một tên Việt Công ác ôn vừa tàn sát cả gia đình một nhân viên dưới quyền ông ta. Dù biết Việt Cộng từng làm nhiều chuyện tàn ác gấp trăm lần tướng Loan, nhưng hắn đã bất công khi chỉ vạch cái không hay của một bên. Mặc dầu đây là đệ tứ quyền, nhưng nếu người có lương tâm sẽ không nại cái quyền này để tìm kiếm danh vọng cho mình bằng cách làm hại kẻ khác. Như ông cũng đã biết đấy, giới truyền thông, báo chí là giới to mồm nhất khi nại đệ tứ quyền để hãm hại kẻ mình ghét, nâng bi kẻ mình ưa, mà thí dụ hiển nhiên là chính vì bọn này gây nên cao trào phản chiến tại khắp nơi, đưa tới việc người Mỹ bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa chúng ta.

Tuyết đứng bên thấy chồng không lo buôn bán, mà “thoóc” một cách say sưa như đang diễn thuyết, thì đến bên, nhắc chừng:

– Vấn đề đó ai đó chả biết mà anh nói nhiều quá vậy…Mấy ông làm báo ở đây…cũng nhân danh “quyền tự do báo chí” mang đời tư người ta ra mà bêu rếu, còn chuyện chính trị thì…nguyên một trang đầu…mấy cái tin lớn đều nói về hoạt động của mấy tên Cộng Sản gộc của “chính phủ Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” sang Mỹ quậy, làm quảng cáo không công cho mấy ban văn công sang Mỹ giao lưu văn hóa một chiều…thì chẳng thấy anh nói gì…chuyện xa xôi…bên Tây, bên Mỹ thì rành lắm…yên phận thủ thường lo buôn bán kiếm cơm là chắc ăn…

Hùng lừ mắt:

– Gớm…em cũng nói ít quá! Lo khách khứa đi bà.

Ông Tân thấy có chiều hướng…không thuận lợi trong công chuyện rủ Hùng làm ăn chung, nhất làkhi hai vợ chồng Hùng đã bắt đầu…giao tranh…nên gượng cười:

– Thôi anh Hùng nhé…tưởng tụi mình có thể làm một cái gì…kiếm thêm…nhưng nghĩ ra cũng không nên…

Rồi ông nhìn ra ngoài, như bất chợt thấy điều gì, nói lớn:

– Ồ, muộn quá rồi…mải nói chuyện quên cả giờ giấc…Thôi tôi xin phép anh chị tôi về…

Vừa nói, ông vừa chìa tay bắt tay Hùng, gật đầu chào Tuyết, rồi lật đật đi ra.

Tuyết nhìn theo:

– Anh nói làm gì cho ông ấy…buồn…

Hùng lắc đầu:

– Mẹ kiếp…lợi một chút là đã tính cả chuyện nối giáo cho giặc…

Tuyết cười mũi:

– Hừ, đừng có mạnh miệng…khối đứa nó nói…ông bán sách Hoa Xuyên Tuyết của Bùi Tín, Thiên Đường Mù của Dương Thu Hương…, những tên đối lập cuội là gián tiếp cổ võ âm mưu văn hóa vận của Cộng sản kia kìa.

Hùng xùng lên:

– Này, đừng có nói láo nghe. Thằng nào?

– Thì ông Đỉnh Biệt Động Quân đó.

– Ha ha…Hôm đầu tiên phát động biểu tình chống du lịch Việt Nam…hắn đi đầu. Nhưng, bây giờ đã về Việt Nam lần thứ hai rồi…Kẻ như vậy đừng có mở miệng phê bình người khác.

Tuyết cười nửa miệng:

– Vì thế, mình cũng đừng nói người ta. Buôn bán sống qua ngày…nuôi con cho nên người…

– Hừm. Nói như vậy thì nói làm chó gì. Đàn bà chỉ có bàn rùn.

Có người khách hàng đến trả tiền…khiến Tuyết chưa muốn ra lời. Chị tính tiền rồi bỏ vội cuốn sách vào bao ni-lông, trao cho khách. Người này vừa quay đi, chị đã nói:

– Bàn rùn hay bàng căng…cũng chẳng đi đến đâu đâu ông ơi. Ngữ mấy người hết thời rồi…chỉ nói cho sướng miệng…chứ kháng chiến kháng chung nỗi gì. Hãy làm gương cho bọn trẻ…đừng có mà chửi lộn nhau như quân ngoài đường đã là may lắm rồi…

– Làm gương, bà đừng lo. Bà ráng làm gương cho con gái bà đó!

May giờ này, cửa tiệm cũng vắng khách nên hai nên mỗi người nói một câu, chuyện lành thành chuyện dữ mấy hồi. Nhưng khi Hùng nhắc tới Thúy, Tuyết khựng lại, đổi liền sang chuyện khác:

– Này…anh chàng Đương có…

– Đã bảo ít ra người ta cũng là thẩm phán…may mà con Thúy có được một người bạn Việt Nam như anh ấy.

Thúy cũng gật đầu:

– Tính nó cũng “thuần” hơn trước.

– Gớm, bà làm như nó là ngựa chứng không bằng…Mẹ với chả mẹ…rõ chán.

Tuyết không giận mà chỉ gật đầu:

– Tôi biết ông chán từ lâu rồi…Ông thử tìm một “con ông không chán” tôi coi. Nhưng ông không “chán” nó…thì nó cũng chán ông thôi…Mà bên này…nó không bán thuốc “suyt-ta-nông” ta? Chắc phải nhờ anh Bằng mua bên Tây cho…về chích đã rồi hãy tính chuyện…xa hơn.

Có mấy người khách vừa vào tiệm, hai người tạm “hưu chiến”.

Thực ra, những câu chuyện đôi co về chính trị, chính em vẫn thường xẩy ra trong mọi gia đình, mọi nhóm, mọi hội đoàn, mọi cộng đồng tị nạn, và thường kết thúc bằng sự không ai thắng, ai bại, vì những chuyện bàn ra, tán vào chỉ là chuyện tầm phào. Người nào muốn biến chuyện tầm phào đó thành cụ thể như cùng nhau đi biểu tình, hoan hô, đả đảo thì sẽ có người dè bỉu là chống cộng theo kiểu Việt Nam Cộng Hòa…ám chỉ là lạc hậu, là “stupid”.

Trước đây, một anh vốn dĩ là một tên sinh viên phản chiến thời chiến tranh Việt Nam. Khi một số nhà “trí thức” tị nạn tại vùng này, vì cái đau mất nước, vì chuyện muốn phục hưng tổ quốc, có hùn nhau xuất bản một tờ báo đấu tranh. Anh cựu sinh viên phản chiến cũng được giới thiệu đến hùn hạp. Ngay số đầu, anh này đã thuốc mấy ông chống Cộng:

– Các anh chống Cộng theo kiểu ở Việt Nam…là chống Cộng lỗi thời, hạ cấp. Mình phải chống nó bằng đầu óc, bằng lý luận chứ không bằng những bài chửi bới…có tính cách tuyên truyền. Mình phải tỏ mình là trí thức. Bên đối phương có gì hay, mình phải thẳng thắn công nhận là hay, đến khi mình phê bình cái dở của nó, người đọc mới thấy là mình công bằng, do đó lý luận của mình mới thuyết phục được đọc giả.

Mấy vị cựu luật sư, cựu thẩm phán, cựu bác sĩ…nghe thấy có lý quá. Vì thế, để tỏ ra quân tử, ngay số đầu được anh phản chiến mớm lời, đã có những bài ca tụng những cái hay của Cộng sản…Nhưng, cuối cùng, tờ báo không sống nổi tới số thứ ba…vì hềt tiền, do đó chưa kịp đăng những bài phê bình “cái dở” của Cộng Sản, nhất là Cộng sản Việt Nam. Tệ hơn nữa, anh phản chiến gửi những số báo đó sang Tây, rồi về tới Việt nam. Thực là dại…to đầu mà mắc hỡm thằng con nít!

Thế nhưng gần đây, cũng vẫn những lý luận “ăn người” kiểu của “anh nhóc sinh viên phản chiến”, bọn bồi bút cũng viết những bài hô hào giao lưu văn hóa, nhưng chỉ giao lưu một chiều từ trong ra ngoài bằng những cuộc trình diễn “có tính chất văn hóa” như triển lãm tranh chung giữa các họa sĩ trong và ngoài nước, các đoàn văn công, đoàn múa rối nước sang trình diễn, các buổi diễn thuyết về Việt Nam ngày nay trong các trường đại học. Có những anh nhà báo nhân danh tự do ngôn luận, viết những bài giới thiệu các buổi giao lưu này. Nhiều người phản ứng bất lợi, kết tội các anh là những cò mồi của đối phương, các anh hô lên là bị xâm phạm tới đệ tứ quyền…Ôi, mấy ông nhà báo! Nào có ai phản đối những vụ đó vì nghệ thuật, mà vì cái hậu ý chính trị, qua đó, Hà Nội bầy hàng bộ mặt tự do lừa bịp, chính sách văn nghệ “cởi mở” giả hiệu của chế độ Cộng Sản Việt Nam để biện minh cho các lời kết tội của thế giới bên ngoài, chối cái tội đàn áp đối lập, tước đoạt mọi quyền tự do, nhân quyền của bảy mươi triệu dân, kìm kẹp dân chúng như người nô lệ thời xa xưa.

Hàng ngày nhìn những kệ sách trên đó, những cuốn do các nhà văn trong nước được phổ biến bán chạy như tôm tươi, nhiều khi Hùng cũng thấy mình không phải là không có lỗi. Nếu những cuốn sách đó mà tác giả được nhận diện là một thứ đối lập cuội thì cương quyết không nhận phổ biến là đúng. Lời lãi là bao nhiêu chứ? Ai cũng nhận thấy rằng mấy người này chỉ tố những cấp lãnh đạo mà họ cho là đi sai đường lối cách mạng, họ không hề phủ nhận thẳng chế độ Cộng Sản. Họ còn nói tới những người Cộng sản chân chính…và kêu gọi những thành phần này tranh đấu cải tổ chế độ…Điều thứ hai là những sách họ viết phê bình nặng lời cấp lãnh đạo hiện nay, họ có bị bắt giữ, bị đưa ra tòa v.v nhưng so với những người quốc gia chân chính tranh đấu trong lòng chế độ như Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt, Bác sĩ Đỗ Đan Quế, chỉ vì mấy tờ Newsletter có những bài góp ý… phải mang những bản án nặng nề hơn họ rất nhiều. Không những thế, Dương Thu Hương chẳng hạn, còn được xuất ngoại, được sang Tây lãnh nhận huy chương…thì cũng lạ đấy chứ? Nhưng thực ra, chuyện về các nhà văn gọi là phản kháng là chuyện dài nhân dân tự vệ…và cũng là lý do khiến cộng đồng tỵ nạn chia rẽ…

Bây giờ nghe Tuyết chích ngay vào mình một mũi…khá nhức nhối khiến Hùng lặng thinh. Tuy nhiên, trong thâm tâm anh…cũng thấy rằng mình nên thay đổi…

Gần năm giờ, thời điểm khách vào ồ ạt trước khi tiệm đóng cửa. Vợ chồng Hùng tíu tít trả lời khách, hướng dẫn tới những kệ sách mà khách muốn tìm, tính tiền, gói hàng nên câu chuyện “quốc gia đại sự” tạm hoãn.

Gần giờ đó cửa, Thúy và Đương tới. Hùng vui vẻ bắt tay Đương, trong khi Thúy đang mở gói đồ lấy ra chiếc “robe” mới mua ra, trải trước mặt Tuyết, nói:

– Con mua cái áo này để mami mặc Christmas đấy nhé.

Gia đình Hùng từ lâu đã không còn cái tục xếp quà chung quanh cây thông Giáng Sinh nữa, vì hai đứa con đều lớn cả. Vì vậy, Thúy mới mua quà biếu mẹ trước để mẹ mặc lễ. Đương không có đạo, nhưng cái tục lệ ngày Giáng Sinh anh cũng biết. Thấy Thúy nghĩ đến cha mẹ vào những dịp lễ tết khiến anh cũng rất hài lòng. Phải công nhận một điều là xã hội Mỹ nói chung, nhà trường Mỹ nói riêng đã dậy cho trẻ nhỏ những cái lễ giáo bề ngoài rất kỹ, nhưng đồng thời cũng nhồi sọ con nít những quyền bình đẳng, tự do quá trớn…đến độ những cha mẹ Việt Nam có cảm tưởng con cái mình đều hỗn hào, luôn luôn tìm cách chống báng mình, hoặc những sự “sằng phẳng” đến độ mất cả tình nghĩa cha mẹ, con cái.

Tuyết có vẻ cảm động vì thấy cô con gái ăn nói ngọt ngào với mình, nên cười:

– Tao già rồi, áo quần còn cả đống…mua mới làm gì cho uổng tiền…mày giữ mà mặc.

– Ô không được. Con mua cho mẹ mà…con đâu có mặc kiểu…các bà này.

Hùng thấy con nói tiếng Việt kiểu đó, nhìn Đương lắc đầu:

– Anh thấy không, bọn nó nói tiếng Việt hay vậy đó. Nhưng…còn đỡ hơn trước nhiều rồi…

Hùng muốn ám chỉ thời Thúy chưa quen biết Đương. Đương cũng hiểu ý, gẫt đầu:

– Tiếng mình cũng khó lắm cơ…Mấy cô mấy cậu ấy ở bên này, nói được vậy cũng là khá lắm rồi…Mình phải có thời gian, bác ạ.

Tuyết nghe chuyện hai người, cũng nói toạc ý nghĩ của mình:

– Nhà tôi nói đúng đó…từ ngày nó quen anh đến giờ…nó nói khá ra đấy…

Thúy ngúng ngoảy, nói nũng:

– Con mua áo cho mẹ…mà mẹ còn nói xấu con nhé…

Cả ba người lớn đều cười. Đương nói với Thúy:

– Mẹ đâu nói xấu Thúy, mẹ khen Thúy học tiếng Việt tiến bộ mà.

Tuyết thấy không nên để cho con mất vui, nên cầm lấy cái áo, bỏ lại vào bao ni-lông, rồi cười:

– Thôi, được rồi, cái áo này cũng đẹp đấy, mẹ cám ơn. Để đây, tối tao mang về thử…

– Good, để tối con về xem, nếu không vừa, mai con đổi size khác.

Hùng nhìn con:

– Con với anh Đương ăn gì chưa…hay mình đi ăn tối

cho vui nhé.

Thúy reo lên:

– O.K, ba bao tối nay nhé?

– Ừ. Mình đi Vũng Tầu nhé.

Tiệm đã đến giờ đóng cửa, Đương không để lỡ cơ hội, nhanh tay giúp Hùng kéo một bên cửa sắt, trong khi mẹ con Tuyết đếm vội tiền trong hai ngăn kéo.

 

 

CHƯƠNG MƯỜI BẢY

 

Quán cà-phê là nơi đầy bóng tối, bóng tối của cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Giữa trưa hay nửa khuya, bước vào đây cũng thứ ánh sáng mờ mờ, mấy chiếc đèn cực tím làm nổi bật những tranh ảnh treo trên tường. Mỗi quán khác nhau về rộng hẹp, nhưng thường cũng chia làm hai khu, một khu hút thuốc và một khu không. Trong cùng, thường là mấy bàn chơi game điện tử, tiếng bíp bíp, tiếng xành xạch như âm thanh súng điện tử…xen lẫn trong âm thanh nhè nhẹ của một bản tình ca ngoại quốc hay Việt Nam.

Nơi này, cảnh sát địa phương đã coi như là một trong những nơi họ cho chụp lén hình những thanh niên, thiếu nữ hay lui tới với những hành tung không được rõ ràng để cho vào cuốn sổ đen. Mỗi khi có một vụ phạm pháp, các nhân chứng thường được cảnh sát cho xem cuốn sổ đen này để nhận diện, vì một trong số những người đó có hình trong có thể là thủ phạm. Cộng đồng Việt Nam ở đây cũng đã phản đối việc làm này của cảnh sát. Nhưng nói cho cùng, những thành phần bất hảo: dân ma cô, buôn lậu bạch phiến, tranh gái, đâm thuê chém mướn thường dùng nơi đây làm nơi hò hẹn. Những giờ giấc khách khứa tấp nập đều là những lúc các thanh thiếu niên sinh viên học sinh chân chính đang phải học ở trường hoặc sống với gia đình. Cũng nơi này, những vụ đâm chém, nổ súng thanh toán nhau thường sẩy ra, có khi gây thành án mạng.

Tuấn rất ngạc nhiên khi Bắc hẹn gặp nó tại quán ca-phê Du Dương. Bắc chỉ một gã đang ngồi nhâm nhi ly cà-phê đen, phì phà điếu thuốc.

Lần đầu tiên trông một gã đầu bù, mặc áo jacket thêu rồng sau lưng nổi bật dưới ánh đèn nê-ông tím ngắt, kiểu áo mấy tay cỡi mô-tô thường mặc trong mấy phim “găng tơ”, nếu Bắc không nói trước là người từng cứu chị Hoa và Micheal khỏi những nhát dao của thằng Jack thì Tuấn đã từ chối gặp mặt.

Lúc đó đã tám giờ tối. Các bàn trong quán gần như đầy hết. Tiếng nhạc, tiếng game điện tử, tiếng nói rì rào tạo thành một thứ âm thanh òa ào, hỗ loạn.

Thấy hai người vào, Tư Chơi mới vội đứng lên bắt tay thân mật. Tuấn vừa ngồi xuống ghế đối diện, vừa nói:

– Cảm ơn anh đã giúp bà chị tôi.

Tuấn phải nói thật gần, Tư Chơi mới nghe thấy. Hắn khẽ cười:

– Đâu có gì anh. Bọn này đụng độ như thế là thường.

Giọng nói nhẹ và yếu khiến Tuâán nghĩ ngoài cái áo ra, hắn không có vẻ gì là…dân anh chị.

Bắc kêu cà-phê cho nó và nước cam cho Tuấn. Hắn nói huyên thuyên về cuộc gặp gỡ của Tư Chơi với Micheal. Tuấn thấy như vậy cũng đẹp cả hai bên.

Bỗng cách xa chỗ bọn Tuấn ngồi chừng hai bàn, một thanh niên đứng vụt lên, quay lại bàn sau, nói lớn:

– Mày muốn dê…girl friend của tao hả…Tao lại bắn bỏ cái mặt chó mày bây giờ chứ.

Gã này mặc chiết jacket mầu đỏ sẫm, trên lưng có thêu đầu cọp bằng kim tuyến sáng lấp lánh.

Cô gái, tóc cắt ngắn ngồi bên, vội kéo tay hắn:

– Thôi mà…nó mới đá chân “me” chứ đã làm gì đâu.

Gã thanh niên kia cũng đứng lên:

– Mẹ kiếp…cái con “bitch” đó…tao…thèm…

Một cái tát chớp nhoáng bay sang, kêu cái “bốp” khiến gã kia hết nói tiếp được…loạng choạng ngửa ra sau…Cùng một lúc, hai gã thanh niên khác ngồi đối diện với cô gái đền đứng lên. Thanh niên bị đánh và gã cùng bàn vội vàng đứng bật dậy. Hai bên hằm hè nhau. Có tiếng lách cách của mấy con dao tự động mở ra.

Tư Chơi dời chỗ ngồi, tiến nhanh đến bên bọn thanh niên sắp ẩu đả nhau. Hắn đứng giữa, giơ hai tay ra:

– Thôi mấy bạn…chuyện có gì đâu mà đã định động thủ? Đây là chỗ người ta làm ăn. Nếu không nhịn được, nên ra ngoài tiệm tốt hơn.

Gã đánh người hạ hỏa, kéo tay cô bạn đứng lên, bảo các bạn:

– Đếch thèm ngồi đây nữa…sang bên kia…đi.

Sau câu nói, cả bọn bốn người ồn ào bỏ đi.

Tên bị tát tai hậm hực, tính đuổi theo. Gã bạn không phải là nạn nhân, nên bình tĩnh hơn, đưa tay ấn vai hắn ngồi xuống, rồi gã cũng ngồi theo. Sau đó, hắn nói nhỏ với bạn chuyện gì đó khiến tên kia gật đầu, nhưng tay phải vẫn đấm xuống bàn một cách bực tức. Hắn lấy trong túi áo ra chiếc điện thoại cầm tay, bấm số, nói một lúc, rồi cất lại vào túi. Hai đứa uống vội ly nước trước mặt, rồi cùng đứng lên ra về.

Tư Chơi thấy câu chuyện đã kết thúc, quay trở lại bàn mình. Hắn lấy thuốc, châm lửa rít mấy hơi liền.

Tuấn thấy cũng không nên ở đây lâu, nên nói:

– Anh Tư Chơi lúc nào rảnh tới tôi chơi nhé…bây giờ…

Bắc hiểu ý, gật đầu:

– Tuấn nó bận học final, để lúc khác mình nói chuyện lâu hơn nhé.

Tư Chơi gật đầu:

– Phải đấy, Bắc đưa anh Tuấn về đi. Rảnh thì quay lại…Tao còn một ít nữa…chưa về được.

Tuấn không hiểu chuyện, nhưng Bắc biết Tư Chơi có hẹn…trao “drugs” cho “khách hàng”, lên lắc đầu:

– Tao không trở lại đâu…

Tuấn ra khỏi tiệm cà-phê cảm thấy khoan khoái. Cái không khí ngột ngạt, xô bồ bên trong đó nó không quen, nhất là khói thuốc lá phải hít vào đến ngộp thở.

Ngày hôm sau, báo chí địa phương đăng tin một thanh niêm mặc áo jacket thêu đầu hổ bị bắt chết bởi mấy tay súng vừa shotgun, vừa tiểu liên AK tại một tiệm billard trên phố vào lúc hai giờ sáng. Cảnh sát cũng đã tìm ra manh mối vụ thảm sát bắt đầu từ tiệm cà-phê Du Dương vào buổi tối. Có điều báo chí cho đây là một vụ thanh toán lầm đối tượng…vì họ nói thanh niên bị giết là một người đàng hoàng, sau buổi làm shift đêm, tan sở lúc mười hai giờ khuya, ghé lại tiệm billard chơi thì bị bọn kia nhìn lầm.

Dù lầm hay không, chuyện này cũng làm cho mọi gia đình người Việt trong vùng phải suy nghĩ, phải thảo luận với các con lớn trong nhà về những sinh hoạt bên ngoài gia đình, nhất là nên tránh xa những nơi có thể là chỗ đụng độ giữa các băng đảng hoặc bọn bụi đời.

Ít ngày sau, Tuấn có dịp gặp lại Tư Chơi tại phòng chữa răng của Micheal. Tư Chơi không ngờ hắn có chiếc răng sâu, mấy hôm rồi hành nó quá, nên đến nhờ Micheal chữa dùm. Gặp nhau tại phòng đợi, Tuấn cảm thấy Tư Chơi biết nhiều chuyện, nhưng sợ cảnh sát bắt ra làm chứng rầy rà…lại lây sang chuyện khác thì rất phiền. Cuối cùng, để Tuấn yên tâm, hắn nói:

– Tuấn à…tui không thích cái trò…đấùm đá vô duyên đó đâu. Mình đã làm…gì…thì cũng phải làm cho ra chuyện…chứ đâu dính tới mấy cái lẻ tẻ trò con nít…ghen tương, tự ái vặt đó.

Tuấn nghe Tư Chơi nói…như một nhân vật trong truyện kiếm hiệp của Kim Dung…Với một anh bụi đời thì có chuyện gì “vĩ đại” hơn chuyện tự ái, tranh gái, giật mối làm ăn. Tuy nhiên, Tuấn cũng chẳng để tâm…vì nghĩ mình không có liên hệ gì mật thiết cho lắm với đời sống hay sinh hoạt của hắn về bàn vào. Tuy nhiên Tuấn nhận ra…gã du đãng này vẫn còn phân biệt được điều nên hay không nên làm. Khởi đầu từ đó, nếu có hoàn cảnh tốt, gã cũng có thể trở nên con người lương thiện. Vì có người ruột thịt máu mủ cần giúp đỡ, nên gã cố gắng giữ mình…không để liên lụy vào những vụ phạm pháp. Muốn thoát ly hoàn cảnh hiện tại và trở lại sống một cuộc đời lương thiện, cần phải có người giúp đỡ…hoặc gã trúng số độc đắc!

Tư Chơi tâm sự:

– Anh Tuấn ạ, tôi chỉ mong có dịp kiếm được kha khá một chút để về Việt Nam sống với gia đình. Ở đây…cô đơn, suốt đời làm du đãng…cũng khổ tâm lắm. Tôi đã trót nói dối với mẹ tôi là tôi làm nghề điện tử, lương mỗi tháng ngàn rưởi!

Sở dĩ Tuấn không thân thiện được với Tư Chơi vì Tuấn nghe nói gã thường bán lậu bạch phiến cho học sinh…việc này…vừa là một việc phi pháp đối với xã hội, vừa trực tiếp đầu độc giới trẻ, hủy hoại tương lai của chúng, trong đó phần đông là thanh thiếu niên nam nữ Việt nam. Công việc này tương đối nhàn hạ,ï lại dễ kiếm tiền. Nhưng trách Tư Chơi như thế cũng tội, vì không làm vậy, gã lấy gì sống. Vả lại gã còn phải thêm tiền gửi về nuôi mẹ già em dại còn ở quê nhà nữa! Vì có người ruột thịt máu mủ cần giúp đỡ, nên gã cố gắng giữ mình để tránh vướng mắc vào vòng lao lý. Nghe Hoa nói Michael muốn giúp đỡ Tư Chơi để nó có thể dứt bỏ được cuộc sống hiện tại để trở lại trường học là chuyện rất may cho gã. Tuy nhiên Micheal và Hoa chưa nói với Tư Chơi vì sự đi lại giữa đôi bên chưa đủ thân tình, khiến gã có thể từ chối việc giúp đỡ đó.

Micheal có vẻ vui khi thấy Tư Chơi đến phòng răng của anh. Sau khi trám cái răng sâu cho gã, Michael còn

đưa thêm bàn chải, thuốc đánh răng, dặn hắn kỹ càng về vệ sinh răng miệng. Michael tiễn Tư Chơi ra về với nụ cười cởi mở:

– Tuần sau chú trở lại theo hẹn để chữa tiếp nghe…Hôm nay mới trám tạm thời thôi.

Sau khi nhận cái các ghi buổi hẹn tới từ cô tiếp viên, Tư Chơi lí nhí chào Micheal và Tuấn ra về.

Sau khi khép cửa lại, Michael sẽ bảo Tuấn:

– Trông nó nhút nhát vậy mà khi đánh nhau với thằng Jack, nó nhanh nhẹn, nghề như mấy võ sĩ. Anh hy vọng sẽ giúp trở lại trường học.

Tuấn gật đầu:

– Nếu thế, anh phải tính đi…vì đời sống của nó…rất là bấp bênh, tù tội hay bị thanh toán lúc nào không hay.

Micheal ra hiệu để Tuấn vào phòng khám răng, hai người vừa đi, Michael vừa nói:

– Mấy đứa như thế hay tự ái vặt…chắc phải nhờ em hay chị Hoa giúp anh giải thích lợi hại cho nó.

– Nó vường vấn đề tiền bạc nuôi mấy người ở Việt Nam…

– Chuyện đó, anh cũng tính rồi…yên tâm đi.

Tuấn thấy Michael là người tốt, rất xứng đôi với chị mình, nên gật gật đầu tán thưởng những việc Michael định làm.

 

 

CHƯƠNG MƯỜI TÁM

 

    Thung lũng Silicon Valley nằm giữa hai dẫy núi Sierra và …..bắt đầu nổi tiếng khắp thế giới, và là tượng trương của nền kỹ thuật cao của Hoa Kỳ từ đầu thập niên tám mươi. Sở đĩ người ta dùng cữ Silicon để gọi miền này vì từ đó liên quan tới việc khám phá chất silicon, một chất bán dẫn dùng để tao nên những cái “chíp”, thành phần quan yếu của máy điện toán. Năm 1952, khi đại tướng Eisenhower ra tranh cử thổng thống Hoa Kỳ, người ta dùng một mấy điện toán với những bóng Vacum, tất cả bộ phận được chức trong hai gian nhà rộng lớn để tiên đoán số cử tri bầu cho ông. Ngày nay, nhờ chất silicon, người ta chế những bộ nhớ thu nhỏ khiến cái máy có khả năng gấp nhiều lần cái máy xưa, mà chỉ thu gọn bằng một cái va-li nhỏ. Rồi, theo sự tiến bộ rất nhanh của ngành này, cái bộ nhớ và các bộ phận khác của máy khiến cho khả năng của máy điện toán ngày một trở nên kinh khủng. Chỉ trong một thập niên, tiến bộ của ngành điện toán có khả năng gắp trăm, gấp ngàn lần những máy tiên khởi dùng bằng chất silicon. Trong những máy này, bộ nhớ là bộ phận quan trọng nhất. Giá của một máy điện toán đắt rẻ khác nhau cũng do bộ phận này. Nó tiến từ khả năng giữ được nhiền dữ kiện, khời đầu chỉ được 64 ngàn chữ hay byte. Nhưng sau hai thập niên, bộ nhớ này đã lên tới nhiều tỉ byte, và giá mỗi cơ phận này lên tới tiền ngàn đô la, nhưng độ lớn của nó chỉ bằng một đốt ngón tay. Một số người gian, khi làm trong các hãng điện tử, nếu có thời cơ, mỗi tháng chỉ ăn cắp một hai cái là dủ tiền trả payment nhà.

Vì đây là vùng đang phát triển, nên một số đông người ti-nạn Việt Nam tới đây sinh sống. Chỉ được huấn luyện ba tháng học nghề assembly là có thể làm việc với lương 6, 7 đô la một giờ. Nếu có khả năng về học lực và tiếng Anh hơn, người ta có thể học một cấp cao hơn để trở thành Electronic Technician, khi ra trường có thể kiếm được việc với lương 10, 12 đô-la một giờ. Vì thế, ờ vùng này, người ta có câu “chồng tach, vợ ly” tức chồng học technician, còn vợ, kéo khả năng hơn thì học Electronic assembly.

Những người có khả năng đại học từ Việt nam hoặc các học sinh tốt nghiệp trung học ở Mỹ thường chọn ngành kỹ sư điện tử. Học về máy điện toán thì theo ngành hardware. Học viết thảo chương cho máy thì gọi là ngành software. Cả hai khi ra trường đều có mức lương khả quan.

Bắc đã lên đại học, ghi danh học ngành Computer Science, chuyên về hardware. Dù mới học năm đầu với những môn tổng quát, nhưng nó đã biết khá nhiều về máy điện toán, nhờ một số bạn bè của bố nó là những chuyên viên máy điện toán.

Một hôm Bắc về nói với bố:

– Bố có biết ông thiếu tá Khản không?

Tài gật đầu:

– Biết…hắn chạy thoát một mình từ năm bẩy lăm…mới bảo lãnh cho cả gia đình một vợ bốn con sang Mỹ vài năm nay.

– Thế thì đúng rồi. Con gặp cái anh Quyền con ông ta…hôm qua đi ăn phở với thằng bạn con. Anh ta khoe mới mua một căn nhà trên đồi…Hamilton…

Tài nghĩ ngợi, rồi nói:

– Thằng nói phét. Bố nó còn sống vất vưởng ở cái xứ này từ đó đến nay, mẹ con nó mới sang, làm nghề ngỗng gì mà…mua nhà trên đồi cả nửa triệu đồng.

Bắc quả quyết:

– Con cũng không biết…nhưng thằng Sang, bạn con đã tới chơi…nó nói đẹp lắm…Anh ta nói…nếu con muốn sẽ giới thiệu đi làm.

Tài chỉ ngồi cười gượng, lắc đầu.

– Tao không tin. Nhưng nếu thích, mày thử theo hắn xem sao.

Rồi anh chép miệng:

– Đứa nào sang đây…có tiền cũng chỉ lo cho cá nhân mình…Nếu mỗi người tị nạn bỏ ra mỗi tháng một đồng…thì mấy ông kháng chiến đâu phải đi xin việt trợ thằng nào.

Bắc khẽ nói:

– Con thấy người ta nói…mặt trận của ông Đề Đốc gì nhiều tiền lắm, phải không bố?

Mạnh nhíu mày:

– Cả một hệ thống tiệm phở…rồi tiền đóng góp của ủy ban yểm trợ lên cả tiền triệu của bao nhiêu người đóng góp nữa…rồi họ cũng chẳng làm nên chuyện gì cho quê hương. Tiền vào là thấy “gấu ó” nhau rồi, cuối cùng nó lại chạy vào túi đứa nào..mà cho đến nay…chìm xuồng luôn! Tao nghĩ, chỉ có bọn trẻ tụi bay có làm được cái gì cho đất nước thôi…chứ còn bọn xôi thịt…trước sau thì cũng chỉ là bọn xôi thịt, đíu đứa nào làm nên trò trống gì đâu.

Tài là loại người không biết làm có hay hơn ai không, nhưng ngồi chửi đổng thì…hay lắm.

Một buổi chiều, Bắc lái xe trên xa lộ 680, vừa ra exit N. King road thì bỗng nghe có nhiều tiếng súng nổ phía xa lộ. Sau đó là tiếng còi hụ của cảnh sát vang lên, nhiều xe cảnh sát vượt cả đèn đỏ hướng về phía xa lộ. Xe cộ kẹt cứng vì phải ngưng lại, nhường đường cho xe cảnh sát lớn, nhỏ chạy vùn vụt qua. Bỗng Bắc thấy tiếng đập cửa xe, nó quay lại, vừa trông thấy thằng Sang, mặt mày tái mét, đang cố vặn tay cửa. Bắc nghiêng người bật nút cửa cho Sang. Cửa vừa mở, nó nhào vào trong, đóng chặt lại, hối:

– Chạy lẹ đi mày…Đi.

Nó nói như hét lên. Bắc nhìn Sang, ngạc nhiên:

– Mẹ kiếp, đi đâu mà như ma đuổi vậy mảy? Đông xe, kẹt cứng…chạy gì nổi.

Sang lắm lét nhìn tứ phía, biết là không có cách gì thoát khỏi rừng xe bất động chung quanh, nên đành ngồi co trên ghế, chân tay run lập cập. Bắc không để ý tới Sang…vì lúc này xe cộ đã chuyển bánh đôi chút. Mất đến cả nửa giờ Bắc mới lái xe về được tới nhà chỉ cách đó chưa đầy hai “mai”.

Vào đến nhà, thằng Sang còn run. Nó nằm vật ra chiếc sofa ngoài phòng family room thở thoi thóp như con cá vớt ra khỏi mặt nước.

Hắn phều phào:

– Khóa cửa lại đi mày.

Tài không có nhà, Bắc lấy ra lon cô-ca, đưa cho Sang một, nó tự mở ra tu một hơi.

Bắc ngồi xuống bên Sang, hỏi:

– Mày làm gì mà như ma đuổi vậy?

Sang nhíu mày, rồi lắc đầu:

– Tao cũng không biết. Anh Quyến con bác Khản bảo tao ngồi chung xe với một thằng tao chưa biết tên để đi …học nghề. Xe chạy lên dốc cầu vào xa lộ sáu tám mươi. Đàng sau tao còn hai ba xe nữa.

Hắn uống một ngụm nước, rồi tiếp:

– Khi vào tới xa lộ, chạy về hướng bắc thì bỗng nhiên tên lái xe tốp bên lề đường, hét lớn trong điện thoại cầm tay:

“- Coi chừng. Đàng trước có xe cảnh sát.

“Tao vội nhìn ra phía sau, thấy một cảnh tượng như trong movie…Một chiếc xe van mầu trắng vừa bị chặn lại bởi một chiếc xe du lịch. Sau đó, hai cái xe cùng xuất phát từ đường 13 với xe tao, ép hai bên hông. Từ trong xe, bốn năm đứa tay lăm lăm súng ống nhảy ra, mặt đứa nào trùm mũ len tránh tuyết, chỉ hở mắt và mũi, trong đó tao chắc có cả Quyến. Chúng vây kín chiếc xe van. Một đứa mở cửa trước, lôi tài xế xuống, hai đứa bắn gẫy ổ khóa cửa sau để vào trong xe. Mấy đứa còn lại trấn vòng ngoài. Vừa lúc đó, không biết từ đâu, xe cảnh sát hú vang trời. Thằng lái xe hốt hoảng cho xe nhào ra , nhấn ga vọt lẹ. May mà chung quanh cũng có những xe khác, nên không bị cảnh sát chặn lại. Vào tới đường trong, hắn đẩy tao xuống đường, bảo chạy đi… phúc bẩy mươi đời…tao trông thắy xe của mày…”

Bắc hốt hoảng:

– Như vậy…là chúng mày đi ăn cướp rồi…Mà trong xe van có gì chứ? Đâu có phải là xe chở tiền…phải không.

Sang gật đầu:

– Có lẽ…loại xe van thường thôi. Tao mới chỉ được…đi xem chứ đâu đã tham gia vụ này…

– Bây giờ mày tính sao?

– Cho tao ở đây vài ngày đi…

– Để tao hỏi bố tao đã.

– Mày có định nói chuyện của tao với ổng không?

– Nói chứ. Vì nếu cảnh sát biết mày cùng bọn…có thể truy nã mày…mà nhà tao chứa mày…thì cũng bị tội…đồng lõa.

Bắc nói theo sự hiểu biết sơ sài về luật pháp, tuy thế cũng không đến nỗi sai lắm.

Hai đứa nằm nghỉ, đợi Tài về. Bắc nghe ngóng, chỉ sợ cảnh sát ập tới bất ngờ.

Buổi chiều, Tài đi làm về, nghe Bắc nói chuyện về thằng Sang, ông cau mặt:

– Tao có nghe…vụ F.B.I và cảnh sát San Jose giăng bẫy bắt trọn ổ bọn cướp Chíp điện tử ngoài xa lộ.

Ông nhìn Sang, lắc đầu:

– Nếu mày “hi sinh” làm việc đó kiếm tiền cho kháng chiến thì tạm được…còn như để mua nhà trên núi…như bố con lão Khản thì đáng phải ngồi tù lắm. Đi ăn cướp chíp Intel một vụ là mua được nhà trên đồi…chứ khó khăn gì. Nhưng thôi, mày đâu biết bị bọn đó đánh lừa…nên không sao…cứ ở đây mấy ngày.

Tài đến bên, xoa đầu nó, nói:

– Như tao là người Mỹ thì đã nộp mày cho cảnh sát…nhưng người Việt mình còn có chút tình cảm…nên cứ ở đây…Nhớ lần sau chọn người mà tin.

Buổi tối, chi tiết vụ cướp được nói trên TV địa phương. Câu chuyện xẩy ra từ lâu rồi. Cảnh sát thả người vào hoạt động chung với bọn cướp, như một người bán chip ăn cắp. Sau khi đã gây được tín nhiệm trong một ít vụ buôn bán lẻ tẻ dăm ba chục ngàn, họ bắn tin chiếc xe van của hãng Intel chở mấy triệu bạc tiền chip, bộ nhớ của máy điện toán, mỗi chiếc chỉ bằng móng tay cái, nhưng giá tới sáu bẩy trăm đô la một cái, sẽ di chuyển trên xa lộ 280 và 680 về nhà kho ở Milpitas, vào ngày hôm qua. Bọn cướp, trong đó có tên Quyến là một trong số những đứa chủ mưu, tổ chức vây chiếc xe van trên xa lộ để cướp số chip trên. Cảnh sát bổ lưới…bắt trọn ổ. Nghe nói tên chỉ huy là một…phụ nữ…điều khiển cuộc hành quân ăn cướp từ một sòng bài ở đâu đó, cũng bị sa lười luôn. Cảnh sát loan tin thêm về một số đồng lõa còn tại đào khiến cho thằng Sang tái mặt.

Bắc cho Sang ở trong phòng mình, và cấm nó không được ra ngoài.

Bắc ái ngại hỏi cha:

– Ba à, nhỡ cảnh sát…biết nó ở đây?

Tài trấn an:

– Không sao…mình cứ nói chẳng biết chuyện gì…nó là bạn học của mày, xin ngủ nhờ một tối…thôi.

Cả đêm, Bắc suy nghĩ hoài về câu của ba nó nói…là thà số tiền cướp được dùng để giúp kháng chiến chống Việt Cộng! Hừm, mấy thằng đó thì nghĩ gì đến quê hương…, đến đất nước.

 

 

 

CHƯƠNG MƯỜI CHÍN

    Đó là duyên số. Hoành gặp Mimi ngày trước tại hồ bơi trong câu lạc bộ, một Mimi sa đọa, nghiện hút ma túy, một Mimi với cuộc sống bất cần này mai. Từ ngày Hoành giúp Mimi cai thuốc, giúp Mimi lấy lại tin tưởng ở tương lai, trở lại đại học cộng đồng tiếp tục học ngành thẩm mỹ, và trở nên một partner rất ăn ý của Hoành giữa cái xã hội hào nhoáng của những ông bác sĩ, dược sư Việt Nam tại Mỹ.

Với thân hình nẩy nở, khuôn mặt vui tươi và nhất là biết cách trang điểm, biết chọn lựa y phục thích hợp, trang nhã khiến Mimi trở nên một mẫu người lý tưởng của phu nhân các vị khoa bảng, nhất là các bà đã có “chức” bác sĩ ngay từ Việt Nam, dù sang tới đây đã được bàn tay giải phẫu ngành thẩm mỹ tận tình sửa chữa, bớt đi những cái thừa, thêm vô những nơi thiếu hoặc uấn nắn lại nhưng nơi xô lệch. Chung quanh Mimi luôn luôn có các bà, các cô hỏi cô về cách trang điểm, cách giữ làn da tươi mát, các loại mỹ phẩm thích hợp. Vì thế, trong các buổi liên hoan của cái “High Society” của giới y dược sĩ, Hoành rất hãnh diện với sự có Mimi đi bên mình. Từ sự giúp đỡ ban đầu như một bệnh nhân tới những buổi đi chơi với nhau như một tình bạn…và từ sự hãnh diện có một người bạn được nhiều người thương mến, tình yêu đã tới với Hoành.

Mẹ của Hoành tuy đã sống ở Mỹ nhiều năm, nhưng sang trọng nhờ có con là một bác sĩ, nên sự suy nghĩ vẫn còn nhà quê. Vì thế, thấy bồ của con trai được các bà các cô hỏi han, săn đón thì cũng vui lòng. Vả lại, Lâm vẫn còn một chút lương tâm, nên khi thấy Mimi quen thân với một bác sĩ, ông ta cũng mừng cho cô và cố gắng làm đẹp mặt cho mẹ con Mimi bằng cách đóng trọn vai trò của một ông cha ghẻ tốt bụng, do đó, mẹ của Hoành so sánh với mẹ của Mimi, thực không bằng. Nhờ vậy, việc hôn nhân của Hoành và Mimi được tiến hành một cách rất thuận lợi cho cả hai bên.

Những thanh niên thiếu nữ lớn lên tại xã hội Mỹ, thường thiếu tính lãng mạn, dù trong tình yêu. Vì vậy, đôi Hoành-Mimi thiếu hẳn những tháng ngày thơ mộng tiền hôn nhân. Hoành bận với bệnh nhân, nên thời giờ dành cho Mimi không nhiều lắm. Mimi lại là con bé sống thực tế ngay từ ngày sắp sửa đi vào bụi đời. Nó nhìn được cốt lõi của cuộc đời tại đây tùy thuộc vào tiền bạc, vào danh vọng. Ngay hoàn cảnh của mẹ con cô hiện tại là một thí dụ hiển nhiên. Vì thế, được Hoành thương yêu, Mimi đã thỏa mãn, và không đòi hỏi

Hoành bỏ nhiều thời giờ với mình. Họ bàn đám cưới với nhau như một chuyện “business”. Tất cả công việc hôn nhân đều được thực hiện trên máy điện toán và hai người cứ thế mà làm theo.

Cái trở ngại phi lý nhất là nhà hàng cho tiệc cưới. Số nhà hàng này không nhiều lắm, và hoàn toàn do người Tầu khai thác. Loại kinh doanh này cũng không khác gì các chợ thực phẩm. Khởi đầu, một số người Việt cũng bỏ tiền ra khai thác hai ngành này, nhưng chỉ một vài năm sau, họ đều phải dẹp tiệm. Lý do thứ nhất là giá cả đã bị các tiệm của người Tầu phá. Sau khi đã loại được đối thủ là họ lại lên gíá liền. Lý do thứ hai, vừa quan trọng, vừa mang tính cách truyền thống là sự chia rẽ trong giới tiêu thụ người Việt Nam. Không ai có thể bảo ai, người mình cứ nhè chỗ nào rẻ là nhào vô. Đôi khi có người nghĩ tới…cái quan trọng của sự đoàn kết bằng cách mọi người Việt hãy hy sinh một chút lợi lộc để cứu vãn các business của người đồng hương trước những thủ đọan cạnh tranh của người ngoài, thì chẳng một ai lắng nghe. Kết quả là người mình chen chúc mua hàng trong các chợ người Hoa và mỗi khi cần tiệc tùng khoản đãi chừng vài trăm người là phải “búc” trước cả sáu tháng mới có chỗ tại một số ít nhà hàng cơm Tầu, và giá cả thì cứ ngửa cổ để bọn “thẩu” cứa bằng thích.

Vì thế, để có một phản ứng tích cực, Hoành và Mimi đã quyết định tổ chức tiệc cưới của họ tại môt trung tâm sinh hoạt cộng đồng với các món ăn hoàn toàn Việt Nam. Ý kiến này đã bị một số đồng nghiệp cho là thiếu trang trọng…”cả đời mới có một lần”, một việc “để đời” mà tổ chức…như vậy…không nên. Nhưng cuối cùng Hoành và Mimi vẫn giữ lập trường của mình.

Nói đến những tiệc tùng ở đây, đặc biệt là các tiệc cưới, người mình đã đem cái tính “khệnh khạng” từ Việt Nam sang. Khổ chủ mời bẩy giờ tối…thì hầu như không có ai có mặt trước bẩy giờ cả. Qua cái giờ đó, mới lác đác có khách tới. Vì thế, thường tiệc bắt đầu khoảng tám giờ hay tám rưỡi. Có đôi người…tiệc ăn đã gần một nửa mới dẫn xác tới…khiến khổ chủ phải dọn riêng một bàn mười thực khách chỉ để hầu tiếp hai khách quý đó.

Hồi mới sang đây, một số đông đồng bào tị nạn đã bắt chước được cái hay đúng giờ của người Mỹ. Hẹn bác sĩ, hẹn welfair, hẹn ăn cỗ đều khá đúng giờ. Nhưng càng về sau, cái lỗi hẹn nửa giờ là rất thường…trừ hẹn welfare hay hẹn…interview kiếm việc làm.

Tiệc cưới của Hoành và Mimi cũng không thoát khỏi cái tai nạn đó. Mời sáu giờ rưỡi chiều, mãi tới tám giờ mới khai mạc. Một ban nhạc có cả MC điều khiển buổi tiệc được mướn với giá một ngàn đồng. Cả hai gia đình đều ít người, nên không có màn réo gọi những người anh em chú bác cô cậu từ mãi xó xỉnh nào lóp ngóp bước ra.

Bố mẹ Hoành từ trước tới nay chưa đứng ra tổ chức hoặc được mời đi dự những tiệc cưới như thế này bao giờ, nên không ra mặt nhiều. Trái lại, Lâm thì đóng trọn vai ông bố vợ. Ông ta đứng ra thay mặt hai họ cám ơn quan khách, lăng xăng tiếp người này, nói chuyện với người kia. Mẹ Mimi không quen biết nhiều, nhưng cũng tươi cười, phe phảy bàn tay lấp lánh chiếc nhẫn kim cương Mimi mua cho mấy hôm trước. Cũng may ở cái ứ Mỹ này, nhiều người cũng đã bỏ cái tật chõ mõm vào đời tư của kẻ khác, nên cặp bố mẹ của Mimi cũng ít người biết để bàn ra tán vào. Riêng cái nhà quê, cái trưởng giả học làm sang của cha mẹ Hoành là bị một vài đồng nghiệp dè bỉu.

Trong khi khách thưởng thức bữa ăn, ca sĩ, và nhất là ban nhạc đã dùng âm thanh từ hai cái loa cỡ 600 ki-lô watt để hành hạ lỗ tai của mọi người cho bõ ghét phải hát hỏng trong lúc người khác ăn uống vui vẻ.

Và cuối cùng, cái việc mà Hoành rất…ngượng là phải đi chào bàn để nhặt tiền mừng. Cái “cổ tục” này Hoành đã muốn thôi, nhưng cha mẹ anh không chịu…Theo anh nghĩ, bỏ tiền đãi khách là lẽ đương nhiên khi mời người khác tới dự, và không nghĩ việc mừng cũng là chuyện các thực khách phải làm. Có điều cái cách nhận tiền bằng vụ đi chào bàn nó không được…lich sự cho lắm. Đã có một vài tiệc cưới muốn tránh cái sượng sùng đó cho cô dâu chú rể bằng cách để một người đại điện đứng ra nhận dùm. Các thực khách, ai muốn mừng, cho tiền vào bao thư, lần luợt từng bàn đưa lên cho người đại diện. Do đó, việc đi chào bàn của hai họ thuần túy là chuyện trình diện cô dâu chú rể một cách thân tình mà thôi.

Cuối cùng, tiệc tàn để chuyển sang chương trình khiêu vũ tới nửa đêm. Về được đến nhà, cả hai, Hoành và Mimi đều mệt bã người. Tuy nhiên, Mimi cảm thấy mình thực là tốt số, nên dù mệt, nàng vẫn hết lòng với người chồng của mình trong đêm động phòng.

 

 

 

CHƯƠNG HAI MƯƠI

 

    Sau khi chính phủ Liên Bang của Tổng Thống Clinton bỏ cấm vận cho Việt Nam để đổi lấy sự cam kết truy tìm hơn hai ngàn quân Mỹ còn mất tích trong chiến tranh Việt nam thì một làn sóng du học sinh từ Việt Nam ồ ạt sang Mỹ. Một số thuộc thành phần nhân viên của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam, một phần là những sinh viên thuần túy. Nhóm thứ hai này, nhìn qua thì điều kiện phổ quát cho mọi học sinh là thuộc hạng ưu tú, có trình độ Anh Văn khá đều được Hà Nội cho đi. Nhưng thực ra, đa số các cô, cậu được sang Mỹ đều là thành phần con cái của mấy ông lớn hoặc ít ra là của các cán bộ cao cấp. Sự chọn lựa này, bề ngoài thì do quyết định của tòa đại sứ Mỹ vì chỉ có thành phần này chính phủ Mỹ mới tin tưởng là không ở lì lại Hoa kỳ sau khi tốt nghiệp, còn trình độ học vấn chỉ là phụ…vì nhiều trường hợp đám du học sinh này chỉ sang học Anh Văn! Lớp thanh niên du học này rất giầu có. Sẵn tiền sắm xe hơi mới, ăn chơi đàng điếm hơn ai hết…Có nhiều Đại Học ở Hoa Kỳ ưu đãi loại du học sinh này bằng một chế độ cấp phát văn bằng…mà không đặt trên tiêu chuẩn tốt nghiệp như các sinh viên khác.

Có một điều mà ai tiếp xúc vối đám người này đều thấy, nhất là bọn sang tu nghiệp, là chúng rất kiêu căng, phách lối. Một vài anh giảng viên người Việt trong vài trường Đại Học lại o bế bọn này. Họ tổ chức những buổi hội thảo hoặc về văn hóa, hoặc về thời sự, bề ngoài có vẻ công bằng, nhưng bề trong lại làm lợi cho nhà cầm quyền Hà Nội. Thêm vào đó, những kẻ đón gió trở cờ phụ họa, đưa tới những cuộc tranh cãi hầu như không bao giờ đi tới kết luận, khiến cộng đồng tị nạn Việt Nam càng bể ra nhiều mảnh đến độ vô phương hàn gắn.

Đám du học sinh không những đầy trong các giảng đường đại học, chúng còn đang len lỏi vào tận những cơ sở kinh doanh bằng cách làm việc bán thời gian mà không đòi hỏi lương cao, vào tận các gia đình, nhất là các gia đình HO bằng cách xin ở trọ với số tiền trả hậu hĩnh. Thường gia đình HO nào cũng chật vật vì tài chính, nay tạm ở rút lại một chút, cho bọn chúng “se” phòng kiếm thêm mỗi tháng ba, bón trăm cũng đỡ. Cái khó nó bó cái khôn là vậy.

Do nhóm du học sinh này mà các trường đại học thường đón những bọn thân Cộng trên đất Mỹ hoặc các “học giả” từ Việt Nam sang diễn thuyết mà thông thường nhất là những đề tài có tính cách “xin xỏ” tiền bạc hoặc câu dẫn giới tư bản đầu tư vào thị trường Việt Nam và nhất là kêu gọi giới trẻ thành tài về “xây dựng đất nước”. Một số sinh viên Việt tị nạn được cha anh hướng dẫn tốt, biết phân biệt ngay-gian nên tổ chức những cuộc biểu tình phản đối. Ngược lại, bọn du học sinh ra hẳn mặt binh che khiến hàng ngũ sinh viên bắt đầu rạn nứt.

Những vấn đề trên đã tuần tự xẩy ra mọi nơi tại các học đường Mỹ, trong cộng đồng người Viêt tị nạn. Năm nay, từ trong trường về, Tuấn báo cáo ngay với cha:

– Ba ạ, trong trường con đang sửa soạn ngày mãn khóa, con thấy có cả cờ đỏ sao vàng của Cộng sản Việt Nam.

Thành không lấy làm lạ lắm, vì những chuyện đó đã từng xẩy ra. Vì thế, ông trấn an con:

– Đừng lo, thế nào các ông trong ban chấp hành Cộng Đồng mình cũng sẽ lo chuyện tiếp xúc với nhà trường về chuyện ấy.

Quả nhiên, ngày hôm sau, báo chí Việt Ngữ địa phương đều đăng tin trên. Và đồng thời, một số người đại diện Công Đồng tị nạn tới gặp ông khoa trưởng để khiếu nại. Điểm quan trọng được nêu lên trong các trường hợp tương tự là các sinh viên theo học tại nhà trường và tốt nghiệp đều là sinh viên tị nạn, không thể chấp nhận lá cờ máu đó làm biểu tưởng cho họ.

Mọi người yên tâm chờ đợi. Nhưng hôm sau, ai cũng ngỡ ngàng khi ban tổ chức lễ mãn khóa giải quyết vấn đề bằng cách treo cả hai lá cờ Việt Nam, một vàng ba sọc đỏ tượng trương cho sinh viên tị nạn, một đỏ sao vàng tương trưng cho sinh viên Việt Nam du học, nhóm này sĩ số đã lên tới mấy chục người! Cái lối giải quyết này một người Mỹ khó nghĩ ra. nếu không được một ông giáo sư thiên Cộng nào đó mớm lời, hay chính bọn sinh viên du học áp lực nhà trường. Lời của bọn này càng này càng mạnh vì số tiền học của sinh viên ngoại quốc khá cao, cũng như sự thân thiện của hai quốc gia khiến mấy anh Mỹ ở đây nể vì.

Chuyện này khiến cho người tị nạn Việt nam suy nghĩ, không những ảnh hưởng của bọn đó trong hoc đường mà cả ở ngoài xã hội nữa. Cộng đồng tị nạn Việt nam sẽ tranh đấu ra sao, nếu mai này, bọn Việt Công sang đây sinh sống…và chúng dư tiền để làm một công viên văn hóa thứ hai…với cột cờ của Cộng Sản Việt?

Đã lâu, một vài vị “chính khách” suy luận rằng việc Mỹ dễ dàng cho bọn trẻ này sang đây để chúng “sáng mắt ra” và học “nền dân chủ kiểu Mỹ” để mai sau, chúng sẽ thay thế cha anh lên cầm quyền, dần dà chuyển đổi chế độ từ Công Sản sang Dân Chủ dưới ảnh hưởng của Mỹ. Đó là con đường “diền tiến hòa bình”. Lập luận như vậy là đúng sách vở của các ông Mỹ rồi. Nhưng, vấn đề không dễ dàng như vậy. Quyền lực và tiền bạc thường là kim chỉ nam cho bọn thanh niên háo thắng. Vì thế, sau này, với những kiến thức được hấp thụ từ học đường, từ Xã Hội và nền dân chủ Mỹ với những yếu điểm của nó càng ngày càng lộ ra, sợ rằng bọn này còn khôn ngoan, tinh ma, ghê gớm hơn cả cha anh chúng hiện tại, để xiết cổ nhân dân, củng cố quyền hành đang nắm giữ.

Hậu quả quan trọng của vụ này là đám thanh niên tị nạn thấy rõ sự bất lực của cha anh, của chính họ trước làn sóng xâm lược của bọn du học sinh Việt Công. Với bầu máu nóng trong người, nhiều anh chỉ muốn “đục” cho bọn đó một trận. Nhưng, chuyện này không thể làm được khiến cho họ càng thêm uất ức.

Ngoài một số anh chị nghe lời dụ dỗ, mang tiền về Việt Nam làm ăn, ôm “đầu máu” trở về Mỹ, một số anh trí thức ở đây bắt đầu o bế mấy tên từ Việt Nam sang. Họ mở tiệc đãi đằng, đưa đi du lịch những nơi danh lam thắng cảnh.

Trong một bữa tiệc khoản đãi một anh nhà báo trong nước thôi, có anh “rưng rưng” nước mắt, nói:

– Tụi em cũng muốn về nước đóng góp chút công sức để xây dựng đất nước, bác thấy thế nào?

Tên nhà báo, nhà báo thôi chứ chưa phải là người có chức quyền lớn, đáp ngay:

– Bên nhà đã có biết bao người ra nước ngoài du học hay tu nghiệp…nên các anh không cần về, muốn đóng góp việc xây dựng đất nước, chỉ cần hoạt động ngay ở đây cũng tốt rồi.

Cuộc tiếp xúc với tên nhà báo này trong vòng bí mật, nhưng không biết ai phổ biến ra ngoài mà lời dậy dỗ của hắn đã được một số các anh khoa bảng ở đây thục hành. Người của chế độ cũ hợp tác với chế độ Công sản thiếu gì, như ông Hưng, ông Oánh, bà Đại…nhưng xem ra mấy ông bà này cũng chẳng được chúng nghe theo…vì dù có mặt các ông ấy ở Hà Nội tình hình vẫn chẳng có gì thay đổi, kinh tế, kế toán, ngân hàng vẫn ù lì, tối tăm.

Những khuynh hướng chính trị dị biệt khiến cho giới trẻ tị nạn quay mòng mòng. Cứ yên ổn ở đây học hành, xây dựng tương lai như những sắc dân khác thì lại bị cho là bọn mất gốc, nghe bọn trở cờ về “xây dựng đất nước” thì đúng là ngu, tham gia tranh đấu cho quê hương yếu dấu cách xa ngàn dậm thì có kẻ lại nói là bọn chó dại ngoài đường. Nghe theo một số…chính phủ lưu vong với những chiến khu ở biên giới Việt Nam…thì không khác kẻ mộng du. Mỹ, Anh, Pháp là những “nước bạn” xưa, nay đang lo đầu tư vào Việt Nam, hơi đâu giúp mình lật đổ chế độ Hà Nội, để bọn tư bản nước họ mất của sao? Vì thế, chính phủ lưu vong nào cũng nợ như chúa Chổm, tiền đâu mua súng ống, đạn dược, quân trang quân dụng. Để trả lời câu này, có chính phủ có tên…mà ít khi hoạt động, có chính phủ vay tiền, làm áp phe và cả việc phát hành công khố phiếu ma lấy tiền hoạt động nữa.

Quá nhiều khuynh hướng trong cộng đồng, mà người của nhóm nào cũng cho là mình đi phải đường.

Tuấn hỏi cha thì được Thành trả lời:

– Ba nghĩ, một đàng, vẫn cần có người biểu tình để nói lên tiếng nói của người quốc gia, đồng thời, dùng lá phiêu để đưa tiếng nói tranh đấu cho tự do, dân chủ cho quê hương vào nghị trường qua những dân biểu nghị sĩ mình ủng hộ. Kế tiếp, lớp trẻ phải đi vào nhà lập pháp của tiểu bang, rồi liên bang…lúc đó, mình mới thực sự là giúp xây dựng quốc gia mai hậu.

– Ba à, một tiến trình rất dài…Con nghe thằng Bắc nói bác Tài ủng hộ lập trường của mấy ông chính phủ lưu vong…vì chế độ Cộng sản sắp đổ kềnh ra rồi…mình chỉ cần châm thêm ngòi là thành công. Muốn thế, phải có tiền lập chiến khu, huấn luyện và nuôi quân.

Thành cười khổ, lắc đầu:

– Con ơi, châm một chứ châm mười cái ngòi cũng không làm gì được bọn chúng…Người dân trong nước, sau bao năm bị áp bức, hành ha, sống cực khổ dưới một chế độ sắt máu, tàn nhẫn, nay được nới rộng một chút đã lấy làm hạnh phúc lắm rồi. Họ đã mất đi cái khí thế đấu tranh, mà chỉ an phận thủ thường. Một nhà văn lớn đã theo Cộng sản từ lâu, bầy tỏ với mọi người là ông sống được cho tới ngày nay là vì ông “hèn”, và ông ta tiếp tục hèn để sống quãng đời còn lại. Cái hèn bất đắc dĩ đó đang chứa chất trong trí não của mọi người Việt Nam trong nước.

– Thế hóa ra bế tắc? Chị Hoa…

– Những người như Michael, Hoành…họ quá bận với công việc thường ngày…còn đâu thời gian để nghĩ đến những chuyện mà họ cho là “viển vông”! Ở tư thế nào bọn trẻ cũng gặp trở ngại…Vừa lớn lên, bầu nhiệt huyết, lòng yêu quê hương dân tộc vừa nhúm lên, đã bị thực tế làm đui chột… Tự do, dân chủ, nhân quyền…tín ngưỡng bây giờ lại trở thành những từ ngữ cần phải tranh biện. Điều thiện, điều ác đã không còn biên giới. Người lớn đã mất hướng đi, trách sao đám trẻ chẳng bơ vơ.

Hai cha con có bàn luận với nhau thêm nữa thì vẫn không tìm ra được một kết luận thỏa đáng.

 

 

 

CHƯƠNG HAI MƯƠI MỐT

 

Nhờ Thúy khuyến khích, Đương trở lại việc học Luật. Tiệm sửa xe hoạt động đã có qui củ, anh chỉ cần mướn một người thay anh trông nom, công việc vẫn chạy đều, lợi tức nhờ đó không xuống bao nhiêu. Vì thế Đương theo đuổi việc học một cách thoải mái.

Vấn đề trước đây hơi gay là Anh ngữ. Nhưng sau nhiều năm sống ở Mỹ, Đương có thì giờ học thêm, lại giao thiệp rộng nên vốn Anh Ngữ của Đương bây giờ có khác trước. Nhờ vậy, Đương không còn mặc cảm về ngôn ngữ để có thể theo nghề cũ.

Không tới hai năm Đương đã qua kỳ thi hành nghề Luật sư tại tiểu bang California.

Người mừng và hãnh diện nhất là Thúy,vì Đương coi như nếu không gặp và được cô “hổ trợ” thì chẳng bao giờ Đương thành công như ngày nay..

Dù chưa ra trường, Thúy cũng được coi như một người phụ tá chính thức của Đương trong văn phòng của anh. Ngày khai trương, theo đề nghị của Thúy, ngoài các bạn bè, người thân của hai người, băng Tuấn, Bắc và ngay cả Tư Chơi cũng được Đương mời tới dự. Vợ chồng Hoành-Mimi, cặp Hoa-Michael là những người quan trọng trong buổi liên hoan, vì họ là bạn thân của Thúy. Do đó, họ đã giúp Đương tiếp đón quan khách không những trong cộng đồng Việt Nam mà cả một số người Mỹ đồng nghiệp hay có chức chưởng trong quận hạt.

Cuộc tiếp tân được tổ chức ngay văn phòng khang trang và đúng tiêu chuẩn của một văn phòng luật sư tại Mỹ với những phòng tiếp khách, phòng họp staff và phòng đợi. Đồ đạc đều theo kiểu cổ điển với những chiếc ghế da lớn mầu huyết dụ, những chiếc bàn gỗ mầu nâu thẫm sang trọng. Quan khách được hướng dẫn thăm khắp nơi trước khi chính thức khai mạc.

Để mở đầu buổi khai trương, Luật sư Phan Tấn Đương thuyết trình một bài ngắn nhưng xúc tích về nhiệm vụ của một luật sư trong hệ thống pháp trị. Nhân đó, anh cũng vạch cho quan khách, nhất là người Mỹ biết rằng hiện tại, Việt Nam là một quốc gia thiếu hẳn một nền dân chủ pháp trị, nên trước một tòa án mà các thẩm phán không phải là những chuyên viên về luật pháp, có nhiều người chỉ ở trình độ tiểu học, nên đều ra những phán quyết hoàn toàn theo lệnh của chính quyền, hay đúng hơn là của đảng cầm quyền tức đảng Cộng sản. Nếu có sự hiện diện của một luật sư thì đó cũng chỉ là hình thức “làm cảnh” cho chế độ. Do đó, nhiệm vụ của mgười tị nạn Việt Nam nói chung, của giới luật gia nói riêng, phải tranh đấu cho nước Việt Nam một chế độ dân chủ pháp trị thực sự, trong đó, người luật sư có nhiện vụ làm sáng tỏ công lý, mang lại sự tin tưởng cho người dân mỗi khi không may vướng vòng lao lý. Để kết luận, anh kêu gọi các bạn Hoa Kỳ , nhất là những vị dân cử hiện diện tai đây hôm nay, hãy vì công lý của nhân loại, hổ trợ tích cực cho sự tranh đấu của người Việt trong cũng như ngoài nước Việt Nam sớm được một nền dân chủ pháp trị đúng nghĩa.

Bài diễn văn được mọi người vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt. Nhưng Hoạt, một vị luật sư người Việt xin phát biểu ý kiến. Không khí thực sôi nổi, Đương trịnh trọng mời vị đồng nghiệp lên trước máy vi-âm.

Hoạt hắng giọng, đắn đo một lúc, rồi nói:

– Vấn đề Luật sư Đương vừa đề cập tới rất đúng với những năm ở thập niên tám mươi. Nhưng nay, chính quyền Việt Nam đã cởi mở, không những về phương diện kinh tế, mà về mọi mặt, kể cả luật pháp. Về vấn đề một nền dân chủ pháp trị, họ đã dùng bà luật sư Nguyễn Phước Đại cộng tác…Tôi mới từ Việt Nam về, nhận xét chung là dân chúng sống rất thoải mái…và tin tưởng…Thành phần HO tiếp tục đươc ra đi, thanh niên trí thức được xuất ngoại du học…Hai quốc gia cựu thù Việt-Mỹ đã bắt tay hòa giải…Vấn đề hiện tại là chúng ta sẽ đóng góp được gì cho xứ sở.

Luật sư Hoạt dứt lời giữ sự ngỡ ngàng của mọi người. Tài khẽ đèo mấy câu:

– Đéo mẹ cái thằng trở cờ…bợ đít quân thù…

Cả phòng khách im lặng. Một không khí nặng nề bao trùm mọi người.

Cái khó khăn để Đương có thể thuyết phục cử tọa, phản bác nhận xét của Hoạt là Đương chưa từng về Việt Nam. Nếu một người khác lên tiếng, không khỏi bị coi là chủ quan do mối hận thù với chế độ mới…

Giữa tình hình căng thẳng đó, có ít tiếng xì xào của đám trẻ. Sau đó, thấy bọn nhỏ đẩy Tư Chơi…đứng lên, cùng tiếng vỗ tay của bạn bè chúng quanh khiến quan khách đổ dồn mắt về phía các cậu. Tư Chơi bẽn lẽn tiến ra. Đương vừa ngạc nhiên, vừa bối rối không biết thằng nhỏ muốn làm gì đây…giữa sự hiện diện của những quan khách đứng đắn này, thì Michael đã lên máy vi-âm nói bằng tiếng Mỹ:

– Thưa quý vị, chúng tôi giới thiệu với quý vị một người trẻ tị nạn Việt Nam lên hầu chuyện cùng quý vị với tất cả sự nhiệt tâm và tôn trọng sự thật. Em Tư (Mr Four!).

Vừa nói xong Michael vừa vỗ tay lui xuống giữa tiếng vỗ tay ào ào của mọi người.

Tư Chơi bẽn lẽn cúi đầu chào…quí quan khách, rồi rụt rè tiến lên trước máy vi-âm. Ngay lúc đó, Hoành lên theo để thông dịch sang tiếng Mỹ lời của Tư Chơi sắp phát biểu.

Tư Chơi rút trong túi ra một tờ giấy nhầu nát, rồi nói:

– Thưa quí vị, cháu chưa một lần về Việt Nam, nhưng vẫn thường xuyên liên lạc với mẹ cháu dưới miệt lục tỉnh. Nhờ tiền hàng tháng cháu gửi về nên mẹ cháu sống qua ngày tương đối đỡ vất vả, nhưng không bức thư nào mẹ cháu không nhắc đến sự đói khổ của đồng bào chung quanh. Họ làm mười, không được hưởng đến một phần. Hàng tháng phải đóng cho bọn cầm quyền địa phương hàng trăm thứ thuế. Người dân thì đói rách, mà bọn quan quyền càng ngày càng giầu có…Cảnh dân bị bóc lột còn hơn cả thời Pháp thuộc.

Trong khi đợi Hoành thông dịch, Tư Chơi rở mảnh giấy trên tay, rồi nói:

– Thưa đây là lá thư mới nhất cháu nhận được mấy bữa nay…

Nó nhìn xuống, đọc một câu:

– “Chú Tư mày dạo này đã khỏe khá, nên không cần phải đi xe đạp nữa, chú đã tặng nó cho con ông phường trưởng để đi bộ cho khỏe…!”

Câu tiếng Việt vừa đọc cũng như được dịch sang tiếng Mỹ và đồng thời Hoành giải thích ám ngữ dùng trong thư khiến mọi người đều cười rộ.

Tư Chơi đọc tiếp câu khác:

– “Mày gửi cho mẹ cái áo dài, nhưng vì ở đây không có thợ may…nên tao đã tặng cho vợ ông công an trong xã…vì bà này thường ra tỉnh là nơi có hiệu may áo dài phụ nữ!”

Tiếng cười lại nổi lên. Tư đọc thêm một đoạn nữa:

– “Ông Tân hàng xóm…chắc bị đau dạ dầy nên bây giờ chỉ ăn một bữa cơm, thay vào là một bữa cháo…cho nhẹ bụng, dễ tiêu”…Cháu xin hết.

Tư Chơi xin phép xuống. Sự thật thà của Tư Chơi dễ thu phục lòng người. Nhưng luật sư Hoạt định lên phản bác thì một vị dân cử tiểu bang đã bước ra trước máy vi-âm, ông lên tiếng:

– Tôi có một ông bạn bác sĩ, nghe lời khuyến dụ của một tổ chức từ thiện, mang thuốc sang giúp đỡ và chữa trị cho quần chúng nông thôn. Ông ta kể lại, đi tới đâu cũng bị canh chừng không cho tiếp xúc riêng với dân chúng. Tệ hại nhất là thưốc vừa phát ra cho con bệnh, họ chưa kịp dùng, tối đến, cán bộ y tế hay công an đã tới tịch thu hết. Bọn cầm quyền địa phương còn tổ chức ăn trộm thuốc của các ông ấy mang sang, chưa phát hết nữa! Chính tôi cũng đã từng sang đó xem xét tình hình. Quả thực có sự xa cách rõ ràng và sâu xa giữ đời sống thành thị của bọn tư bản đỏ với đời sống cơ cực, bị áp bức bóc lột do bọn cầm quyền của dân chúng nông thôn, đúng như lời bà mẹ nói trong thư. Tôi nghĩ bà ta còn dè dặt dùng lời ám chỉ, chứ nhiều người Việt đã viết thư nói thẳng thừng về chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Tôi rất đồng ý với luật sư Đương về nhận xét của ông.

Ông dân cử vừa dứt lời, quan khách vỗ tay hoan hô nhiệt liệt. Luật sư Hoạt hơi đỏ mặt vì ngượng.

Buổi chiều, khi quan khách đã về hết, băng của Tuấn và mấy người bạn thân của Đương và Thúy còn ở lại giúp anh dọn dẹp. Sau đó, trời cũng đã muộn, Thúy gọi nhà hàng Việt nam mang đồ ăn tối để mọi người dùng.

Trong lúc trò truyện, Đương nhắc tới vụ “cứu bồ” của Tư Chơi đồng thời Đương gợi ý xem ước vọng của bọn trẻ thế nào.

Tư Chơi bẽn lẽ nói:

– Cháu chỉ mong có tiền gửi về nhà giúp mẹ và bà con nghèo khổ…thiếu ăn thiếu mặc. Vì không có ai thân thích ở đây…nên ngày nào cũng mong thư mẹ…

Thúy ngắt lời:

– Em đã có anh Michael rồi mà…

Vài ba người hơi ngỡ ngàng nên Michael và Hoa thuật chuyện nó đánh nhau với thằng Jack để cứu Michael hồi trước. Chính vì thế hai bên quen nhau…và từ đó coi nhau như anh em vậy.

Đương nhớ thời còn tập sự luật sư, chưa thi vào ngành thẩm phán, chàng đã cãi chỉ định cho nhiều thiếu niên phạm pháp vì đánh nhau có võ khí, xì ke ma túy, ăn trộm, ăn cắp vặt…của mấy đứa bụi đời như Tư Chơi bây giờ. Có lần, anh cãi thí cho một thiếu niên mắc tội ăn cắp đầu máy khâu của mẹ đi bán lấy tiền hút xì ke bị bắt quả tang nên biện lý tống giam liền để đợi ngày ra tòa. Thông thường mấy tội này bị chừng sáu tháng tù ở. Nhưng vì Đương có học bạ tốt của thằng nhỏ này…lại mới bị bắt lần đầu, nên anh xin tòa tha tội trộm của cha mẹ, khoan hồng tội hút xì ke nên một cái án treo ba tháng và ra lệnh phóng thích. Nhưng khi xuống tới cuối tòa, anh bị bà mẹ nắm lấy, than:

– Khổ quá, ông luật sư không để cho tòa nhốt nó mấy tháng cho nó chừa đi…Thả bây giờ, chứng nào tật ấy là khổ cho chúng tôi.

Cuối cùng, anh vào ông chánh án, theo lời yêu cầu của bà mẹ, xin ông cho nó vào trại cải huấn thiếu niên mấy tháng để cai thuốc trước khi được về nhà. Buổi tối hôm đó, bà mẹ đến nhà chơi, cho ông luật sư trẻ một ký giò lụa. Mỗi khi nghĩ đến kỷ niệm này, Đương thường bật cười.

Bây giờ, đứng trước cái thảm cảnh của các gia đình Việt tị nạn có con cái mắc vòng tù tội nhiều khi chỉ vì tính táy máy…trong các siêu thị hoặc nghe lời bạn xấu nghiện hút, rồi tới chỗ buôn bán ma túy, ăn cắp radio, cassets trong xe hơi hoặc lấy cả chiếc xe…của người ta…một cách hết sức ngây thơ dại dột. Nhìn một thằng con trai hiền lành, chất phác trước mặt…mà đời sống là những chuỗi ngày phạm pháp mà không hay hoặc không thẩm định được tầm quan trọng của các bản án đối với đời của mình. Nếu không may, vướng vòng lao lý thì cả là vấn đề…

Tuấn là một khuôn mẫu chững chạc của một thanh niên có học. Cậu này ăn nói khúc triết, thẳng thắn nhưng nhiều khi đến ngây thơ do nền giáo dục trong trường Mỹ. Tuy nhiên, nhờ được một người cha mực thước, trầm tính như một nhà nho khiến Tuấn biết dừng chân ở một ranh giới nào đó trong tiến trình hội nhập. Vì vậy, cậu ta không bắt chước thanh niên, thiếu nữ trong các trường Mỹ mà việc liên hệ tình dục với nhau được xem như không quan trọng về luân lý. Chưa bao giờ Tuấn để ý tới cái thùng bán bao cao su để thanh niên làm tình mà tránh được bệnh tật treo ở nơi nào trong phạm vi nhà trường, không phải vì xấu hổ như mấy học sinh mới từ Việt sang, mà vì Tuấn không nghĩ là có lần mình sẽ phải dùng tới chúng. Tuấn có hoạt động xã hội trong trường, nhưng chưa bao giờ thực sự tham dự những hoạt động có tính cách chống Cộng. Đó là một thiếu sót của các thanh niên lớn lên tại Mỹ. Vì thế, hình ảnh của Tuấn trong tương lại sẽ là một Michael, Hoành hiện nay. Khi nói đến ước vọng mà Đương đặt ra, Tuấn chỉ cười, trả lời gọn:

– Hiện tại em chỉ nghĩ tới học sao cho sớm ra trường, còn sau đó, chưa có gì quyết định rõ ràng…chắc rồi cũng lo kiếm việc làm như mọi người!

Nhưng khi hỏi tới Bắc, hắn không muốn nhìn lên để phải giãi bầy “chí hướng”, nên đáp gọn lỏn:

– Em chỉ muốn sao cho bọn Cộng sản tan tành xí quách! Còn đời mình ra sao, sau hãy tính.

Đương nghe nó nói thì hơi chột dạ…vì đã từ lâu, anh cũng chẳng nghĩ tới vấn đề “quốc gia đại sự”. Bây giờ nghe thằng nhóc nhắc, khiến Đương liên tưởng tới tuổi trẻ và những biến động ở Saigon những năm xưa. Đã bao lần, sinh viên, học sinh mà Đương là một, bị bọn tập sự làm chính trị ở cả hai phía lợi dụng. Nhồi sọ cho tuổi trẻ lòng hận thù mù quáng và đẩy chúng vào chỗ bất hạnh. Nếu muốn dùng tuổi trẻ cho những mục đích cao cả cho quốc gia, dân tộc, cần phải có những đàn anh sáng suốt và thực tâm vì đại nghĩa dẫn dắt. Bên Công Giáo có một câu để bổn đạo suy gẫm: “Không phải cứ chắp tay rồi khấn: Lạy chúa, Lạy Chúa là vào được nước thiên đàng”. Thì ở đây cũng vậy…không thể cứ nói “Phải tận diệt thằng Cộng sản là quốc gia cường thịnh” được.

Thành ngồi nghe, lúc này cũng lắc đầu, nói:

– Lúc bước chân xuống tầu để đi tị nạn, cứ nghĩ đây là cơ hội tốt cho con cái học hành nên người. Nếu thế thì cũng nên mang ơn mấy ông Karl Max, Lenin vì có các ông nên mới gần hai triệu người được đi “du học”. Nhưng nghĩ tới cùng thì…sự thành đạt của tuổi trẻ không bù đắp được sự mất đi cái lòng yêu quê hương, tổ quốc thực trong chúng nó. Vì thế, chúng không có hiểu được tại sao chiến tranh đã qua gần một phần tư thế kỷ rồi mà người “Quốc gia” còn căm thù người “Cộng sản”, và càng khó giải thích sao không cho nhà trường treo cờ hiện tại của Việt Nam mà bắt buộc phải treo cờ vàng ba sọc đỏ xa xưa…đã không còn nước nào công nhận nữa! Thảng hoặc có cô, cậu nào được cha mẹ nhắc nhở về lòng yêu tổ quốc chân thật của mình bên kia bờ đại dương, khi thành danh, nghe lời dụ dỗ của bọn thiên Cộng về Việt Nam “góp công xây dựng đất nước”, và lời ngăn cản của cha mẹ nếu có, trở nên mâu thuẫn với những sự dậy dỗ trước đây.

Trong đám, chỉ có vợ chồng Thành, vợ chồng Hùng, Tài và Đương là đứng tuổi, còn lại lànhững người thuộc thế hệ lớn lên hay được sinh ra tại Mỹ. Vì vậy, lời của Thành càng làm cho lớp trẻ ngẩn ngơ.

Đương ngẫm nghĩ, rồi góp ý:

– Chẳng qua là vì chúng ta thiếu cái “lô-dích” về đạo đức trong sự chiến thắng. Bọn trẻ ở đây được dậy dỗ trong tinh thần “lẽ phải thuộc về kẻ mạnh”. Ngay trong cuộc nội chiến Nam-Bắc của Hiệp Chủng quốc Hoa Kỳ, cái chân lý đó cũng được thể hiện, không những trên thực tế, mà ngay cả trong sử sách. Người ta chỉ nói đến hào quang của Washington mà dập vùi cái anh hùng của Lee! Hào quang đó được thể hiện ngay trong cái nhìn về người anh hùng. Với ta, anh hùng phải là người có công lớn với đất nước, với dân tộc. Trong khi ở đây, từ “hero” được dùng cho bất cứ ai thành danh, tức là “hạ được các đối thủ”…nên mới có thứ anh hùng ca hát như Micheal Jackson, anh hùng bóng rỗ Jordan, anh hùng foot ball J.O Johson…Mình thì dứt khoát…chỉ có anh hùng cứu nước cứu dân…mà thôi.

Bắc nhìn Tài, rồi nói:

– Bố cháu bảo…không thành công thì thành nhân.

Đương gật đầu:

– Lời của anh hùng Nguyễn Thái Học.

Tài cười:

– Nhưng bây giờ làm gì có thứ vàng ròng đó…nhìn đâu cũng chỉ thấy bọn xôi thịt…

Thành lắc đầu:

– Anh thắc mắc làm gì…có chó thịt với xôi đâu mà hòng. Mình bây giờ chỉ nhìn vào bọn trẻ…Có anh hùng hay không là do bọn chúng mà thôi…Thằng Bắc nhà anh tôi không biết sao chứ ngữ thằng Tuấn nhà này…may ra được cái mác anh hùng “vác ngà voi”!

Bọn trẻ há hốc miệng không hiểu cái thứ anh hùng gì mà kỳ vậy ta!

 

 

CHƯƠNG HAI MƯƠI HAI

Đã bốn giờ.

Hoa nhìn đồng treo trên tường. Chiều thứ sáu, còn một tiếng nữa ngân hàng mới đóng cửa.

Hôm nay là sinh nhật của Mimi, Hoành rủ Hoa và Micheal đi movie rồi tối ăn “dinner” luôn. Xe của Hoa đưa đi “tune up” nên Hoành và Mimi sẽ đến đây lúc tan sở đón Hoa tới Micheal rồi đi luôn.

Năm giờ rưỡi, trong hàng chỉ còn mươi người nữa thì Hoành và Mimi tới. Hoa đưa tay vẫy, hai người vẫy lại, rồi tới bộ sa-lông góc phòng ngồi chờ. Hoành mở báo ra xem, chỉ cho Mimi mấy cái quảng cáo bán sale quần áo, giầy dép.

Tuấn cũng vừa từ ngoài hấp tấp vào, vì sắp tới giờ đóng cửa. Bỏ tiền vào account của hội, nên Tuấn qua cửa đặc biệt “business” nên không phải chờ lâu. Năm phút sau, Tuấn xong việc, lúc quay trở ra, trông thấy Hoành, Tuấn tươi cười tiến lại bắt tay:

– Anh chị đợi chị Hoa à?

Hoành gật đầu, cười vui:

– Bọn này định đi xem phim Mùi Đu Đủ Xanh của anh đạo điễn Việt Nam bên Tây đây. Tuấn đã xem chưa, không thì đi với bọn này cho vui.

Tuấn ngồi xuống ghế bên cạnh Hoành, lắc đầu:

– Em xem rồi. Hình ảnh đẹp, nhưng cốt chuyện…không có gì.

– Ừ, đúng đấy. Mình muốn xem để biết Việt Nam ngày nay như thế nào thôi. Cái tên phim cũng ngộ đấy chứ.

– Vâng, em cũng nghĩ như vậy.

Mimi góp lời:

– Nhìn những cảnh trong phim…nghĩ lại thời còn ở nhà…cũng buồn nhỉ. Tôi sang đây chưa tới mười năm…mà tưởng như mới ngày hôm qua.

Hoành gật đầu:

– Anh chẳng còn một hình ảnh Việt nam nào trong đầu…Ông bà già có ghe, đi ngay từ “đêm hăm chín tháng tư”.

Mimi hỏi ngay:

– Nhiều vàng không?

Hoành hiểu ý, lắc đầu:

– Mình bé thì làm sao biết được. Về sau chỉ thỉnh thoảng thấy bà già than…giá đi chậm lại ít ngày…thì kiếm được nhiều hơn…

Mimi gật đầu đồng ý:

– Đúng đó. Em đi thời tám bẩy…một người phải trả tối thiểu ba cây…mười ngươì ba mươi cây…anh nói ghe nhà anh chở cả hơn trăm người…thì cũng kiếm bộn rồi…

Hoành cau mặt suy nghĩ, rồi lắc đầu:

– Không biết bao nhiêu…nhưng mua được một căn nhà nhỏ và hùn vào tầu đánh cá bên New Orleans.

Mimi nháy mắt, hỏi:

– Anh có đi đánh cá lần nào chưa?

– Đi chứ. Nhưng lúc đó còn nhỏ. Sau này đi học xa nên cũng chả biết đánh đấm gì. Ông già thì đi bể đến đen xạm cả người. Bên đó, dân mình dễ kiếm tiền lắm, không thiếu nhà sắm xe Cadillac mới tinh, trả cash không à. Họ có tiền, thiếu gì người cho con cái học bác sĩ, kỹ sư…

Hoành nhìn đồng hồ…năm giờ thiếu mười. Trong hàng, khách chỉ còn dăm người. Cửa cashier của Hoa đã đóng. Tình cờ Hoành nhìn ra cửa…ba người…đeo mặt nạ, chỉ để hở hai mắt hở tiến vào. Một tên dùng cái “bat” chơi base ball, từ đàng sau, bất ngờ đánh gục người security đứng gần cửa.

Hoành đứng bật dây, miệng lắp bắp:

– Tuấn…xem …kìa.

Mimi và Tuấn giật mình quay ra…Ba tên cướp, đứa đi đầu mang mặt nã Micky Mouse. Hai tên đi sau, một đeo mặt nạ Bat Man, một mặt nạ sọ người, tiến tới bên từng cashier, giơ súng ra hăm dọa, một giọng tiếng Anh kém cỏi:

– Over hand…every bodies go..out.

Trong lúc mấy người bank teller líu ríu ra ngoài. Tên mặt nạ Micky Mouse đã tiến tới vào phòng bà manager, súng đưa ra trước mặt, trong khi bà này hốt hoảng đứng bật dậy. Tên này vẫy súng, ra hiệu cho bà ta tiến về phía tủ sắt chứa tiền.

Ngoài này, tất cả nhân viên trong ngân hàng và chừng tám người khách, kể cả Hoành, Mimi và Tuấn đều phải nằm sấp xuống đất, hai tay để sau gáy. Một đứa đứng giữa nhà, súng trong tay canh chừng, tên kia, tay ôm mấy cái túi vải, tiến đến bên tủ sắt, nơi bà manager đang loay hoay mở khóa. Cửa tủ sắt mở. Bây giờ là cuối ngày, tủ chứa khá nhiều tiền. Một tên cướp giúp bà này lấy tiền bỏ vào hai cái túi vải đầy. Cái thứ ba, theo lệnh của bọn cướp, bà manager đi từng ngăn kéo vét hết tiền vào đó.

Không một người chống cự. Bọn này chắc không phải bọn nhà nghề, nên mới ra lệnh cho người trong ngân hàng đi thu tiền để họ có thể bấm một trong những nút báo động được dấu ở đâu đó trong các ngăn tiền, hoặc dưới gầm bàn. Vì thế, lúc mà bọn cướp sửa soạn rút lui…thì có tiếng còi hụ ngay bên ngoài cửa ra vào. Bốn năm xe cảnh sát chớp đèn đã bao vây.

Ba tên cướp hoảng hốt trông thấy. Chúng lúng túng hô mọi người đứng dậy, lùa cả vào phòng bà manager, bắt ngồi yên, hai tay đặt trên đỉnh đầu. Tên mặt sọ người đứng gác ngay cửa phòng.

Lúc đi ngang qua tên cướp mặt Micky Mouse, Tuấn thoáng thấy ánh mắt của nó lóe lên một cách lạ lùng và rất quen thuộc. Ngồi trong phòng giam, Tuấn cứ thắc mắc mãi về cái ánh mắt đó.

Ngoài đường, cảnh sát đã dùng máy khuếch đại, kêu gọi bon cướp đầu hàng.

Năm giờ mười lăm, có tiếng điện thoại reo. Tên cướp Micky Mouse hấp tấp bốc phôn.

Tên này nói tiếng Anh khá nên có vẻ là tên đứng đầu bọn cướp. Nó cho bên ngoài biết hiện chúng có trong tay mười bốn con tin. Nghe giọng nói, Tuấn càng phân vân. Lạ nhỉ…tại sao mình có vẻ quen biết nó.

Ngay lúc vào phòng, bọn Hoành đã ngồi cùng chỗ với Hoa. Một bà Mễ mạp quá khổ, sợ hãi quá, chắc máu lên cao quá, ngất xỉu. Mấy người Mỹ xúm lại, để bà ta nằm xuống đất, lấy cuốn báo quạt kiên hồi để giúp bà ta tỉnh lại.

Hai tên cướp ngoài phòng, một tên mặt nạ Bat Man ngồi bên ba túi tiền, tên mặt Micky Mouse thì đi lại trong phòng, tay lăm lăm cầu khẩu súng Cold, chốc chốc lại vén màn nhìn ra ngoài.

Thời gian trôi chậm chạp. Bốn giờ ba mươi tám, Tuấn lại nghe điện thoại reo. Tên mặt Micky Mouse tiến vội lại, bốc máy lên:

– Allô…

Không biết bên ngoài nói gì, hắn lắc đâu, nói “nô…nô…” hoài. Cuối cùng, hắn nói:

– Chúng tao muốn nói chuyện với Cảnh Sát Trưởng thành phố.

Có tiếng mấy bay trực thăng. Tên cướp như chợt nhớ ra, vội nói:

– Một con tin bị xỉu…cảnh sát có thể cho người vào mang đi bệnh viện.

Hắn cúp điện thoại, đứng thẫn thờ.

Cả giọng nói cũng như đã nghe ở đâu. Tuấn chưa biết bọn này điều đình ra sao để có thể thoát thân. Hoành ngồi yên bên Mimi…lo lắng hết nhìn vợ, lại nhìn ra cửa. Trái lại, Mimi như…đã có kinh nghiệm về thoát hiểm, nên cô cứ ngồi tỉnh bơ nhai gum nhóp nhép. Hoa im lặng nhìn từng tên cướp. Hình như cô cũng thấy một cái gì đó, nhưng không thể trao đổi với Tuấn…hay Mimi.

Sáu giờ năm phút, xe cứu thương tiến đến bên cửa ra vào ngân hàng. Hai người trợ y, một đến mở cửa, một đứng sau, vai vác chiếc cáng.

Tên cướp mặt Micky Mouse tiến ra, thận trọng nhìn chung quanh, rồi từ từ hé cửa chỉ đủ một người đi qua. Bọn con tin quanh bà Mễ trở về chỗ ngồi, một người trợ y lấy ống nghe, nghe nhịp tim. Người kia mở cái cáng ra đặt gần bệnh nhân. Sau đó, hai người một ở chân, một nâng vai, giúp bệnh nhân nằm lên cáng, rồi mỗi người một đầu đang định khiêng bà ta ra ngoài.

Một bà Mỹ ốm o, ngật ngường tới bên mấy người trợ y, rồi hướng về bọn cướp, năn nỉ:

– Sáu giờ rưỡi…tôi có hẹn phải tới trung tâm lo Dialysis…Làm phước cho tôi ra…

Bọn cướp hơi ngẩn ra vì không hiểu bà nói gì. Một người trợ quat về, bên tên mặt Micky Mouse, giải thích:

– Một người bị thận hư, không lọc được nước tiểu, chất dơ chứa chất trong máu khiến cho bệnh nhân có thể chết được. Vì thế, cứ hai hoặc ba ngày, người đó phải tới một trung tâm đặc biệt, ở đây, người ta lấy máu trong người ra, cho đi qua một cái máy lọc sạch chất độc…rồi lại chuyền lại vào cơ thể người bệnh. Đây là một việc khẩn cấp…

Tên cướp lưỡng lự một lát,rồi đồng ý cho bà này ra ngoài. Bà này mừng rỡ, theo sau hai người trợ y khiêng bà Mễ. Tên cướp mặt Micky Mouse đi trước mở cửa, sau đócẩn thận khóa lại, rồi đứng nép một bên tường, nhìn ra ngoài cho tới khi xe cứu thương hú còi chạy đi.

Sáu giờ mười, hai tên cướp phòng ngoài châu đầu vào nhau bàn tính.

Điều kiện nói chuyện với cấp cao chưa được cảnh sát bên ngoài đáp ứng.

Một người khách hàng đàn ông da đen lại tiến gần ra cửa phòng, lắp bắp:

– Tôi phải tới đón một đứa con gái học trường Evergreen ra về lúc năm giờ rưỡi. Ở đó vắng vẻ lắm…xin cho tôi ra…

Lý do không có vẻ khẩn cấp, tên cướp mặt Micky Mouse lắc đầu, khiến ông này nhăn nhó trở về chỗ cũ. Một lúc sau, ông ta lại đứng lên, nói:

– Vậy cho tôi liên lạc với cảnh sát…để nhờ họ giúp.

Tên cướp lắc đầu:

– Tao không có số điện thoại của bọn nó.

Ông kia năn nỉ:

– Cho tôi viết mảnh giấy vất ra cho họ.

Ông này khá thông minh. Bọn cướp chịu đề nghị đó khiến ông Mỹ đen mừng rỡ, mở cặp…chắc để lấy giấy viết, khiến cho tên gác cửa la lên:

– No…stop, let me see

Hắn lại gần, giằng lấy chiếc cặp, đưa tay lật các đồ vật trong đó xem có khí giới không. Thấy chẳng có vật gì nguy hiểm, hắn trả lại cho ông Mỹ để ông ta lấy giấy viết lời nhắn với cảnh sát.

Ông Mỹ lúi húi viết xong, đưa cho tên gác cửa. Tên này liếc mắt đọc nhanh, rồi trả lại. Ông Mỹ đen cuốn tờ giấy quanh chiếc bút, rồi thận trọng tiến ra cửa. Tên cướp mặt Micky Mouse hé một bên để ông này thẳng tay ném cái bút có bọc lá thư ra ngoài cho cảnh sát, rồi lại vội trở vào trong. Tên cươp nấp sau tường nhìn ra canh chừng một cảnh sát viên tiến lên nhặn lá thư.

Ông Mỹ đen về tới chỗ ngồi, nói khẽ:

– Đông cảnh sát lắm…

Tên cướp gác cửa phòng chỉ mặt ông này, quát:

– Ê…don’t talk…

Thời gian nặng nề trôi. Cảnh sát lại dùng loa kêu gọi bọn cướp hàng vô điều kiện.

Sáu giờ thiếu mười, một bà Mỹ tóc vàng, tiến ra, ngập ngừng nói lớn:

– Cho tôi ra…vì tôi có con nhỏ gửi babysiter phải đón về vào lúc sáu giờ…

Một ông người Á Châu, không biết Tầu hay Việt, cũng đi ra, nói theo:

– Vợ tôi nằm bệnh viện, sắp sanh con so…Bác sĩ bắt tôi chiều nay phải vào với bà ấy. Cho tôi ra…

Tên cướp mặt Micky Mouse quay lại chỗ mấy người, hét lên:

– No…Sit down

Hắn vung súng trước mặt, gờm gờm nhìn mọi người.

Bà manager đứng lên, nói lớn:

– Các anh thả hết con tin, tôi và ông phụ tá tình nguyện ở lại.

Nhưng tên cước lắc đầu:

– No!

Tuấn khen thầm con người nhiều trách nhiệm đó. Bà ta xử sự như trường hợp tầu đắùm, thuyền trưởng ở lại chết theo tầu…chứ không bỏ lên bờ.

Tên cướp mặt Micky Mouse lắc đầu. Tên gác cửa đẩy bà manager trở vào trong

Tên cướp mặt Micky Mouse thỉnh thoảng nhìn vào trong phòng nhốt con tin…và Tuấn thấy ánh mắt đó hình như dừng lại ở bọn cậu hồi lâu, rồi hắn lại bỏ ra ngoài.

Sáu giờ mười lăm, có tiếng điện thoại reo. Tên cướp mặt Micky Mouse vội vã nhắc ống nghe lên:

– Allô…

Hắn lắng nghe, rồi nói:

– Có đúng cảnh sát trưởng không?

– …….

– OK, tao sẽ thả một nữa con tin…sau đó mới thương thảo.

Mọi người đều mừng rỡ, nhưng hồi hộp không biết những ai được ra.

Tên này từ từ bỏ điện thoại xuống, đến bên tên canh các túi tiền bàn bạc với nhau…Bỗng Tuấn bất ngờ nhìn lọt một câu tiếng Việt từ những cái nhép miệng của tên coi tiền:

– Ừa…O.K…được…

Tuấn giật mình…bọn này người Việt…Cái lối thêm chữ “được” thừa đó sau hai tiếng “O.K” nhiều người mình quen nói…gần giống như câu thưa “dạ, vâng…”

Chiều mùa hè hơi nực. Mimi đang dựa đầu vào vai chồng mắt lim dim như buồn ngủ. Hoành lo quạt cho vợ, Hoa đang nhắm mắt suy nghĩ điều gì, nên mấy người đó không thể “thấy” một câu nói ngắn như vậy.

Lòng Tuấn vô cùng phân vân, nhìn trừng trừng vào bọn cướp, đợi xem chúng theo tiêu chuẩn nào thả người. Cho những người lớn tuổi ra trước…gồm ba người Mỹ trắng, một ông hai bà..; hai ông Mỹ đen…một bà Mễ mập…bà manager của ngân hàng… Bọn Tuấn không có hy vọng. Nếu theo tiêu chuẩn “lady first” thì Mimi và Hoa được ra…Tuấn thầm cầu trong bụng để bọn cướp theo tiêu chuẩn này…

Đang nghĩ lan man thì hai tên cướp đều đến trước phòng giam. Tên mặt Miccky Mouse nói:

– Ai ngồi chỗ đó. Tao sẽ thả một nửa.

Hắn tiến vào trong, liếc nhìn mọi người…Mimi và Hoa đều ngồi lại ngay ngăn, hồi hộp chờ đợi. Vì không có đủ ghế, nên các con tin đứng ngồi hơi lộn xôn. Tên cướp ra lệnh tất cả đứng lên theo một hàng ngang. Từ trái sang phải, một bà Mỹ trắng ở đầu hàng, tiếp theo là Tuấn, Hoành, Mimi, Hoa rồi kế tiếp những người khác.

Lúc bọn cướp chưa có quyết định thả người theo tiêu chuẩn nào thì bà manager lại giơ tay, miệng nói:

– Tao ở lại.

Tên cướp hơi khựng lại, nhìn bà này…không trả lời. Hắn tiến về phía trái, bắt đầu đếm…từ bà Mỹ trắng…tới Tuấn…đủ bẩy người…

– Bẩy người này đi ra.

Mọi người nhao nhao…như muốn phản đối, nhất là bà Mễ mập đứng cuối hàng, bà ta la lên:

– Lady first…

Tên cướp mặt Micky Mouse, chĩa súng về phía đó hét lên:

– Im…tao bắn bỏ mày bây giờ…

Bà kia nghẹn lời.

Tuấn giật mình khi thấy bọn mình được thả hết.

Những người được chọn, mừng rỡ, líu ríu đi ra. Tuấn cố ý tới sát tên cướp chỉ huy…nhìn kỹ bàn tay…Khi đi gần hắn, Tuấn thấy hắn quay đi, nhưng bất chợt cậu thoáng ngủi một mùi khét khét quen thuộc nên giật thót người…lo sợ. Tuấn liên tưởng tới một người…

Vừa đi ra, Tuấn vừa suy nghĩ…khiến cả bọn tới ngoài lúc nào không hay. Hai ba người cảnh sát chạy ùa ra đưa mấy người về phía sau các xe cảnh sát đậu dọc theo lề đường bên kia. Mimi và Hoa ôm nhau mừng rỡ. Hoành hôn phớt qua môi vợ!

Gần bẩy giờ chiều, nhưng ánh nắng còn chiếu vàng, xiên trên tường mấy cao ốc bên đường phố.

Tuấn đỡ hai ly nước ngọt trên tay người cảnh sát sau tiếng cảm ơn, rồi quay lại đưa cho Hoành một ly, khẽ nói:

– Anh ra đây, mình nói chuyện một chút.

Hoành không biết chuyện gì, hơi ngẩn ra, nhưng cũng đi theo Tuấn đến chỗ vắng.

Tuấn nhìn trước, nhìn sau, rồi khẽ nói với Hoành:

– Anh có thấy…cái thằng chủ chốt của bọn cướp không?…Cái thằng đeo mặt nạ Micky Mouse ấy.

Hoanh nhíu mày:

– Rồi sao…Tuấn thấy gì?

Hoành hỏi ngược lại, khiến Tuấn hơi ngập ngừng, rồi cuối cùng cũng nói sự nhận xét của mình:

– Em thấy…ánh mắt nó nhìn bọn mình, giọng nói ngờ ngợ…nhưng tới khi đi qua nó, nhìn bàn tay, ngửi thấy mùi khen khét của quần áo nó…em nhận ra…

Hoành hỏi vội:

– Ai ?

Tuấn khó khăn lắm mới buột miệng:

– Thằng Bắc!

Hoành há hốc miệng vì sửng sốt:

– Thật không???

– Em cũng đoán vậy thôi…Mình phải “check” với bác Tài…Nếu mình không tìm ra nó chiều nay…thì đúng rồi.

Hoành gật đầu:

– Vậy hai anh em mình đi. Từ từ hãy nói với các bà ấy.

Đàng kia, Micheal đã đón Hoa đang đứng bên Mimi. Thấy Hoa chỉ về phía mình, Tuấn nói nhanh:

– Mình lại kia cái đã…anh Micheal cũng ra tới kia.

Hoành nhìn theo Tuấn, rồi gật đầu.

Trong khi Hoành và Hoa trả lời mấy câu hỏi của cảnh sát, Tuấn đưa mắt nhìn hiện trường. Có tới hơn mười xe cảnh sát bao vây vòng trong, vòng ngoài. Bên những cột điện, ban-công mấy cao ốc chung quanh cũng đều có xạ thủ hướng mũi súng về phía cửa ngân hàng, bọn cướp thực khó thoát khỏi vòng vây. Dĩ nhiên, có con tin trong tay, chúng có thể ra điều kiện với cảnh sát để thoát hiểm. Nhưng nghĩ cho cùng, có thoát được nơi đây, chúng sẽ phải tới một địa phương nào để sống? Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ kèm theo thỏa ước dẫn độ thì trốn đi đâu cũng không ổn, trừ mấy nước cộng sản còn sót lại. Nhưng kẹt mà phải sang đó…thì tiền của cướp được ở đây cũng phải cúng cho nhà nước,…Với thành tích cướp bóc đó, bọn Cộng Sản sau khi lột hết tiền, chúng cũng chẳng muốn chứa chấp, chẳng khéo rồi đi “mò tôm” sớm thôi.

Tuấn mang nặng mối lo âu cho thằng bạn học của mình, nếu thực sự nó ở trong nhóm bọn cướp.

Đang vừa quan sát, vừa suy nghĩ, Tuấn chợt nghe thấy tiếng Hoa gọi, vội trở lại chỗ mấy người . Sau khi được cảnh sát đồng ý, mấy anh chị em lên xe, hẹn cùng về nhà Hoa.

Thành tình cờ xem TV, đã biết chuyện sẩy ra ngoài ngân hàng, đúng lúc chị em Hoa được thả ra. Thực hú vía!

Mọi người quây quần trong nhà khách.

Tuấn trình bầy lại những nhận xét của mình, rồi kết luận:

– Từ ánh mắt, rồi giọng nói tới cái mùi khét của tên mặt nạ Micky Mouse, nhất là cách nó thả con tin, con nghĩ chắc là thằng Bắc tới chín mươi phần trăm.

Hoành cũng gật đầu, đồng ý với Tuấn. Hoành nói thêm:

– Thường người ta cho trẻ nít, đàn bà hoặc người già cả ưu tiên…nhất là cái ông Mỹ có vợ sắp sinh…ra trước. Đàng này nó lại đếm từ đầu…để trong số con tin được thả có tất cả ngưới quen.

Thành không đợi bàn thêm, anh vừa quay điện thoại cho Tài, vừa nói:

– Để ba gọi sang bác Tài…mời sang đây nói chuyện…cho kín đáo hơn.

Khi chuông reo, may mắn có tiếng Mạnh trong máy:

– Allô, Tài tôi nghe đây…

– Anh Tài, Thành đây, cháu Bắc có nhà không?

– Nó đi học chưa về…

– Thế à? Tôi có chuyện rất quan trọng muốn bàn với anh…anh có thể sang tôi chơi được không.

Tài cười khà:

– Ừa, được chứ…Có món gì đấy…

Tài nghĩ có nhậu nhoẹt nên hỏi đùa thế. Thành nói cho qua chuyện:

– Sẵn cả, sang ngay nhé.

– O.K Salem…

Đặt ống điện thoại xuống, Thành quay ra, nói với mọi người:

– Hắn chưa biết chuyện gì cả, bảo thằng Bắc đi học chưa về. Sang ngay đấy.

Hoa đưa ra mấy xách cô ca, chia cho mỗi người một lon. Tiếng mở nắp kêu lách tách, tiếng hơi xì ra…Mọi người yên lặng chờ đợi.

Thành quên chuyện quan trọng, hỏi Tuấn:

– Quên, điều kiện để thả con tin của bọn cướp là gì?

Tuấn lắc đầu:

– Con cũng không biết. Lúc được thả ra, chỉ biết là bọn cướp đang đợi để được nói chuyện với cảnh sát trưởng thành phố…nhưng tới lúc chúng con ra, chưa thấy cảnh sát đáp ứng…bọn chúng chắc muốn đặt điều kiện với cấp cao…cho chắc ăn.

Thành gật đầu:

– Như vậy tình thế cũng chưa đến nỗi nào. Bàn với Tài xong, mình nên ra cả đó. Nếu đúng là thằng Bắc…thì mình phải tìm cách cứu nó. Có lẽ phải nhờ tới cả anh Đương, cô Thúy bên bác Hùng…

Thành lấy sổ điện thoại, quay số pager của Đương vì lúc này văn phòng nào cũng đã đóng cửa. Thành nhắn một câu gọn: “ Tôi là Thành, khẩn cấp muốn gặp anh Đương.”

Vừa lúc đó, Tài từ ngoài vui vẻ bước vào. Anh ngạc nhiên khi thấy đông đủ mọi người, nhưng mặt ai cũng đăm đăm, không đáp ứng cái vui vẻ mình mang lại, mà chỉ khẽ gật đầu chào khi anh bắt tay anh. Cuối cùng, Thành nắm tay, nương theo, kéo Tài ngồi xuống bên mình.

Tài nhìn mọi người rồi hỏi:

– Có chuyện gì đây?

Thành khẽ nói:

– Tôi nghĩ có thể liên can tới cháu Bắc. Tuấn trình bầy lại câu chuyện cho bác Tài nghe.

Tuấn cho Tài biết ngoài mình, câu chuyện sẩy ra có mặt cả Hoành và Hoa. Sau đó, Tuấn nói lại câu chuyện với tất cả các phỏng đoán của mình.

Tài ngồi yên lắng nghe hết câu chuyện, rồi thẫn thờ nói:

– Tuấn suy luận cũng có lý lắm. Vậy theo ý anh Thành…thì..

Tài bất chợt nghĩ ngay tới cái mộng Mộ Dung Phục của thằng con, lòng vừa bối rối, vừa ân hận…

Thành gật đầu:

– Trước tiên mình nên gặp anh Đương để biết ý kiến anh ấy về vấn đề pháp lý như thế nào. Sau, anh em mình ra ngoài đó xem công chuyện biến chuyển ra sao…

Ngay lúc đó, Đương gọi lại. Thành nói:

– Nếu có thể được, xin anh ghé bên tôi ngay..chúng tôi muốn anh giúp đỡ một việc rất quan trọng.

Đương đồng ý liền, Thành cúp máy. Anh quay ra, bàn thêm:

– Đàn bà con gái…ở nhà, không nên ra đó…vì cũng chẳng giúp gì được…

Không bao lâu, Đương và Thúy cũng về tới. Sau khi biết chuyện, theo Đương, bọn cướp chỉ có hai con đường, một là đầu hàng vô điều kiện để được một cái án giảm khinh, hai là đặt điều kiện để chạy trốn…nhưng nếu sau đó, bị bắt lại thì lãnh án nặng. Nếu Bắc trong số đó, mình nên khuyên đầu hàng. Đương hứa sẽ đứng ra nhận là Luật sư thụ ủy để biện hộ cho Bắc.

Khi bàn đến đây, một vấn đề tế nhị mà ai, tuy không nói ra, nhưng đều có trong đầu là nếu quả thực Bắc là tên đeo mặt nạ Micky Mouse, tại sao nó phải dính vào một chuyện nguy hiểm như vậy. Xét cho cùng, nhà Tài cũng đâu có túng thiếu, và tính Bắc lại không phải là một thằng ham tiền tài…Nhiều khi nó còn tỏ ra một thanh niên có lý tưởng nữa. Hay nó bị bọn nào đó “black mail” để phải làm chuyện này. Vậy hai đứa kia là ai?

Bẩy giờ bốn lăm phút, Tuấn chở Thành và Tài, Hoành, Micheal đi chung xe với Đương và Thúy. Họ đậu xe ở một phố khác gần đó, rồi đi bộ tới.

Trời mùa hè còn sáng. Chung quanh, cảnh sát vẫn bao vây. Nơi có bộ chỉ huy, ông cảnh sát trưởng thành phố đã nói chuyện với bọn cướp.

Đương quen với một thông tín viên đài truyền hình 11, dò hỏi thì được biết một tin động trời: “Bọn cướp đòi hai điều kiện để thả thêm con tin: một là nộp thêm cho chúng năm trăm ngàn Mỹ Kim nữa, thứ hai là chúng sẽ đem theo bà manager và chính phủ Mỹ phải đưa chúng an toàn tới…biên giới Việt Nam-Cam bốt bằng phương tiện hàng không, nơi mà chúng tin tưởng ở đó có chiến khu của một chính phủ Vitệt Nam lưu vong, một tổ chức kháng chiến chống chế độ Cộng sản Hà Nội mà hoạt động của họ từng được báo chí ở đây viết tới.

Điều kiện thứ nhất, không có gì đáng nói, nhưng điều kiện thứ hai làm mọi người đều sửng số. Nó muốn trở thành…Mộ Dung Phục của nước Việt thực sao?

Lý lịch của bọn cướp chưa được biết. Bên cảnh sát đã bằng lòng hai điều kiện trên, và bây giờ là lúc họ sắp xếp để thực thi.

Cả bọn Tuấn chỉ trao đổi với nhau bằng mắt. Tuấn suy nghĩ kỹ càng, rồi khẽ nói với mọi người là mình muốn giúp cảnh sát đưa tiền vào cho bọn cướp. Nhân cơ hội này, nếu tên chỉ huy kia là…Bắc, Tuấn sẽ khuyên nó bỏ cái ý định hoang tưởng đó đi. Mục đích của cảnh sát không phải thực tâm muốn thi hành điều kiện trao đổi…mà chỉ dùng làm kế hoãn binh, đợi lúc thuận tiện sẽ tiêu diệt đối phương. Một quãng đường xa bằng nữa vòng trái đất sẽ có biết baọ bất trắc đến mất mạng có thể sẩy ra cho bọn cướp.

Cho đến bây giờ, mọi người đều biết ba tên cướp đều là người Việt! Vì thế Tuấn cho bên cảnh sát biết mình muốn vừa lãnh nhiệm vụ đưa vào năm trăm ngàn để đổi lấy các con tin, vừa nhân cơ hội này, Tuấn sẽ hết sức khuyên nhủ bọn họ qui hàng nhân viên công lưc.

Những người trong ban chỉ huy cảnh sát nghe Tuấn nói, họ bằng lòng đề nghị của Tuấn, vì bên Tuấn còn có Hoành, Micheal và nhất là Đương. Nhưng, một viên trung úy cảnh sát đặc cảnh nhận ra Tuấn là một nghi can trong vụ một học sinh Mỹ bị băng đảng Việt giết hồi nào, có ý nghi ngờ thiện chí của Tuấn, hai ba lần muốn bác khước đề nghị của Tuấn, nhưng hắn không có đủ lý do để thuyết phụ vị cảnh sát trưởng thành phố.

Tiền đã để sẵn trong một chiếc va-li Samsonnite cỡ trung bình, chỉ còn chờ cảnh sát bố trí cuộc gặp gỡ.. Theo đó, một chiếc trực thăng sẽ đáp xuống quãng phố cách cửa ngân hàng chừng mươi mét…lý do không đỗ ngay trước cửa vì quãng đó đang là dàn quân của cảnh sát, không thể di chuyển. Bọn cướp sẽ nhận tiền, lần lượt lên máy bay với bà manager, các con tin khác sẽ ở lại trong nhà, không cần ra trước khi trực thăng cất cánh. Từ đây, bọn họ được đưa ra sân bay quốc tế để đi Đông Nam Á trong một chuyến phi cơ “none stop” đến Phi Cảng quốc tế Nam Vang. Từ đây, sẽ được bí mật đưa ra biên giới tam giác sắt, nơi dự đoán có chiến khu quân kháng chiến Việt Nam. Tại địa điểm này, bà manager của ngân hàng được trảï cho một nhân viên CIA tháp tùng.

Tuấn được cảnh sát trình bầy kế hoạch này chỉ chi tiết tại đây, còn những trọng điểm khác như hai phi trường quốc tế ở đây, ở Nam Vang cũng như đoạn đường bí mật ra biên giới được nhắc tới một cách rất sơ lược, khiến Tuấn rất thắc mắc. Nhiệm vụ của Tuấn là

xách cặp tiền vào với một nhân viên CIA, giải thích cho bọn cướp chương trình đi chiến khu kháng chiến qua tập “lay-out” viết tay của cảnh sát. Vì thế, trong thâm tâm, Tuấn nhất quyết tìm giải pháp hòa bình cho ba người, nếu không họ sẽ mất mạng như chơi với những tên CIA quá nhiều kinh nghiệm.

Một điều Tuấn vẫn còn thấy nhói trong tim là mục đích vì nó mà ba người thanh niên Việt Nam kia phải làm chuyện động trời này: kiếm tiền về giúp quân kháng chiến chống bạo quyền Hà-nội. Thành và Tài lặng đi khi biết được chuyện đó. Hơn hai triệu đồng bào tị nạn phải nhỏ lệ vì tấm lòng yêu nước của mấy thanh niên dại dột này! Tuấn nghĩ kìa ông Thiệu với nhà cao cửa rộng, sống phè phỡn…rong chơi khắp năm châu bốn biển, tới đâu cũng muốn người ta tung hô như “ông zua”, chưa một lần bỏ ra một đô la…đóng góp cho công cuộc phục quốc; Ông Kỳ hết làm “business” tiệm liquor tới tầu đáng cá…đến hết tiền mang theo, định buôn vua bán nước nữa hay sao mà được dịp nào là tuyên bố vung vít hòa giả với kẻ thù của dân tộc; rồi các “tướng lãnh” còn lại…xem ra cũng chỉ là một phường giá áo túi cơm sao?…Quí vị phải cúi mặt trước tấm lòng của những người trẻ này…xin đừng nhếch mép cười mỉa mai, cho họ là bọn khùng điên…mà nên tự trách mình đã kém cỏi, không biết hướng dẫn lòng ái quốc sáng chói của họ để làm lợi quê hương. Ba anh này cũng xứng đáng ghi danh như một Phạm Hồng Thái sau việc liều thân ôm bom ám hại quân thù tại Hoàng Hoa Cương năm xưa! Tuấn càng căm hận thấy mỗi khi nói về mục đích của vụ đánh cướp cũng như nhắc tới quân kháng chiến Việt Nam, bọn Mỹ cười mỉa cười mai…hay tệ hơn với giọng chế diễu, hoặc lắc đầu chấm dứt bằng chữ “stupit!”.

Tám giờ mười sáu phút. Trời vừa nhá nhem tối, từ ban-công của mấy cao ốc bỗ rực lên mấy ngọn đèn pha, chiếu sáng khu nhà băng. Hàng ngũ cảnh sát như bừng tỉnh cơn ngái ngủ. Tiếng lên đạn, tiếùng chân di chuyển khiến khu phố trở nên náo động.

Đương nói khẽ với mọi người bên mình:

– Bọn nó chọn đúng cái thời điểm nguy hiểm này…Bọn cướp vừa mệt mỏi, vừa chói chang vì đèn pha..nên rất dễ dàng bị hoảng hốt. Tuấn phải báo động cho bọn chúng nó…biết dụng ý của cảnh sát.

Cảnh sát đã gọi và báo cho Tuấn biết giờ hành động đã tới. Tuấn mặc bên ngoài cái jacket mầu đỏ của đội football 49er để bên ngoài, dù ở xa cũng không lẫn Tuấn với bon cướp. Tuấn cũng nói rõ điều này với ban chỉ huy cảnh sát. Một người Mỹ mặc thường phục đã đứng chờ ngoài cửa để cùng đi với Tuấn.

Tuấn hết sức hồi hộp khi xách cái va-ly tiền. Chìa khóa trong tay người kia, mà Tuấn biết là một nhân viên CIA.

Bước ra tới vùng ánh sáng của pha đèn, mắt Tuấn chói đến độ không định được phương hướng. Phải lấy tay che mắt, Tuấn mới biết lối đi tới cửa ngân hàng. Lời của Đương nói quả không sai. Tuấn mà còn mất kiểm soát đến thế, huống chi bọn cướp mệt mỏi và lo sợ từ bên trong ra, không biết sẽ hoang mang đến cỡ nào.

Anh CIA đi trước, Tuấn theo sau. Chắc bên chỉ huy đã gọi điện thoại vào, nên khi hai người vừa tới thềm nhà, cửa đã được mở ra.

Bên trong, mấy đĩa giấy, xiên muỗm nhựa vất bừa trên sàn nhà. Tuấn nghĩ chắc đây là đồ ăn do cảnh sát cho mang vào. Sáu con tin sắp được trao đổi đang bồn chồi đứng ngồi ơ gần cửa ra vào. Bà manager thì ngồi ngay tại phòng việc của bà ta vẫn do tên mặt đầu lâu canh giữ.

Tên mặt Michky Mouse ngỡ ngàng khi thấy Tuấn trở vào.

Bên ngoài có tiếng cánh quạt trực thăng đáp xuống phố. Hai tên cướp và hai người từ ngoài vào, tới ngồi tại sa lông, nơi buổi sáng Tuấn và vợ chồng Hoành đã ngồi.

Người nhân viên CIA vừa ngồi xuống, vừa nói:

– Chúng tao đã mang tiền vào đây.

Hắn đỡ lấy va-ly tiền từ tay Tuấn, rồi lấy chìa khóa mở ra trước mắt hai tên cướp. Những sấp giấy bạc một trăm đầy ắp va-ly.

Hai tên cướp nhìn kỹ, rồi gật đầu:

– Để đó. Vậy bao giờ đi?

Anh CIA nói:

– Bất cứ lúc nào. Nhưng trước hết, để con tin trong phòng kia, bọn mày ba đứa và bà manager của ngân hàng sẽ lên trực thăng với tao để ra phi trường quốc tế.

Muốn bọn cướp hiểu rõ hơn, Tuấn bảo anh CIA để mình dịch ra tiếng Việt cho chúng nghe, đồng thời nói với chúng(bằng tiếng Anh):

– Trước khi ra cửa, tao sẽ giải thích cái chương trình đi từ đây tới Cam-bốt cho tụi mày hiểu rõ được vấn đề.

Nhân viên CIA gật đầu đồng ý. Nhưng để dễ thi hành mưu định của mình, Tuấn nói với anh ta:

– Ông vào nói chuyện với bà manager về chuyến đi, còn ngoài này đã có tôi.

Anh Mỹ O.K, nhưng xách va-ly tiền theo. Tuấn thấy không có gì cần phản đối.

Khi chỉ còn ba người, Tuấn nói nhỏ:

– Bắc! có phải mày không?

Tên mặt Micky Mouse trợn mắt sửng sốt. Cuối cùng nó khẽ gật đầu. Tuấn khẽ hất mặt về thằng kia, Bắc khẽ nói:

– Tư Chơi!

Tuấn lặng người đi. Một phút sau, Tuấn lấy lại bình tĩnh, ôn tồn bảo hai đứa:

– Tụi bay làm việc này vô cùng dại dột. Nếu có thoát được lúc đầu chăng nữa cũng không thể mang tiền đánh cướp sang bên biên giới. Hơn nữa, bây giờ lại chuyển qua chuyện bắt chính phủ Mỹ dùng phi cơ chở bọn mày đi. Tao chỉ sợ vừa bước chân ra chỗ này…là tụi bay bị hạ rồi, chứ đừng nói còn dịp lên phi cơ ở phi trường San Jose. Cảnh sát chỉ cần dụ tụi bay ra khỏi đây, cách biệt với đám con tin mà thôi.

Hai đứa ngồi im nghe, Tuấn tiếp:

– Lên phi cơ từ đây, bay về Bangkok, dùng xe hơi bí mật tới biên giới với thằng CIA kia…biết bao dịp để nó thịt tụi bay?

Tuấn ngưng một lúc để hai đứa có thì giờ suy nghĩ.

Cuối cùng, Tuấn phải lấy hết sự thành thực nói:

– Còn chuyện các ông kháng chiến…chưa chắc đã có thật. Mà có đi chăng nữa, bọn mày tới đó dễ gì mà gặp được họ. Cả một vùng biên giới hiểm trở, làm sao tìm cho ra? Nếu dễ dàng tìm ra, bọn Việt Công nó để yên cho mấy ông ấy à?

Bắc vẫn ngoan cố:

– Lúc nào tao cũng giữ con mẻ bên cạnh, cách gì nó dám hại tụi tao. Còn mấy ông kháng chiến…báo chí đăng rầm vụ này, họ sẽ tìm cách tiếp xúc, lo gì.

Tuấn hừm trong miệng, rồi lắc đầu:

– Bộ…con mẹ Mỹ đó không ăn, không vào restroom trong suốt thời gian ba bốn ngày đi đường? Còn mày nói báo chí đăng? Có thể ở đây, nhưng không ở biên giới chỗ khỉ ho cò gáy.

Đến lúc này, Tư Chơi mới khẽ thở dài:

– Đầu tiên, mình nghĩ giản dị là lấy được một số tiền…một phần giúp mấy ông kháng chiến, một phần giúp bà con nghèo khổ ở nhà, lại vừa bị tai ương bão, lụt lội… bọn Việt cộng không những không giúp đỡ…mà còn ăn chặn tiền và tặng phẩm tiếp tế của hội Hồng Thập Tự Quốc Tế nữa! Đâu có biết…lạïi rắc rối đến chừng này. Tôi không sợ hy sinh nếu làm được việc tốt cho đồng bào…

Tuấn cảm động:

– Tôi cũng rất phục sự can đảm và tấm lòng của các bạn. Nhưng tình thế này bất lợi cho mình…Vì thế, tôi nghĩ chúng ta sẽ tìm một giải pháp khác sau này. Bây giờ, tôi đề nghị mấy người nên đầu hàng đi. Chú Đương hứa sẽ biện hộ cho bọn mình…Mạng mình còn, còn có ngày làm được điều mình mong muốn…Nhé…hàng đi.

Bắc và Tư Chơi lột mặt na xuốngï, nước mắt rưng rưng, không nói nên lời, chỉ lắc đầu…chán nản. Tuấn đặt tay lên vai hai bạn, lòng cũng vô cùng xúc động: Các thanh niên Việt Nam ở hải ngoại đâu cả. Các bạn đang ở trong các đại học đường…hay đã thành đạt…có bao giờ các bạn để lòng lắng đọng một vài phút nhớ tới tương lai của quê hương thân yêu hoặc các đồng bào nghè khổ tại quê nhà như hai bạn dại dột, nhưng đầy nhiệt thành này không? Nước mắt trào ra làm mờ mắt Tuấn…

Khi anh CIA ra để tiếp tục chương trình hành động, ngạc nhiên trước cảnh ba thanh niên đang ôm lấy nhau mà khóc. Hắn tròn mắt hỏi: “What!”.

Tuấn buông hai bạn ra, giới thiệu tên hai người với anh CIA, rồi nói:

– Hai anh này đã bằng lòng…đầu hàng…với điều kiện được khoan hồng.

Anh CIA gật đầu, reo lên:

– Rất tốt…Tôi sẽ bá cáo với cấp trên.

Tuấn ra hiệu mời mọi người xuống, rồi nói:

– Anh sẽ ra ngoài trước với tất cả những số tiền của ngân hàng cũng như cặp tiền nửa triệu của cảnh sát cùng những con tin còn lại. Tôi sẽ dẫn họ với bà manager và ông phụ tá…ra sau. Bây giờ để bọn họ tiếp xúc với ông cảnh sát trưởng về chuyện đầu hàngï.

Ba người đứng vây chung quanh Bắc để nó điện thoại cho ban chỉ huy cả cảnh sát:

– Allo tôi muốn nói chuyện với ông cảnh sàt trương.

-…

– Tôi đại diện cho ba người ăn cướp ở đây…chúng tôi đầu hàng với điều kiện được khoan hồng.

-…

Phút sau, bên ngoài có tiếng la ó, vỗ tay rất ồn ào. Chắc mọi người đã được thông báo.

Anh CIA gật đầu:

– Được rồi. Tao vào thông báo cho bà manager và các con tin khác biết tự sự trước khi ra khỏi đây.

Hắn nói xong, đi liền.

Tên cướp gác phòng con tin ngẩn người ra khi Bắc tới bảo nó về quyết định hàng cảnh sát. Nó từ từ gỡ chiếc mặt nạ sọ người xuống, vất xuống đất. Tên con trai tuổi chừng mười lăm, một đàn em của Tư Chơi, cũng còn bố mẹ ở Việt Nam…nên tham gia vụ đánh cướp để theo về…với một số tiền được chia cho.

Anh CIA trở ra với các con tin, và bảo họ xếp hàng một bên trong cửa ra vào, trừ hai nhân viên cao cấp của ngân hàng. Anh ta nhờ một con tin đàn ông mang giúp mấy túi vải tiền. Cửa ngân hàng mở rộng, anh CIA đi đầu, dẫn năm con tin từ từ bước ra ngoài, dưới ánh đèn pha chói sáng. Anh CIA đã lớn tiếng loan báo xác định chuyện đầu hàng của ba tên cướp, khiến bên ngoài lại vỗ tay vang khắp đường phố.

Trong này, Tuấn bàn với Bắc và Tư Chơi:

– Tuy mình đã đầu hàng, nhưng cũng phải cẩn thận…Bây giờ, tôi và Bắc ra trước với bà manager… sau đó tới chú em …tiếp theo tên phụ tá…rồi tới anh Tư…

Tuấn cũng nói với hai con tin còn lại sự xếp đặt của mình. Sau khi mọi người đã đồng ý, Tuấn mở cửa đi ra…tiếp theo là bà manager và Bắc.

Ba người đều bị chói mắt vì những chiếc đèn pha chiếu thẳng vào mình. Ra khỏi cửa chừng dăm bước trong một bầu không khí im lặng và căng thẳng tột cùng. Tuấn khẽ bảo Bắc vất súng ra xa…hai tay đưa cao khỏi đầu. Bắc vừa nghe lời quăng khẩu súng cold xuống đất…cùng lúc bà manager vụt tay Bắc chạy mau về phía cảnh sát…khiến Bắc lúng túng…thì một tràng súng ở một cao ốc nào đó bắn ra…Cả Tuấn lẫn Bắc đều trúng đạn, thét lên đau đớn, rồi té sấp xuống đất. Nhiều tiếng la ó ầm ĩ. Một số thông tín viên với máy quay phim tràn tới gần hai thanh niên đang quằn quại trên vũng máu. Cùng lúc đó, dù cảnh sát ngăn chặn, nhưng Đương và Micheal đều phóng ra đến bên Tuấn và Bắc…Cảnh hỗn loạn xảy ra trước cửa ngân hàng.

Bỗng, từ trong ngân hàng, nhiều phát súng nổ chát chúa khiến tất cả lộn xộn trước cửa đều ngưng lại. Mấy cảnh sát dã chiến áo đen, mũ sắt từ đâu, phóng tới, đạp tung cửa, xông vào trong ngân hàng. Cuộc chạm súng xẩy ra hỗn loạn bên trong vọng ra…khiến tất cả mọi người tại hiện trường đều vô cùng sửng sốt.

Sau cùng, tiếng súng dứt. Sự yên lặng nặng nề bao trùm mọi người. Nhiều tiếng hụ của xe cứu thương khẩn cấp mỗi lúc một gần, tạo thêm cho quang cảnh càng trở nên hết sức sôi động. Mấy người trợ y xuống xe, tiến đến nơi Tuấn và Bắc nằm, nhanh nhẹn lấy đồ nghề ra, lo cho vết thương và chuyền nước biển cho hai người. Sau đó, Tuấn và Bắc được đưa lên xe cứu thương để tức tốc chở về bệnh viện. Sống chết chưa biết ra sao.

Tiếng còi hụ của xe cứu thương vang động khu phố.

Một dàn cảnh sát đứng hàng ngang ngăn chặn mọi người . Những băng ni-lông mầu vàng được giăng ra chung quanh nơi này.

Chiếc xe cứu thương thứ hai vừa tắt còi hụ, từ từ tiến sát cửa ngân hàng. Hai, ba người trợ y khác với đồ nghề và cáng được đưa vào trong.

Hoành lên xe chở Tuấn và Bắc để cùng về bệnh viện. Hoa chở Mimi, Thành chở Tài, mọi người vội lấy xe chạy theo sau xe cứu thương. Michael và Đương, Thúy đứng chực trước cửa ra vào . Mọi người đều không ngờ diễn tiến lại xẩy ra bi đát đến vậy.

Không lâu, hai xác chết bao kín trong túi da mầu đen, được khiêng ra cùng một cảnh sát viên bị thương nhẹ nơi tay đã được băng bó.. Chú đệ tử của Tư Chơi bị còng tay dẫn đi giữa ba bốn cảnh sát vây quanh.

Đương đến bên, lấy danh nghĩa là luật sư thụ ủy của ba tên cướp để được tiếp xúc với tên cướp còn sống. Trước một xe cảnh sát sẵn sàng di chuyển, Đương hỏi mau:

– Người chết là những ai?

– Anh Tư Chơi…và người Mỹ phụ tá…

– Ai bắn?

– Anh Tư thấy hai anh ngoài này bị hạ, tức giận gầm lên, tới bên ông Mỹ…bắn liên tiếp gần hết băng đạn…sau đó, cảnh sát tiến vào, hai bên bắn nhau…anh Tư Chơi hết đạn nên bị hạ tại chỗ…

Michael ôm đầu, thốt lên ai oán:

– Trời!

Đương cũng không ngờ cả Bắc và Tư Chơi dính líu tới vụ này.

Chú đàn em của Tư Chơi bị đưa lên xe cảnh sát có còi hụ chở về bót. Đương và Micheal trở lại ban chỉ huy của ông cảnh sát trưởng thành phố. Ông này không có

mặt tại đây nữa. Một số cảnh sát còn đứng gác nơi này. Đương gặp một viên Sergeant, anh hỏi ngay:

– Lý do nào mà các anh nổ súng?

– Đang điều tra…nhưng lý do được nêu ra là…tên cướp vung súng định bắn con tin..

– Nó ném súng xuống đất…mọi người đều thấy rõ ràng…

– Thấy nó cầm súng đưa lên…coi như trường hợp khẩn cấp phải nổ súng liền…vì nếu phải đợi…nữa…để biết nó quang súng xuống đất hay bắn con tin thì không còn ngăn chặn được nữa!

Đó cũng là một sơ hở vì thiếu kinh nghiệm của hai cậu nhỏ. Nhưng Đương vẫn gay gắt:

– Nhưng còn người đi thuyết phục bọn cướp dùm cho cảnh sát?

Anh Sergeant trả lời tỉnh bơ:

– Trong tình thế khẩn trương…có thể bị lạc đạn thôi.

– Vụ này…không giản dị vậy đâu. Các anh sẽ phải trả lời trước tòa.

Hiện trường mỗi lúc một vắng vẻ, Đương và Michael lại gần tòa nhà có xạ thủ bắn Bắc và Tuấn. Từ tầng hai, mấy cánh cửa sổ, nơi phát ra tiếng súng đã đóng chặt.

Đương vừa đi, vừa nói:

– Vụ con mẹ manager bỏ chạy về phía cảnh sát…có thể là âm mưu của họ. Tiền đã mang ra, không lý nào mụ ta còn sợ bọn Bắc phản phé…

Micheal gật đầu đồng ý, nhưng còn thắc mắc:

– Nhưng một phần vì Bắc có súng…

Đương lắc đầu:

– Đó chỉ là cái cớ. Nếu không có súng, khi thấy mụ ta bỏ chạy như thế, phản ứng tự nhiên của Bắc thế nào cũng đuổi theo, ít nhất vài ba bước….bọn xạ thủ vẫn có cớ để ra tay. Bọn nhà nghề này tính toán thực kỹ lưỡng…làm sao mấy đứa nhà mình thoát khởi!

Ngưng một chút, Đương tiếp:

– Michael có thấy tên trung úy cảnh sát…lúc nào cũng tỏ ra bất tín nhiệm Tuấn không…Nghe ông Thành nói…sự ghen ghét đó do cái vụ…học sinh Mỹ bị bọn gang Việt giết hồi trước. Chúng đã bắt Bắc và Tuấn, nhưng sau phải thả vì vô bằng cớ…Biết đâu nhân dịp này…

– Em cũng biết sơ qua cái vụ đó…có lẽ thực đấy, anh ạ.

– Nhưng, bọn nó không ngờ…Tư Chơi lại có gan hạ tên phụ tá…còn kẹt trong nhà. Tụi mình đều biết Tư Chơi là tay giang hồ…chuyện bạn bị hại…nó đâu có để yên cho đối phương. Do đó, trong vụ này, cảnh sát cũng đau không kém bên mình.

Đương khẽ cườp, tiếp:

– Nếu mình khôn khéo…đẩy thân nhân của tên kia…tới chỗ qui trách nhiệm cái chết của hắn ta cho cảnh sát…là khỏe…

Đường phố đã hoàn toàn vắng vẻ. Tại hiện trường, các đèn pha đã được mang đi hết, đó đây còn vương những rác rưởi, giấy gói, hộp đựng đồ ăn vất vương vãi khắp nơi. Hai vũng máu của Bắc và Tuấn đã đông, đen quánh lại…dưới ánh điện vàng vọt của phố đêm. Không ai bảo ai, cả hai đều thở dài.

Trước khi lên xe, Đương đưa mắt nhìn khắp nơi,

mường tựng cảnh náo nhiệt trước đây hơn một tiếng đồng hồ, rồi ngao ngán:

– Hai ba mạng người này…rồi qui trách nhiệm về ai? Gia đình? Học đường? Xã hội? Bạo động trên TV, phim ảnh? Các tổ chức kháng chiến Việt Nam tự do? Lòng nhiệt thành đặt không đúng chỗ của tuổi trẻ?

Micheal gật đầu:

– Tai họa xẩy ra do sự thiếu suy nghĩ đến dại dột của họ thực. Nhưng hành động này cũng khiến cho bọn trẻ tụi em phải suy nghĩ!

Tiếng máy xe nổ êm ru, Đương lái xe về hướng Bệnh Viện để lại đàng sau cảnh khu phố hoang tàn.

                                             Không hẳn là hư cấu!

                                                  Vào Hè, 1998

                                                       Hồ Linh

 

 

 

 

 

SAO SÁNG ĐÊM TRỪ TỊCH

 

Sao Sáng Giữa Đêm Trừ Tịch

        Đầu năm tám mốt, chúng tôi được một nhà thờ Công Giáo bảo trợ về định cư tại cái thành phố Syracuse đèo heo hút gió này. So với các thành phố khác trên đất Mỹ, tuy nó là một thành phố nhỏ, nhưng với chừng mươi gia đình dân tỵ nạn sống rải rác khiến chúng tôi rất ít dịp gặp được người đồng hương. Ba tôi mất đúng vào đêm trừ tịch tại quê nhà, nhưng vì không có lịch ta nên từ khi ở đây, mẹ tôi đã giỗ ông theo ngày tây, nên chúng tôi hầu như không còn nhớ tới Âm lịch nữa. Vì thế, cũng như dân địa phương, Lễ Giáng Sinh là ngày lễ lớn đối với chúng tôi. Rồi cứ mỗi năm, bắt đầu từ  Mùa Vọng, những bản nhạc Giáng Sinh vang lên, lẽ ra phải là khởi điểm của những ngày vui vẻ nhất trong năm, nhưng trái lại, không hiểu sao, lòng tôi lại xót xa, buồn bã.

    Mẹ tôi thì bận tâm không ít. Tuy làm lao công vất vả và lương bổng khiêm nhường tại một nhà thương trong vùng, nhưng mỗi cuối năm, bà vẫn lấy thêm một tuần nghỉ không lương vào dịp lễ Giáng Sinh để theo chân hội Hồng Thập Tự đi thăm các viện mồ côi, không những trong vùng, mà còn ở bất cứ nơi đâu mà hội này có thể gửi bà đi. Sau mỗi lần như vậy, lúc còn bé, tôi không hiểu ý định của bà, cho đến khi mười sáu, mười bảy, một lần bắt gặp bà khóc thầm trong buồng ngủ, tôi gặn hỏi mãi để cuối cùng được bà thổ lộ, tôi cũng cảm động, khóc theo, mà còn khóc nhiều hơn bà nữa. Và cũng từ đó, tôi mới khám phá ra nỗi khắc khoải của tôi mỗi khi nghe những bản nhạc mùa Giáng Sinh.

   … Năm nay mẹ tôi cũng đã giao nhà cửa cho tôi, dăïn dò con Thanh, thằng Bách ở nhà chờ bà về đón lễ Giáng Sinh, trước khi bà lên xe của Hội Hồng Thập Tự sang Nevada thăm mấy viện mồ côi bên đó. Nhìn theo xe bà đi khuất sau ngã tư cuối đường, tôi thầm cầu xin cho cái việc bà làm chăm chỉ từ những năm qua sớm có kết quả. Chuyện này với tôi, hầu như đã hết hy vọng.

    Mười năm hơn, chúng tôi không có một tin tức gì ngoài tên cái tổ chức ngày đó gặp chúng tôi tại Việt Nam, The International Mission of Hope. Càng tới gần ngày Lễ, lòng tôi càng nao nao buồn phiền. Tôi ngong ngóng mẹ tôi sớm về để nhà đỡ quạnh hiu. Hai đứa em tôi một phần không nhớ truyện xưa vì hồi đó chúng còn nhỏ, phần rộn rã vì những sửa soạn cho ngày lễ mà trường nào ở đây cũng có để tạo niềm vui cho học trò.

    Chúng tôi dựng cây Christmas Tree từ ngày mẹ tôi còn ở nhà. Những ngày sau đó, chúng tôi trưng hoa, mắc đèn mầu, kết dây kim tuyến lên cây và riêng tôi bí mật gói những món quà trong những chiếc hộp được trang hoàng Bình giấy mầu, buộc đây ni-lông mầu đỏ, xanh lá cây là hai mầu tượng trưng cho ngày lễ, rồi xếp những hộp quà này quanh gốc cây Christmas Tree. Lễ Giáng Sinh tuy là một lễ tôn giáo, kỷ niệm ngày Thiên Chúa giáng sinh làm người để cứu chuộc nhân loại. Nhưng ngoài đời, đây là một ngày lễ mang nặng tính cách đoàn tụ. Người trong gia đình, dù đi làm ăn ở đâu đâu, tới ngày này cũng phải trở về xum họp với người thân. Điểm này đã mất gần hết ý nghĩa đối với chúng tôi. Những bài ca về Giáng Sinh vang lên rất sớm, như là những thôi thúc đớn đau thâu suốt tâm can tôi, nhất là những lúc này mẹ tôi không có ở nhà. Và chúng tôi đợi bà trong âm thầm lo lắng. Tối tối, ba chị em đọc kinh, cầu xin Chúa và Đức Mẹ cho chuyến đi của mẹ tôi được bình an và có kết quả.

     Nhưng, tới ngày lễ, và những ngày dài sau đó, mẹ tôi cũng chưa về nhà. Bà chỉ gọi điện thoại môt lần, nói có việc gấp phải đi xa.

    Ngày lễ rồi cũng qua đi trong lặng lẽ. Đêm Christmas Eve, ba chị em chúng tôi không canh thức để mở quà Giang Sinh trong những chiếc hộp mầu lộng lẫy xếp dưới gốc cây Giáng Sinh. Chúng tôi đọc kinh tối, cầu nguyện cho mẹ được bình an trong Chúa Hài Đồng.

    Rồi cuối cùng, mẹ tôi cũng về sau gần một tháng phiêu bạt mãi tận phương nào. Bà có vẻ mệt mỏi trông thấy, hai mắt thâm cuồng, đầu tóc rã rợi. Bà về là vào ngay phòng mình, khép cửa nằm cả tiếng đồng hồ không hề gọi chúng tôi tới nói chuyện, an ủi chúng tôi mấy lời sau khi  bà vắng nhà nhiều ngày qua.

    Mười giờ đêm, hai đứa em cứ muốn gõ cửa để vào hỏi thăm mẹ, tôi đã cản chúng để bà nghỉ. Nhưng cuối cùng, chính tôi cũng không nhẫn nại được nữa, quyết vào gặp bà.

    Cửa không khóa…và mẹ tôi cũng chẳng ngủ, mà chỉ nằm một mình, mặt quay vào tường, khóc thút thít. Thấy tôi vào, bà lại òa lên lớn hơn.

    Tôi thực bối rối không biết chuyện gì đã xẩy ra trong những ngày bà đi theo hội Hồng Thập Tự. Hay mẹ tôi đã biết những chuyện chẳng lành!

    – Mẹ ơi. Mẹ đừng khóc nữa. Có chuyện gì vậy?

    Mẹ tôi không trả lời, vừa khóc vừa lắc đầu, rồi đưa cho tôi một mảnh giấy báo nhầu nát. Tôi vô cùng ngạc nhiên, vội cầm lấy tờ giấy, bật chiếc đèn ngủ lên đọc:

    “    – Từ trẻ mồ côi đến những đứa con nuôi, những số phận nghiệt ngã! – Tính từ năm 1988 đến nay, cả nước đã giải quyết đến hàng nghìn cháu mồ côi ra nước ngoài theo diện “con nuôi”. Chỉ tính riêng tổ chức International Mission of Hope của Mỹ do bà Cherie Clart  đại diện từ năm 89 tới 91 đã mang sang Mỹ 70 trẻ mồ côi. Được biết trong số 70 trẻ em nói trên, chỉ có 15 em là sức khỏe bình thường, còn lại là những trẻ dị tật hoặc bệnh như sứt môi, hở hàm ếch, tay phải không ngón, chậm phát triển bộ phận sinh dục, giác mạc, không có hậu môn, dị tật tay chân, mù hai mắt, đau bẩm sinh, teo nhãn cầu và chỉ tính riêng tại thành phố, từ tháng 1 đến tháng 10, 93 đã có 205 trẻ mồ côi gồm 195 nam, 10 nữ ra nước ngoài theo diện nói trên, song cho đến nay không biết các cơ quan chức năng đã có những biện pháp nào trong việc theo dõi để nắm chắc “vận mệnh” công dân Việt Nam đi theo diện con nuôi tại nước ngoài không. Trong khi đó gần đây không ít những vụ liên quan đến việc mua bán trẻ em, nhất là những trẻ tật nguyền, để cắt lấy những bộ phận trong cơ thể các em cho những trường hợp bệnh khác. Nhờ vào tiến bộ của khoa học, có thể con người trở thành “mỏ nguyên liệu” to lớn, kỳ diệu: máu, các cơ quan, mô, xương, tinh dịch, noãn, giác mạc, da, bào thai, nhau…tất cả đều có thể khai thác được và việc buôn bán các mặt hàng này cũng sinh sôi nảy nở dưới nhiều hình thức.” Trích báo Phụ Nữ ở Saigon.

    Bên tai tôi, giọng mẹ nghẹn ngào:

   – Hết hy vọng rồi…mười mấy năm trời tìm kiếm…không nơi nào tìm được một chút vết tích gì… Vì đọc bài báo này, hội có những phái đoàn đi rất xa, mẹ cũng cố xin đi theo, biết đâu, sớm được chừng nào, hy vọng được chừng đó. Nhưng bây giờ, mẹ nghĩ…chắc anh con bị xẻ thịt rồi Thu ơi!

    Tôi cũng không cầm được nước mắt, nhưng cố an ủi:

    – Không đâu mẹ ơi…

    Mẹ tôi như không nghe thấy lời của tôi, bà tiếp tục lăn lộn trên giường, miệng khóc rưng rức.

    Không thể an ủi bà lúc này, khi mà mối tuyệt vọng đang tràn ngập trong lòng bà. Nhất là chính tôi, tôi cũng không ngăn được nước mắt, khóc theo.

    Con Thanh và thằng Bách nghe tiếng khóc cũng xô cửa ào vào phòng, nhìn mẹ và chị, tròn mắt bỡ ngỡ.

    Tôi ra ngoài, bật đèn lên, đọc lại bài báo một lần nữa. Truyện xưa hiển hiện trong đầu tôi như mới xảy ra hôm qua…

    “Ngày đó, chúng tôi đang ở tại khu Bàn Cờ, Sai gon. Sau ngày quân Việt Cộng chiếm miền Nam được ít tháng thì ba tôi bị đưa đi học tập cải tạo mãi tận ngoài Bắc, trên vùng Hoàng Liên Sơn. Gia đình tôi sống cầm cự được một thời gian nhờ bán đi trước tiên là bàn ghế, tủ rả trong nhà, sau tới giường chiếu, quần áo và tư trang. Mẹ tôi dùng số vốn bé tí tẹo để chạy hàng xách cho mấy người bán chợ trời ở đường Nguyễn Thông. Anh hai Thành của tôi, mới mười hai tuổi, lại bị tật nguyền, cụt mất một chân, do đạn pháo của Việt Cộng bắn vào trại gia binh hồi “Mùa hè đỏ lửa”, với hai cái nạng cặp hai bên nách, lê thân suốt dọc hè phố Lê Lợi, Lê Thánh Tôn để bán mấy xấp vé số, kiếm thêm tiền phụ với mẹ nuôi chúng tôi. Mỗi lần thấy anh dậy sớm, khập khễnh chống nạng ra bến đón xe buýt lên phố, nhất là hôm trời mưa gió, dù mới mười tuổi, tôi cũng thấy mủi lòng thương anh. Nhưng, vật giá mỗi ngày một tăng sau mấy lần đổi tiền, cuối cùng gia đình tôi ăn dần vào vốn, nhà không còn tới hai manh chiếu để trải nằm cho năm mẹ con.

    Có những buổi, mẹ tôi chạy cả ngày không đủ bo bo cho lũ con ăn, nói chi tới bát cơm trắng ăn với muối mè mà thằng Bách ao ước! Anh hai tôi không nhận được vé số để bán nữa vì người cung cấp vé số cho anh bị bắt vì bán số đề, nên bây giờ cũng đành ngồi bó gối nhìn chúng tôi mà hàng lệ rưng rưng. Nhưng, để nuôi hy vọng, anh thường an ủi:

    – Thôi, chúng mày chịu khó ăn bo bo ít bữa, thằng bạn tao hứa tháng sau đến lễ Noel, nó có thêm vốn sẽ nhường vé số cho tao bán, lúc đó chắc mình có gạo ăn.

    Con Thanh nói:

    – Anh hai mua đèn ông sao cho chúng em nữa anh hai nhé.

    – Ừa, tao sẽ mua một đèn ông sao to treo ngay cửa nhà mình chứ lị.

    Nhưng, khi ở đâu đó, lễ Giáng Sinh đã bắt đầu Bình một vài chiếc đèn treo trên nóc nhà thờ, chính quyền dù có cởi mở phần nào, nhưng chưa cho bổn đạo tổ chức lễ tưng bừng như xưa, anh hai tôi chống nạng đi mấy ngày cũng chưa thấy ai nhường vé số cho anh bán. Bấn quá, mẹ tôi đành bán bộ quần áo trận binh chủng nhảy dù mà mẹ tôi cố giấu bọn công an phường để làm kỷ niệm đời quân ngũ của ba chúng tôi, mà bất ngờ bây giờ lại được giá. Ngoài chợ trời, khách mua những thứ này phần đông lại là bọn cán bộ, công an hay “quân đội giải phóng”.

    Khi nhạc Giáng Sinh  “được phép” vang lên trong một vài nhà thờ trong thành phố thì ba tôi được “nhà nước” tha, cho về nhà dưỡng bệnh sau hơn sáu năm bị đầy đọa trong rừng sâu, vì họ khám phá ra ông bị ung thư phổi tới thời kỳ cuối cùng, nghĩa là cho về để sửa soạn sang bên kia thế giới.

   Nhưng dù sao đây cũng là một sự an ủi lớn lao của gia đình chúng tôi. Ngày Chúa gọi ba tôi về trời đúng vào một đêm giao thừa linh thiêng. Bên giường bệnh, ba tôi nhắn nhủ lời cuối cùng với mẹ tôi là cố tìm cách vượt biên ra ngoại quốc để bảo đảm cho tương lai chúng tôi, nhất là anh Thành có thể làm được một chân giả để anh đi đứng được như người ta. Lúc đó, chúng tôi vâng dạ với lời trăn trối của ba tôi như cho vừa lòng người, vì vượt biên là chuyện rất là xa vời với gia đình nghèo khó như chúng tôi.

    Việc ma chay  của ba tôi rất là lúng túng, vì nhìn quanh, chẳng ai có thể giúp đỡ chúng tôi khi mà cả nước đều sống trong nghèo đói. Trong lúc quẫn bách đó, may sao có người đề nghị cho mẹ tôi vay một số tiền vừa đủ để mua cho ông một cỗ quan tài, một vài mâm rượu để gọi là một chút đền đáp lòng tốt của bà con lối xóm, họ hàng, Bình hữu đã nghĩ tới mối thân tình của chúng tôi đến phân ưu để hương hồn ba tôi đỡ tủi.

    Khi mọi chuyện chôn cất đã xong, chúng tôi phải đối diện với hai vấn đề, lúc khẩn cấp coi như rất nhẹ, nhưng bây giờ trở nên vô cùng nặng nề: món nợ làm ma và việc hứa vượt biên với ba tôi. Cả hai đều đặt căn bản trên yếu tố “tiền”: Làm sao có tiền để thanh toán món nợ ma chay, làm sao đủ tiền để mua đường vượt biên? Lúc này đồ ăn cũng không đủ nuôi năm mạng hàng ngày, lấy đâu tiền để lo chuyện khác, mà lại là những món tiền lớn, rất lớn đối với cảnh nghèo nàn của chúng tôi.

    Cuối cùng, chính người cho vay nợ đã đưa mẹ tôi tới một giải pháp: cho con hội từ thiện ngoại quốc hiện có người đại diện tại Saigon, để đổi lấy một số tiền, có thể nói là rất lớn đối với chúng tôi lúc đó. Đề nghị này tới tai chúng tôi như là một một toan tính từ trước, khiến mấy mẹ con nhìn nhau ứa lệ. Ai sẽ phải hy sinh rời bỏ gia đình để theo “người ta” tới một chân trời vô định…? Người ta nói là ai theo họ sẽ được đưa sang Mỹ, được nuôi dưỡng tử tế bởi bố mẹ nuôi. Mai này, khi lớn lên sẽ dễ dàng giúp đỡ gia đình chính của mình, nhất là những anh chị em còn lại. Tuy giải pháp có vẻ rất tốt, đứa ra đi, tuy phải chia lìa gia đình, nhưng tương lai sẽ sán lạn, có thể giúp đỡ anh chị em còn ở lại một cách hữu hiệu,  nhất là trước mắt, gia đình tôi có thể trả nợ và thừa đủ để sống qua ngày và mua đường vượt biên, trọn lời hứa với ba tôi lúc lâm chung. Nhưng cái kẹt nhất là việc bất ngờ quá, chúng tôi chưa sẵn sàng muốn chia lìa nhau lúc này. Gia đình dù nghèo đói, nhưng mẹ con, anh chị em được sống bên nhau, sớm hôm đùm bọc an ủi nhau, nhất là khi càng khốn khổ, càng cần phải có nhau. Chúng tôi hồi hộp chờ quyết định của mẹ tôi. Riêng tôi, cứ nghĩ đến lúc mình phải lìa bỏ gia đình thương yêu đi theo đám người lạ mặt, tới một nơi xa xôi nào đó, tôi không khỏi rùng mình sợ hãi. Nhưng khi nhìn lại con Thanh, thằng Bách, đang hồn nhiên chạy chơi quanh mình, tôi lại còn cảm thương hơn nữa, nếu phải cho đi một trong hai đứa…Tôi xụt xùi nghẹn lời:

    – Mẹ ơi, chúng con… nhất định không xa mẹ đâu…đói cũng ở nhà…với mẹ, với anh hai…

   Mẹ tôi vô cùng khó nghĩ. Nhưng anh Thành giọng cương quyết:

    – Mẹ cho con đi với họ. Con tàng tật, chẳng giúp ích gì cho mẹ lúc này. Con Thu cũng lớn khôn rồi, đỡ đần mẹ được nhiều việc hơn con. Rồi khi có tiền, mẹ và các em ra được nước ngoài, mình liên lạc lại với nhau, đâu có khó gì.

    Mẹ tôi nghẹn ngào:

    – Hay thôi đi con. Thành, con càng không thể rời xa gia đình…vì …

    Tôi cũng bật khóc, nói:

    – Anh hai, cho em đi đi…em chưa giúp gì cho gia đình lúc này. Ba đã mất rồi, anh mà rời bỏ chúng em thì gia đình còn trông mong gì được nữa?

    Anh Thành cười:

   – Thu à, mày nói sai rồi…anh cụt chân như thế này làm sao nuôi được gia đình…Anh chỉ lê cái thân tàn này ngoài hè phố, mong sự thương hại của người đời…kiếm ít tiền vặt vãnh…tạm thời qua ngày thôi. Chính em, em lớn lên, học hành có nghề, có nghiệp vững chắc…mới có thể lo cho tương lại của con Thanh, thằng Bách được…Người tàng tật như anh, chính phủ họ mới dễ cho đi…Biết đâu sang đó, nhờ ơn trên, mình sẽ qua khỏi cảnh nghèo đói này…

    Đúng ra, người đưa mối đã nói như vậy. Hy sinh xa nhau một thời gian, để lại gặp nhau lại ở một tương lai tươi sáng, không hơn là ôm nhau chết chùm ở đây. Hơn nữa, anh hai tật nguyền, sang bên đó, anh có cơ hội để họ chữa chạy cho anh. Sau khi mẹ tôi và anh hai bàn kỹ lại, hai người quyết định người đi với họ chính là anh, nhất là khi gặp những người trong hội International Mission of Hope của Mỹ, những điều mong mỏi của chúng tôi vào tương lai đều được họ xác nhận là rất đúng. Chúng tôi cũng chẳng biết những thủ tục nào có thể đưa anh tôi ra nước ngoài vì thời buổi đó luật pháp trong nước thực là hỗn mang.

    Điều quan trọng là họ cho mẹ tôi “rất nhiều tiền” để đền bù việc anh hai theo họ ra nước ngoài. Tôi không biết là bao nhiêu, nhưng cứ nhìn vẻ thỏa mãn của mẹ tôi, và nhất là anh hai, tôi cũng vui lây.

    Trước ngày đi, anh Thành đã mua cho con Thanh ngôi đèn sao thực lớn và đẹp từ nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế như lời anh đã hứa với nó. Anh đợi cho Thanh và Bách đi học, mới treo lên trước cửa nhà để gây sự ngạc nhiên vui thú cho hai đứa em út. Tôi thấy anh cứ thấp thỏm chờ chúng nó về với nụ cười và niềm hãnh diện. Nhưng, tội nghiệp anh, con Thanh nhìn thấy chiếc đèn sao, phụng phịu:

    – Em không cần đèn đâu…Anh đi rồi…còn lễ lậy gì nữa mà đèn với đuốc…

    – Bậy nào. Sang bên ấy, năm nào anh cũng sẽ gửi đèn về cho các em, nghe.

   Mẹ tôi phải khuyên nó mãi…để anh Thành đỡ khổ tâm…Đó là ngôi đèn sao cuối cùng được thắp sáng trong nhà chúng tôi!

   Rồi anh hai ra đi, tuy chúng tôi rất buồn, nhưng tin vào tương lai, một ngày nào chúng tôi vượt biên sang tới Mỹ, chúng tôi sẽ gặp lại anh, cho dù anh đang ở trong Cô nhi viện hay đã làm con nuôi của người ta cũng là một an ủi lớn. Anh sẽ không ở với chúng tôi, nhưng sự đi lại thân tình gia đình vẫn như xưa, có khác gì một mai tôi phải lấy chồng…Một bữa tiệc tiễn chân mọi người đều vui vẻ. nhất là anh hai thấy chúng tôi có thừa đủ tiền để trả nợ và lo vụ vượt biên. Một giải pháp mà anh nói là “tuyệt diệu”. Anh Thành ra đi không mang theo vật gì, chẳng lẽ với một mớ quàn áo cũ rách, ngoài mấy tấm hình ba me chúngï tôi và hình cả gia đình chụp chung với nhau vào thời trước tháng tư, bảy lăm để làm kỷ niệm!

    Đúng như mong muốn, chỉ hơn một năm, bốn mẹ con chúng tôi vượt biên và thoát được tới Thái Lan. Và, tám tháng sau đó, chúng tôi sang định cư tại Hoa Kỳ, tiểu bang California. Mãi tới hơn hai năm đi làm, mẹ tôi mới có đủ hiểu biết để đi tìm vết tích của anh Thành. Ngoài thư từ, điện thoại dò hỏi, cứ tới mùa Giáng Sinh, mẹ tôi lấy một tuần nghỉ không lương để đi tìm người con cả tật nguyền đáng thương của bà. Nhưng ngày qua ngày, tháng qua tháng, năm qua năm, đã mười mấy mùa Giáng Sinh rồi, sau bao nhiêu cố gắng, tin tức của anh hai vẫn bặt tăm. Cơ qua International Mission of Hope ở California nói là không có tên anh trong số những con nuôi của họ tới từ Việt nam. Tuy thế, mẹ tôi vẫn không hề thất vọng, năm nay bà vẫn lấy “vacation” hàng năm để đi tìm anh  tôi.”

    Đến bây giờ, với bài điều tra đăng trên báo Phụ Nữ ở quốc nội này, người ta phanh phui những bí ẩn của bọn buôn người khiến mẹ tôi vô cùng sợ hãi và đớn đau, khi nghĩ anh hai tôi đã lọt vào tay bọn bất nhân giả dạng hội thiện này.

    Tôi khuyên mãi, mẹ tôi mới ra bàn ngồi ăn chút cháo gà với chúng tôi. Trong nhà tôi, thằng Bách mới lên đại học, nhưng nó là đứa say mê nghiên cứu từ máy điện toán đến các tin tức liên quan tới khoa học, y khoa, nó hy vọng sau này sẽ trở thành một bác sĩ trong thời đại mới. Bách lại đem câu chuyện anh Thành ra nói:

    – Bây giờ kỹ thuật “transplant” tức “cấy” các cơ quan nội tạng con người tiến rất xa. Nhiều cơ quan như gan, phổi có thể không cần cấy cả bộ, mà chỉ một phần, nó có thể tự mọc ra sau này. Trên thế giới, nhất là những nước nghèo khó như nước mình bây giờ, nhiều tổ chức buôn bán, bắt cóc các trẻ em để bán cho những nơi khai thác vấn đề này. Trước đây, báo chí đã phanh phui, như ở Venezuela, Ai Cập, Thái Lan, là nơi hoạt động của bọn bất lương này. Dân địa phương cho là do người Tây phương, nhất là Mỹ cầm đầu…vì ở đó mới có kỹ thuật “transplant” cao và bán được nhiều tiền. Một bà Mỹ du lịch sang Venezuela, xin được một đứa con nuôi, lại bị dân  địa phương đuổi đánh vì cho là bà này trong bọn bất lương đó… Mới đây, Trung Cộng rao bán các cơ quan nội tạng của các tử tù sau khi bị hành quyết ngay tai Washington D.C và thành phố New York. Tại thủ đô Mạc Tư Khoa của Nga, cảnh sát từng phát giác ra những xác trẻ em, thanh niên vô thừa nhận, mà nội tạng thì bị lấy đi hết! Một bộ gan, một quả thận, và nhất là một trái tim giá bán Bình mười lần, hai mươi lần số tiền trước đây người ta “cho” nhà mình để anh Thành đi với họ. Cách làm ăn vô nhân đạo này ở đâu cũng là một vấn đề bất hợp pháp, nhưng nhờ đó, người ta lại cứu được một số bệnh nhân đang trong cơn ngặt nghèo.

    Mẹ tôi nghe nó nói, nghẹn cả miếng cơm đang ăn, không nuốt trôi xuống cổ! Dưới gầm bàn, tôi phải đạp vào chân nó để làm hiệu ngưng câu chuyện ghê tởm đó, nhưng thằng Bách miệng cứ oang oang nói tiếp:

    – Chuyện giả tưởng kiểu bác sĩ Frankenstein hồi đầu thế kỷ 18, nhưng lại có thực. Vì thế, việc mất tích của anh Thành cũng đáng nghi lắm.

    Mẹ tôi lại rũ ra khóc. Tôi gắt lên:

    – Im cái miệng mày lại…

    Nó nổi sùng:

    – Thì chuyện rõ ràng như thế, ai mà không biết chứ.

    Con Thanh cũng nói:

    – Đúng, báo có đăng, nhưng tin được bao nhiêu phần. Đó là những chuyện của bọn Enquire chuyên môn loan tin giật gân…

      Thằng Bách gắt lên:

    – Không biết thì im đi. Tôi nói để mẹ đừng hy vọng quá về việc tìm anh Thành…Mười ba năm rồi…ở đây không phải là Việt Nam hay Cam-bốt…Nếu anh được đưa sang Mỹ thì chắc chắn trong hội International Mission of Hope phải có “record” về lý lịch của anh ấy. Không có tức là anh chưa hề đặt chân tới Hoa Kỳ.

    Tôi mắng át đi:

    – Con người chứ không phải là thần thánh…việc sót sổ cũng có thể xẩy ra ở bất cứ ở đâu. Mày…phải để cho mẹ sống với chứ. Ngu thì cũng ngu vừa vừa thôi…

    – Ừa tôi ngu…còn bà thì thông minh lắm…cái gì cũng…cóc biết.

   Con Thanh cũng về phe tôi, la thằng Bách…Nhà cứ như loạn lên. Cuối cùng, chính mẹ tôi lại lên tiếng:

    – Các con, bỏ đi. Chuyện thằng Bách, mẹ cũng đã nghe mấy người trong hội Hồng Thập Tự nói qua khi mẹ cho họ biết về bài báo ở Việt Nam. Mẹ buồn…là vì…gia đình mình được như ngày nay là nhờ sự hy sinh của anh các con, thế mà…

    Mẹ tôi lại nghẹn lời. Nhưng vì tránh sự to tiếng giữa các con, mẹ tôi cố gắng gạt nước mắt làm vui:

    – Thôi, đừng cãi nhau nữa…Bây giờ phải trông cậy nơi Thiên Chúa và Đức Mẹ thôi.

    Bữa cơm tan trong buồn tẻ. Chúng tôi lặng lẽ đứng lên dọn dẹp, rồi mỗi người lo việc của mình. Mẹ tôi đi tắm, tôi ngồi đọc nốt cuốn truyện giải trí trong mấy ngày mẹ tôi đi vắng. Thỉnh thoảng lại đưa mắt nhìn cây thông với mấy hộp quà còn nằm trơ trẽ ra đó.

    Thằng Bách về phòng với máy computer. Con Thanh ôm cái TV vì sắp tới một “show” mà nó “ghiền”.

    Thời gian lặng lẽ trôi. Tuy có cuốn sách trước mặt, nhưng lời thằng Bách như còn văng vẳng bên tai. Chính tôi, trong một số báo gần đây, hình như tờ Time, tôi đã đọc một bài nói về…một trường hợp giải phẫu cắt rời đầu của con người nhờ những dụng cụ trợ y tiến bộ ngày nay và cảm giác của bà bệnh nhân khi đầu của bà ta rời thân thể của mình, thì chuyện “transplant” mấy cơ quan nội tạng chỉ là việc tầm thường. Nhưng chuyện giết người hoặc nuôi người ta để rồi nay cắt đi cái này, mai lấy đi bộ phận kia, kể cả cánh tay, cặp đùi, bàn chân …và cuối cùng lấy nốt bộ gan, lá phổi, trái tim, hoặc cả bộ phận sinh dục, đều là những thứ bán được giá hời…rồi bí mật thủ tiêu cái xác đã hết còn khai thác được nữa, là một ám ảnh dễ sợ. Anh Thành chỉ thiếu có một chân thôi, các bộ phận khác đều còn tốt! Bất giác tôi rùng mình.

    Trong lúc thần kinh đang căng thẳng, bỗng từ family room, tôi nghe tiếng con Thanh thét lên:

    – Mẹ…mẹ…mẹ đâu rồi…!

    Tôi hoảng quá, không biết chuyện gì đã xẩy ra cho nó, vội quăng cuốn sách xuống sàn nhà, lật đật chạy tới. Lúc đó, mẹ tôi, đầu tóc sũng nước, khoác vội chiếc áo choàng, từ phòng tắm ra, miệng hốt hoảng la lên:

    – Gì thế…gì thế???

    Cả ba, tôi, mẹ tôi, và luôn thằng Bách nữa tới phòng family room thì con Thanh tay chỉ lên màn ảnh TV, miệng líu cả lưỡi:

    – Trông kìa…hình ba mẹ…

    Chúng tôi đều sững sờ…Đúng là hình ba mẹ tôi chụp thời xa xưa…rồi tiếp theo là hình cả gia đình chúng tôi được chiếu lên…trong khi, tiếng nói quen thuộc của ông Robert Stack, người Host của chương trình Unsolved Mystery đều đều vang lên:

    – …Đây là hình ảnh của cha mẹ và gia đình của kỹ sư Thomas Irvine, cách đây hơn mười năm, thời ông ta còn là một cậu bé mười hai tuổi, bị mất chân trái vì đạn pháo kích của Việt Công vào khu gia binh mà gia đình ông sinh sống bên đơn vị quân đội Việt Nam Cộng Hoàn tại Chương Thiện, lúc ba của ông là Đại Úy T.H. Nguyẽn là một tiểu đoàn trưởng.

    Hình được đổi sang một gia đình hai ông bà Mỹ, ba người con, tiếng người Host vẫn đều đều:

    – Ông bà Henry và Helen Irvine với hai con ruột, cô Mary Irvine và Teresa Irvine, cùng cậu con nuôi Thomas Irvine tức kỹ sư tên Việt Nam là Thanh Nguyen. Ông Irvine vốn là một sĩ quan cố vấn trong quân đội Miền Nam Việt Nam. Ông đã nhận Thanh làm con nuôi ngay tại Saigon, khi cậu ta vừa được cho hội International Mission of Hope. Sau này tình cờ ông biết Thanh là con trai Thiếu Tá T.H.Nguyen, người sĩ quan mà đã có thời sát cách với ông chiến đấu chống lại Việt Cộng ở Khe Sanh.

    Robert Stack xuất hiện với lời nhắn nhủ:

    – Ông Kỹ sư Thomas Irvine đã mất liên lạc với gia đình từ hơn mười năm qua, là thời gian mà phần lớn ông dành cho chương trình học tại Âu Châu, nơi người cha nuôi làm trong ngành ngoại giao…Quí vị khán giả của Unsolved Mystery có thể là những người giúp ông Thomas tìm được mẹ đẻ và các em của ông. Nếu có tin tức gì xin quí vị gọi điện thoại cho F.B.I hoặc số 800-586-5353.

    Lời cuối cùng (trên màn ảnh chiếu hình anh Thành hiện tại, rất đẹp trai) kỹ sư Thomas Irvine tức Thanh Nguyên rất nhớ và mong mỏi tìm lại được gia đình ruột thịt của ông.

       Mẹ tôi súc động quá, ngồi ngây giữa nhà, dàn dụa nước mắt, miệng lắp bắp: “Lạy Chúa, mê hay ngủ đây…có thực thế không Thu!!!”

    Tai tôi cũng như ù đi, chỉ thoáng nghe thấy tiếng mẹ tôi. Điều hiện rõ trong trí của tôi lúc này là gọi…gọi ngay số điện thoại người ta vừa cho. Thanh, con nhỏ ghiền “show” này, không thứ sáu nào có thể bỏ không xem, nên số điện thoại này nó nhớ làm lòng. Lúc tôi định chạy lại máy điện thoại, đã thấy nó đang cầm ống nghe, miệng mấp máy nói chuyện…Chắc chỉ vài phút thôi, nhưng chúng tôi thấy quá là lâu. Cuối cùng, chúng tôi đã cho họ biết đây là gia đình, mẹ và các em của anh Thành. Họ hứa sẽ liên lạc với gia đình Irvine, và đoan chắc hai bên sẽ…liên lạc được với nhau không lâu.

    Và, chỉ mấy hôm sau, anh Thành, một thanh niên cao lớn, đi đứng “rất vững chãi” đã về xum họp với gia đình và nhất là trên tay anh còn có chiếc lồng đèn sao rất lộng lẫy cho con Thanh, dù bây giờ nó đã là một thiếu nữ ngoài hai mươi rồi.

    Chưa bao giờ nhà chúng tôi vui như thế. Tôi nhìn lồng đèn trong tay Thanh, cười bảo anh:

    – Christmas đã qua đi hơn tháng nay rồi, anh còn mang đèn về đây nữa.

    Anh Thành lấy trong va-ly ra một tape nhạc. cười vui:

    – Anh giữ lời hứa với em Thanh, hãy cứ thắp đèn sao của em lên. Ồ mà hôm nay ba mươi Tết, nhà mình chẳng có gì vậy?

    Mẹ tôi trợn măét, ngạc nhiên:

    – Ba mươi Tết? Mẹ với các em từ khi sang đây, đâu có biết Tết là gì đâu, lịch chẳng có, đồng hương thì không. Giỗ Ba cũng là giỗ ngày tây.

    Cả nhà cười vui nhìn từng cử động của Thanh đang đốt sáng ngọn đèn sao Giáng Sinh.

    Anh Thành nói:

    – Thế thì từ năm nay trở đi, mình sẽ ăn Tết đàng hoàng, giỗ Ba cũng sẽ vẫn là ngày ba mươi tháng Chạp mẹ nhé.

    Mẹ tôi vui “như Tết”:

    – Bây giờ con thay mẹ làm chủ gia đình rồi, cứ nói sao thì làm vậy.

    Anh Thành đưa hộp tape nhạc cho Bách, nói:

    – Mở nhạc, mở nhạc lẹ lên, sắp giao thừa rồi. Các em thay quần áo mới lẹ lên để anh em mừng tuổi mẹ chứ.

     Trong tiếng nhạc vui tươi của bản Ly Rượu Mừng, chúng tôi trịnh trọng như chưa bao giờ trịnh trọng hơn, đứng vẩy quanh sa-lông  mừng tuổi mẹ và như xưa, nhận những đồng tiền mừng tuổi trong hân hoan và tràn đầy hạnh phúc của ngày đoàn tụ.

     Ngoài kia, ánh sao Giáng Sinh đang sáng giữa đêm trừ tịch.

                                                           Mùa Đông 2006

TAO LOAN 2-CHƯƠNG

Truyện Hồ Linh

 

KIẾM MẠNG tức TAO LOẠN II

CHƯƠNG I

Trời đang có cơn giông…Gió ào ào thổi làm rung động mấy lớp cửa chùa. Cảnh vật đột nhiên tối xầm lại.

Vừa thắp xong hàng nến trên bàn thờ Phật, chú Tịnh vội tránh sang một bên vì thấy thày Chân Giác đang lễ dưới bồ đoàn. Bỗng ngoài sân trước tiền điện có tiếng la thất thanh:

– Thày…Thày…

Chân Giác đại sư hốt hoảng cắm vội mấy nén nhang vào bát, lật đật ra ngoài. Không biết có chuyện  gì chẳng lành đã xẩy ra, chú Tịnh cũng vội vã theo sau ngài. Hai thày trò ra đến hàng hiên thì thấy Công Chúa Mai Lan đang ngất xỉu bên thềm.

Và Công Chúa ngã bệnh từ ngày đó.

Trong suốt thời gian trị bệnh và dưỡng bệnh tại Yên Vân am, Mai Lan được bên Chân Giác đại…

View original post 2,203 more words

CHÂN TRỜI GÓC BỂ

CHÂN TRI GÓC B


    Đó là nơi tận cùng của đất nước mà ngày xưa Việt Minh gọi là Việt Bắc, nhưng nó lại là một thung lũng rất đẹp. Đứng nơi ngã ba Lào Kai và Lai Châu, cửa ngõ vào thị trấn, nhìn về phía xa, ngọn Hoàng Liên Sơn, có độ cao nhất nước là ba ngàn một trăm bốn mươi ba mét mờ mịt thức mây .

Điều không ngờ đối với mình (nói theo kiểu Hà Nội) là ai đó đã được sinh ra và lớn lên từ cái thung lũng vào mùa xuân,  mầu hoa hồng lợt nở bát ngát tới cuối trời: Sa-Pa mà người ta đã nhắc lại là ngày xưa viết là Chapa.

Bây giờ từ Sân Mây có độ cao một ngàn sáu trăm mét này, mình có thể nhìn toàn cảnh thị trấn Chapa, với những sườn đồi ruộng vườn như bậc thang. Gần hơn,  những ngọn đồi thấp vây quanh khu phố chợ, chênh vênh mấy tòa nhà biệt thự lớn, sang trọng có vườn mận, vườn đào hoa nở rộ mỗi độ xuân về. Thấp thoáng dưới lớp mây mỏng, những căn phố chợ nhiều tầng, nổi bật cái tháp cao của ngôi thánh đường không lớn, nhưng rất đẹp nét tây phương, xây cất từ năm 1895. Chapa là thị trấn nghỉ mát  rất lý tưởng của người Pháp trong 80 năm đô hộ một xứ vùng nhiệt đới gió mùa như đất nước Việt Nam. Làng Xuân Viên ở đâu tá, để mình có thể mường tượng được căn nhà xưa mà đã có người tâm sự như một nơi chôn nhau, cắt rốn cho tới những tháng năm đầu đời thật hạnh phúc trước khi trở về Hà Nội bằng một chuyến xe lửa Vân Nam-Hà Nội khi thị trấn không còn an ninh nữa.

Nơi đây đã là quê hương của những nhóm đồng bào thiểu số như Mông, Dao, Tày, Giáy, Xà Pó. Người Kinh như bạn ta chắc chỉ là ‘thiểu số’ giữa đồng bào thiểu số! Người quen đây có thể phân biệt được họ nhờ các khăn cuốn, màu và kiểu áo. Những buổi lễ sắc tộc không còn ý nghĩa sâu xa ngàn xưa truyền lại mà đã bị lợi dụng thành những ngày hội được trình diễn để chính quyền địa phương câu tiền du khách. Và chợ Tình, đâu còn là nơi các cô cậu sơn cước đến tuổi cặp kê, cùng nhau hò hẹn, mà chỉ được nhắc tới như làm một nét văn hóa còn lại trong những dịp hội hè đó.

Không biết từ lúc nào, khi nhớ lại bài viết đó trong mục Chốn Bụi Hồng, đinh ninh có một sớm heo may khi  người đi rồi, bỗng  có ai cưỡi ngựa tới thung lũng hoa đào hỏi thăm lối vào làng Xuân Viên, chợt hiện về mấy câu thơ của Thanh Tịnh ngày xưa tình cờ đọc trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy:

Lẳng lặng em ơi lẳng lặng nhìn,

        Phải chăng thân ngựa sắc hồng in

        Nhè nhẹ em sẽ buông rèn xuống

        Chị sợ trong sương bóng ngựa chìm

            – Ngựa hồng đã đến bên hiên

             Chị ơi, trên ngựa chiếc yên vắng người!

Và lại liên tưởng tới con ngựa sắt và cư xá hàng không trên Tân Sơn Nhứt của năm nào mà vô cùng bâng khuâng!

Nhưng, đến khi đọc lại bài ấy thì rất ngạc nhiên vì không thấy có chuyện như mình đã nghĩ!

Rồi ra cũng lại một lần nữa ngậm ngùi khi thấy cảnh tan hoang của tu viện Joannes Decoux xây dựng (không biết đây có phải là tên nhà dòng hay lại chỉ là tên của phu nhân toàn quyền Decoux xây cất lên?) vào cái năm MCMXLII mà nhớ tới bà sơ, dì ruột của mình, sau khi bà ngoại qua đời, phó mặc cho mẹ mình, bà chị cả hai mươi tuổi đời, một thân nuôi đứa con mới sinh và một đàn em 5 đứa, lớn nhất lên mười ba và nhỏ nhất mới tám tháng tuổi để vào tu nhà dòng Mission de Notre Dame trên tỉnh Lạng, nơi ngày xưa còn bé đã biết qua câu ca dao:

       Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa,

      Có Nàng Tô Thị, có Chùa Tam Thanh

      Ai lên xứ Lạng cùng anh

      Bõ công bác mẹ sinh thành ra em,

      Tay cầm bầu rượu nắm nem

      Mảng vui quên hết lời em dặn dò…

      Gánh vàng đi đỏ sông Ngô

      Nằm đêm tơ tưởng đi mò sông Thương…

Rồi đã có lần hỏi dì sơ (gia đình vẫn gọi bà như thế, dù thấy có gì sai trong đó) về cái phố  Kỳ  Lừa  và  cái chùa Tam Thanh  đó.  Bây giờ, Nàng Tô Thị đã bị chúng bạt đi lấy đá làm cao ốc, nhà dòng Chapa, cũng như nhà dòng Lạng Sơn đều bị tàn phá trong trận chiến năm 1979 giữa ‘anh em nhà xã hội chủ nghĩa Việt Nam -Trung Hoa bôi mặt đá  nhau có đến cả mấy vạn chiến binh  hai bên tử  vong!’

Chapa có ba cây cầu treo. Một cầu sắt ngoài xa lộ và hai cầu giây đưa người qua những vùng chung quanh thị trấn. Đặc biệt cây cầu Tháp Cỏ Mây làm toàn bằng gỗ, giây rừng mà muốn đi qua, bước chân là những mảnh ván cách quãng được nối liền chỉ bằng giây rừng, hai tay phải vịn vào giây treo, mố cầu buộc chặt vào hai thân cây khá lớn ở hai bên.  Chợt nhìn xuống khe suối Tả Van thấy mấy cậu nhỏ đang câu cá, bỗng nhiên liên tưởng tới nơi chôn rau cắt rốn của mình, một nơi góc bể xa xăm, ở đó cũng có cây cầu tre lét lẻo, qua con sông phù sa nước đỏ ngầu. Thời xa xưa, chiều chiều anh em mình ra mố cầu tre trước ngõ đó câu cá hau, loại cá giống hình dáng con cá mập nhưng chỉ to bằng hai ba ngón tay, vây có gai, nếu vô y bị nó đâm, vết thương tuy nhỏ nhưng rất nhức nhối. Có lần mình câu được một con cá thủ vàng, loại này hình dáng giống cá hau, nhưng lớn gấp ba, bốn lần, da có mầu vàng óng. Hai loại cá này chỉ dùng nấu canh với mẻ, cà chua và củ hay quả chuối ương, món ăn bình dân ở quê mình… Đó là làng Như Tân, huyện Kim Sơn, một vùng do Dinh Điền Sứ Nguyễn Công Trứ khai khẩn vào năm 1829.

Kim Sơn.

Từ thời hậu Lê, trấn Sơn Nam có những vùng chỉ là những bãi sú, vẹt làm nổi lên những bãi đất bồi kéo ra tới cửa biển. Đời Lê Thánh Tông, năm 1475, triều đình khởi công đắp con đê Hồng Đức, gọi nôm là Đường Quan tạo nên một vùng đồng ruộng phù sa Mộ Đức  tức huyện Yên Mô sau này.

Bốn trăm năm sau, dưới thời Minh Mạng nhà Nguyễn, quan Doanh Điền Sứ Nguyễn Công Trứ chỉ trong một năm, đã khai khẩn được một vùng ruộng đất phì nhiêu bằng cách đắp một con đê lớn phía nam, chạy từ đông sang tây, tới cửa bể Thần Phù, gần như song song với đê Hồng Đức, lập nên huyện Kim Sơn cho tỉnh Ninh Bình (trấn Sơn Nam xưa). Để lấy đất đắp đê, một con sông đào chạy dọc theo bờ đê, được đặt tên là Ân Giang.

Hơn bốn mươi năm sau, 1871,  Cụ Sáu Trần Lục, cha chính xứ và dân xứ đạo Phát Diệm mới có thể chuyên chở đá gỗ từ Thanh Nghệ ra để sau đó, năm 1891, khởi sự công trình xây cất khu quần thể thánh đường Phát Diệm. Khi bắt tay vào việc. Cụ Sáu chia cho mỗi họ đạo làm một phần nhà thờ như cột, kèo bởi những người thợ chuyên ngành mướn ở các nơi bằng chính khả năng tài chính và công sức của họ, vì lúc đó mọi người đã có đời sống sung túc. Nhờ đó, cụ Sáu tuy chẳng giầu có gì, nhưng chưa tới mười năm (1898),  đã thực hiện được lời hứa làm một đền thờ kính Đức Mẹ Maria vào thời cụ còn bị Triều đình cầm tù vì theo đạo ‘Gia-tô’.

Dưới thời Pháp thuộc, nhà nước thấy vùng bãi ngoài huyện Kim Sơn đã lại biến thành đất nổi, nên cho đắp thêm một con đê thứ ba, tạo lên một vùng đồng bằng mới với bốn xã nằm trong khu vực là Tuy Lộc, Tuy Định, Hóa Lộc và Văn Hải. Do đó, đê này được gọi là đê Văn Hải. Một con sông đào mới, nối liền sông Ân với biển được gọi là Sông Xẻ. Một cái cống ba cửa khá rộng để sông chui qua đê gọi là cống Sông Xẻ. Bỗng nhiên nơi này trở thành một giang cảng nhỏ , nơi những mành, thuyền chở sản phẩm từ xứ Thanh, Nghệ ra Đàng Ngoài, hay ngược lại, dân Đàng Ngoài vào buôn bán với Đàng Trong, đều dừng lại nơi đây qua đêm để nghỉ ngơi hay mua thêm thức ăn cho cuộc hành trình kế tiếp tới Hà Nội, Hải Phòng…

Cuối cùng, Đức Cha Nguyễn Bá Tòng, Giám mục địa phận Phát Diệm, năm 1933 đắp thêm đê Kim Tùng (hay đê Như Tân) có cái đuôi Cồn Thoi, cho huyện Kim Sơn thêm cả mấy ngàn mẫu ruộng nữa để thành lập bốn làng mới là Như Tân, Tân Khẩn, Tân Mỹ và Tùng Thiện.(1)

Ông bà cố nội của tôi là dân chiêu mộ từ xã Kiên Chính, tổng Mễ Lâm. huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định sang lập nghiệp ở Kim Sơn rất sớm. Nhờ được chia ruộng công điền, vừa do buôn bán đó đây,  phát tài thêm vốn nên cũng mua được một số ruộng tân bồi, giá khởi thủy rất rẻ, nhưng về sau chúng trở thành những ruộng lúa nhất đẳng điền cấy hai mùa, mỗi mẫu thu hoạch được tới 5 tạ thóc một vụ (vụ chiêm tháng năm, vụ mùa tháng mười)

Những năm đầu, đất ruộng chưa thuần, cả vùng phải cấy cói trước. Đây cũng là một loại cây kỹ nghệ rất phổ biến thời xưa. Nó được chẻ ra, nhuộm mầu, phơi khô để  dệt thành những tấm chiếu hoa rất đẹp. Vào thời đó, nhà nào cũng có bàn dệt chiếu, có hãng từ Nam Định, Hải Phòng về thu mua.

Cha tôi, vừa học hết năm thứ hai, sang năm thứ ba trường Grand Collège du Protectorat de Ha Noi bị ông bà tôi gọi về quê lấy vợ.

Mẹ tôi là trưởng nữ của ông lý trưởng làng Văn Hải, làng lớn nhất vùng Kim Sơn. Bà thường kể chuyện những buổi theo ông ngoại tôi ra bến Văn Hải trong thời phồn thịnh,. Có lần ông ngoại tôi đứng trên đê nhìn ra biển trầm ngâm, rồi bảo mẹ tôi, cô con cả mà cụ coi như một thanh niên thức thời:

– Con xem, cả một vùng đất bồi phù sa rộng bao la kia, nay mai sẽ trở thành những cánh đồng phì nhiêu hơn cả Văn Hải mình nữa, mà dân thì lèo tèo vài ba xóm. Ai mà chịu khó đến đây khai khẩn, không mấy chốc mà giầu to. Con thấy doi đất trước mặt, bên kia sông, có đẹp không. Lập một cái trang trại ở đó thì tuyệt.

Mẹ tôi nghe vậy, nhưng chẳng để tâm, chỉ nhìn trời mây với một nỗi buồn trống vắng, rồi sực nhớ tới mấy câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm khúc:

       Trông đàng Nam bãi che mặt nước

      Cỏ biếc um, dâu mướt mầu xanh

      Nhà thôn mấy xóm chông chênh

      Một đàn cò đậu trước ghềnh chiều hôm.

Thực không ngờ, mươi năm sau, ông nội tôi chia gia tài cho cha mẹ tôi nhiều ruộng đất nằm trong làng Như Tân. Và ngoài  mong ước của mẹ tôi, chúng bao gồm cả miếng đất ông ngoại tôi khen ngày trước . Đến lúc này, mẹ tôi mới bắt được ý cụ ngoại. Cha tôi cũng rất đồng tình, nên không chậm trễ, ông bà bắt tay ngay vào việc đào ao, vượt thổ, và lấy giống tốt các loại cây ăn trái, cấy la liệt như nhãn lấy giống từ Hưng Yên, vải miền Bắc Ninh, cau Thanh Hóa, cam Lai Thành, ổi Điền Hộ. Một số cây giống từ miền Nam như xoài cát, về sau thêm vú sữa, trứng gà, na bở và dai. Cứ một cây cau thì xen vào một gốc nhãn. Ổi xen nhãn cấy vườn quanh ao cá, ao sen. Hai cây mít xứ Thanh rất lớn, trong đó, một cây có thân do một thân mít dai và một thân mít mật cuốn thành để sau này nó cho hai thứ trái khác nhau. Một căn nhà năm gian hai chái để ở, xây theo lối bít đốc, tường xây gạch, nhưng mái lợp bổi dầy tới nửa thước, mùa đông khá ấm áp mà mùa hè lại không giữ nhiệt như ngói nên rất thoáng mát. Khi khánh thành, ông ngoại tôi cho một cái tủ kinh để trưng ấm, chén trà, ly thủy tinh và một bộ trường kỷ bằng gỗ gụ, thành dựa chạm trổ tích Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị. Một bên là cảnh người xuống ngựa, tay nắm dây cương, tay kia nâng chén rượu, đứng đợi bên con thuyền ghé bến lau lách:

    Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách

    Quanh hơi may lau lách đìu hiu

    Người xuống ngựa, khách dừng chèo

    Ché quỳnh mong cạn nhớ chiều trúc ty

(Bốn câu đầu)

Thành ghế bên kia là cảnh trong khoang thuyền, nàng gảy tỳ bà, chàng ngồi bên kéo vạt áo lau nước mắt:

    Nghe não nuột khác tay đàn trước

    Khắp tiệc hoa sướt mướt lệ rơi

    Lệ ai chan chứa hơn người?

    Giang Châu Tư Mã đượm mùi áo xanh.

                                                    (Bốn câu cuối cùng)

Phan Huy Vịnh dịch thơ Tỳ Bà Hành

Một dẫy nhà ngang bốn gian cửa liếp dùng làm mùa, thêm nhà bếp, chuồng trâu, nhà cầu. Hai dẫy nhà này vây thước thợ một sân gạch bát tràng khá rộng. Đầu con ngõ  hai bên đường đi lát đá, xây một cái cổng hai cánh cửa, quét mầu nâu đỏ, trên ngưỡng cổng ba chữ Tân Minh Trang bằng quốc ngữ, hai bên là đôi liễng chữ Nho, bên trái “như thị như thủy”, bên phải “chi thăng, chi hằng”. Diện tích của Tân Minh Trang là 10,000. mét vuông (90m*105m), vây quanh bởi một lũy hóp, một loại tre, thân nhỏ, có gai, cuốn quýt nhau kín và khó vượt qua hơn loại tre lớn.

Thời đó, nhân đinh làng Như Tân chỉ chừng vài trăm người Công Giáo do cụ cửu T. đứng ra chiêu mộ và là vị tiên chỉ đầu tiên.

Trại nhà tôi ở ngay góc con sông Huyền chạy dọc theo đê Văn Hải nối sông Vạc và sông Càn, giòng sông kéo dài của sông Hoàng Long, qua cửa Thần, biên giới hai tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa, đổ ra biển qua cống Hai Thước… Sông thứ hai là sông Xẻ chui qua cống đê Văn Hải và chaỵ ra cửa biển tận cùng bằng cống Bốn Thước trên đê Như Tân. Rồi không biết từ bao giờ, làng tôi chia thành hai vùng căn cứ vào vị trí trại Tân Minh Trang của chúng tôi. Nửa phần đông bên kia Sông Xẻ kéo dài cho tới Kim Đài được gọi là Thôn Đông; vùng tây của làng được gọi là Hoành Tây, giáp ranh làng Tân Khẩn. Ở đây, khí hậu ôn hòa, mùa hè gió nam mát rợi, đêm nằm nghe tiếng sóng biển vỗ vào bờ ỳ ầm nhiều khi đến sốt ruột (chúng tôi gọi là bể gầm).

Trong thời gian này, có cuộc cải lương hương chánh: Mỗi làng có một hương hội, tức là những tộc biểu các họ bầu ra để quản trị việc công. Hương hội lại đặt ra (bầu) một chánh hương hội, một viên phó hương hội, một viên thư ký và một viên thủ quỹ.

    Hương hội phải quản trị các việc trong xã, phải lo việc công dân. Hương hội phải lập các khoán lệ trong xã, lập sổ chi thu của hàng xã; bổ sưu thuế cùng các thuế khác, hoặc nộp vào Nhà Nước, hoặc thu cho sổ chi thu hàng xã; và định số thuế của hàng xã, thi hành sự chi thu hàng xã; quản trị tài sản công dân; và thi hành các khoán lệ về việc tuần phòng, nhất là ngăn cấm việc buôn bán lậu, việc đánh bạc cùng những sư họp tập trái phép..

    Các khoản thưa kiện về việc hộ hay việc thương mại thì do hương hội dàn hòa. Hương hội có thể cử ban có hai, ba viên tộc biểu để giao cho quyền bắt phạt các điều dân phạm vào khoán lệ tuần phòng của trong xã, mà phạt từ một hào (giác) trở lên đến một đồng là cùng (tiền xưa). Số tiền phạt phải nộp vào công quĩ hàng xã  (Trích Luân Lý Giáo Khoa Thư lớp Sơ Đẳng, trang78).

Ta thấy cách tổ chức hương hôi căn bản lấy từ chế độ Xã thôn tự trị thời nhà Lê. Lý trưởng là nhân viên trung gian giữa làng xã và cấp trên (phủ, huyện), thay mặt làng xã những việc công, kiểm tra thuế khóa và nộp thuế đầy đủ cho quan trên, còn quyền điều hành nội bộ của hàng xã đều do Hương hội phụ trách. Vì thế, ông chánh Hương hội là một chức vụ rất quan trọng của xã. (rộng quyền hơn cả hội đồng xã thời dân chủ ngày nay)

Năm cha tôi hai mươi chín tuổi, nghe lời ông ngoại tôi khuyến khích, ra ứng cử chức chánh Hương hội làng Như Tân. Đối thủ của cha tôi là một ông Hàn, trọng tuổi, có vai vế trong làng. Cha tôi vì tin cụ ngoại mà gắng gượng ứng cử. Ông bác rể của tôi, phe bên kia, bắn tiếng cho ông em vợ: “Cậu ấy mà trúng cử, tôi cứ xéch dép, che ô cho cậu ấy đi hội.”

Cuộc bỏ phiếu diễn ra vào cuối tháng chạp. Mười một phiếu tộc biểu thì mỗi bên được năm phiếu. một phiếu trắng. Thực khá bất ngờ. Bởi năm hết Tết đến nên ông lý trưởng Như Tân giữ lại, không tuyên bố kết quả, đợi ra giêng sẽ phải tổ chức bỏ phiếu lần thứ nhì.

Ông Hàn sẵn có uy thế vì là cựu phó lý, lại quen biết trong giới chiêu mộ, nên tin chắc mình sẽ trúng cử. Vì vậy, ông ngồi rung đùi chờ…tin vui. Cha tôi tuy là anh tân học, biết chữ Nho, giỏi quốc ngữ, nói được cả tiếng Pháp, một số người có óc tiến bộ quí mến, nhưng lại quá trẻ, không có kinh nghiệm gì về việc làng. Ông ngoại tôi đã làm lý trưởng từ năm hai mươi hai tuổi, được lưu nhiệm tới nay, là người rất sắc sảo, giao thiệp rộng, quen biết nhiều, kể cả quan phủ Kim Sơn, nên có kinh nghiệm chạy việc quan. Cụ kín đáo tới thăm ngoại giao mấy vị tộc biểu, mới biết người bỏ phiếu trắng là vị tộc biểu tuy lớn tuổi, nhưng nhập cư mới được ít năm, chưa quen người và việc nên bỏ phiếu trắng. Sau khi được ông tôi thuyết phục, ông này chịu cho cha tôi lá phiếu đó. Để tránh ‘đêm dài lắm mộng’, ông tôi tới nói chuyện với ông lý trưởng Như Tân, vốn là chỗ thân tình (cùng làm lý trưởng nhiều năm), nên được ông ta tin tưởng giao hồ sơ bầu cử cho ông ngoại tôi.

Ông tôi không chậm trễ, mua một cái lễ hậu hĩ lên tết quan phủ Kim Sơn. Trong câu chuyện làng nước, ông tôi không dám nói tới việc con rể ra ứng cử chánh hương hội làng Như Tân, mà chỉ như tình cờ nói về mấy anh tân học và góp ý trong chương trình cải lương hương chính ngài nên dùng những người trẻ này.

Lúc kiếu về, ông tôi ra dấu cho anh hầu nước nhà quan ra ngoài nói chuyện. Ông bảo anh ta đưa hồ sơ này trình lên quan, rồi xin quan cho anh một cái Tết, bằng việc duyệt y cuộc bỏ phiếu bầu cử Chánh Hương Hội làng Như Tân.

Anh này nghe lời, tối hôm đó thưa với quan như ông tôi dặn.

Quan đọc qua kết quả rồi gật gù khi nhận ra cha tôi là mẫu người học vấn như vừa nói chuyện với ông lý Văn Hải, bất ngờ Quan hỏi:

– Người ta cho anh bao nhiêu?

– Bẩm quan lớn mười đồng (một mẫu ruộng thời đó giá chừng 200 đồng).

Quan cười, hơi lắc đầu, nhưng vẫn đặt bút duyệt y vào biên bản.

Trước khi được về nghỉ Tết, anh đến nhà ông ngoại tôi để đưa hồ sơ và nhận hai tờ năm đồng Đông Dương có hình con phượng hoàng mầu xanh lá cây. Cuộc chạy phiếu của ông ngoại tôi không khác mấy với các vụ “loby” ở hành lang quốc hội Hoa Kỳ. Ngay trong ngày đầu năm, ông lý trưởng làng Như Tân công bố kết quả vị trúng cử chánh Hương hội làng Như Tân là cha tôi. Ông Hàn ứng viên bị thua bất ngờ, không còn xoay xở được nữa vì quan trên đã duyệt y. Và ông tộc biểu số mười một đó được cha tôi chọn làm phó Hương hội.

Năm đó, tại làng ít dân nhất trong huyện, cha mẹ tôi có một cái Tết rất tưng bừng, khách khứa đến chúc mừng rất đông. Tuy nhiên, đây cũng là cái Tết đầu tiên cha mẹ tôi không ở bên ông nội tôi trong mấy ngày cuối tháng Chạp là những ngày củ mật, trộm cướp thường hoành hành kiếm chác từ những nhà có của.

Ngày Mồng Một Tết, cha mẹ tôi về mừng tuổi ông nội tôi. Hay tin, cụ cũng rất vui. Duy có ông bác rể của tôi tỏ ra bực bội.

Cha tôi làm chánh Hương hội chưa được một năm, đã vận động dân làng làm cây cầu tre bác qua sông, sang đê Văn  Hải. Vì, từ khi có đê Như Tân, khúc sông trước cổng nhà tôi không còn các thuyền mành qua lại như xưa, nhưng bên đó vẫn còn mấy cửa hàng buôn bán tạp hoá, quán nước bà trùm Toan, tiệm hớt tóc dưới gốc cây gạo, mà làng Như Tân chưa có nên cũng cần giao thương với họ. Cuối cùng cây cầu tre đó được khởi công, đắp hai cái mố cầu, một trước cổng nhà tôi, một bên kia sông, nơi có cây đa rủ bóng trước cửa hàng bà trùm Toan. Cầu ba nhịp, được ghép bởi bốn cây luồng, và chỉ có một bên tay vịn nên lũ trẻ nhỏ hơi run khi qua cầu. Dân hai làng đi lại rất vui vẻ.

Năm ông nội tôi 60 tuổi, cha tôi tổ chức một ngày Yến Lão. Các cụ trong làng từ Năm Mươi tuổi trở lên được mọi người trân trọng mời tới nhà tôi dự tiệc chúc mừng tuổi thọ. (thời đó năm mươi tuổi đã được gọi là cụ).

Ngay từ sáng sớm, ông quản Thoàn đã đến chỉ huy giết lợn sửa soạn cho bữa tiệc. Rạp đã được dựng ngoài sân từ mấy hôm trước. Hai bàn dài kê ở giữa rạp có mười hai chỗ ngồi danh dự. Bàn chung quanh dành cho thân nhân quí cụ cũng được mời tới chúc mừng. Cỗ sốt (nóng), mỗi mâm 4 thực khách, có tới bảy tám món như thịt mông luộc, chả sườn, nem, lá hành cuốn thịt ba chỉ, trứng chiên và húng, lòng, thịt mỡ thái vuông quân cờ, nhưng mỗi đĩa chỉ có bốn miếng. Đặc biệt giữa mâm là bát mọc gồm thịt lợn băm trộn với miến tầu, mộc nhĩ hành củ, rượu trắng, xôi gấc, cơm gạo Tám Thơm..

Vào khoảng chín giờ sáng, cỗ bàn đã sắp xếp xong, tuần đinh dùng cáng tới tận nhà các cụ để mời các cụ tới dự tiệc yến lão.

Bữa tiệc mười hai cụ và các thân nhân của các cụ, chánh phó  lý trưởng, chánh phó Hương hội, trương tuần, tuần đinh, anh mõ làng cùng thân nhân tất cả đến hơn trăm người. Bữa tiệc rất vui, hả hê, thân thiện kéo tới ba, bốn giờ chiều mới tan. Ai cũng nghĩ cái mỹ tục này sẽ được làm lại năm năm một lần. Nhưng không ngờ, Yến Lão làng tôi chỉ tổ chức được lần đó, vì quĩ làng eo hẹp, còn cha tôi cũng chỉ bỏ tiền một lần mà thôi.

Những làng tân bồi đều thiếu cây đa, đình làng, miếu thần hoàng như những làng kỳ cựu. Nhưng vì là làng công giáo nên phải có nhà thờ ở một nơi tiện đi lại cho mọi người. Vì thế, một thánh đường được cất tạm trên đất cụ tiên chỉ. Nhà thờ cách nhà tôi chừng nửa cây số. Những ngày mưa to, gió lớn, nhà tôi phải dùng ‘thuyền bồng’ để đi hết nửa cây số đường đất trơn trượt. Tôi nhớ ngay đầu đường vào nhà thờ là cửa hàng xén của chú P., ông con trai thứ cụ cửu T. Ở đây cũng bán đủ những vật dụng cần thiết cho dân làng. Thêm vào đó là bánh, kẹo cho con nít. Tôi còn nhớ những phong kẹo lạc vuông, gói bằng giấy báo, những chiếc kẹo xoắn vàng đậm, khen khét mùi dầu, nhưng dòn, ngon ngọt. Về sau, ông chủ hiệu còn học thêm nghề cắt tóc, nên nhiều khi chúng tôi tới đây thay vì sang mãi đê Văn Hải để húi đầu.

Tháng Ba năm bốn lăm, Nhật chiếm đóng cả vùng Đông Dương, ra lệnh tịch thu thóc gạo miền Bắc, gây nên một nạn đói khủng khiếp, chết hàng triệu người Việt. Trong hoàn cảnh khó khăn đó, nhà chúng tôi cũng bị mất gần hết thóc lúa, phải ăn cả thóc giống còn đưọc phép giữ lại cho mùa tới. Chỉ cần hai tháng nữa là đồng có lúa mà không thể chờ được. May mắn làng Như Tân ngoài lúa ra, còn có những ngũ cốc khác như khoai sắn nằm yên dưới đất (mặc dầu cây đã đã chết). Đồng ruộng tuy mùa lạnh giá, nhưng cũng còn những tôm, cua, cá có thể giúp dân làng qua khỏi tình thế vô cùng khó khăn đó. Vì vậy, làng Như Tân coi như không ai chết đói, gắng gượng sống, chờ tới vụ chiêm sắp tới. Riêng mẹ tôi, vụ đói này đã mất một đàn vịt một vạn con do ông trùm S, một tay nuôi vịt “cự phách”, một nghề cần rất nhiều kiến thức, kinh nghiệm về đồng ruộng, thời tiết, gió mưa, bão táp, đồng áng, chọn giống, ấp trứng…

Cụ cửu T, người đứng ra chiêu mộ dân làng, nên khi làng được thành lập, cụ được giữ chức tiên chỉ, nhân vật trọng vọng nhất trong làng. Thổ (trang trại) của cụ rộng hơn nhà tôi. Cụ cho mượn đất cất nhà thờ đầu tiên trong làng. Cụ có nhiều sáng kiến, nhất là cách xếp đặt trong trang trại của cụ. Đặc biệt, nhà cụ có một máy phát điện đạp chân như đạp xe đạp. Khi có khách quí, cụ cho người nhà đạp để sáng một bóng đèn nhỏ ở giữa nhà, tuy không sáng hơn ngọn đèn số tám. Cụ dựng những bãi đánh cò, vạc, chim xanh. Hôm nào đánh được nhiều, cụ thường cho người biếu cha mẹ tôi vài con. Cụ bà mất bao giờ, tôi chẳng biết. Các bà con gái lấy chồng xa, nhà chỉ còn gia đình hai ông con trai sống bên cụ.. Cụ rất ít khi ra ngoài nên những lần hội họp của làng thường vắng mặt.

Nhà cụ Lý trưởng C. chỉ cách nhà chúng tôi chừng hai trăm mét.

Hai cụ có một con trai trưởng tên Long. Đến thời cách mạng, anh dùng tên Thăng Long và là cán bộ lo việc cộng đồng trong làng, chị Yến, bằng tuổi bà chị thứ hai của tôi, cũng là cán bộ, cuối cùng là chị Nhật chăm việc nhà. Trước khi nhắm mắt, cụ Lý mời cha mẹ tôi sang, xin ông bà nhận anh Long làm con tinh thần, thay cụ dậy dỗ anh. Từ đó, anh Long mỗi khi sang nhà tôi, thân tình như người trong gia đình. Nhưng rất tiếc anh gặp nạn chết người vào một đêm khai hội tại làng Văn Hải.

Sau khi hai cụ lý, anh Long, chị Yến qua đời (chị mất ở Thanh Hóa), nhà bên đó chỉ còn một mình chị Nhật. Nhà trước vườn sau vắng vẻ đến rợn người. Nhưng mỗi khi tôi sang chơi, vào vườn bắn chim, chị cũng ra, cho quà, trái cây. Sau này, chiến tranh, di cư, tôi không còn nghe tin tức gì về chị nữa.

Sau 1947, làng dùng một miếng đất công điền khá rộng, ở giữa đồng lúa xanh tốt để xây khu nhà thờ. Công trình này do ông phó Chiêu, một tay thầu khoán nổi tiếng vùng Kim Sơn chúng tôi, thực hiện. Nhà thờ rộng hơn mười mét, dài tới bốn, năm chục mét, thêm một khu nhà phòng nơi cha chính xứ cư ngụ. Bây giờ, từ nhà tôi tới nhà thờ xa hơn cây số, nhưng vẫn có một con sông đào nhỏ, nối với sông Xẻ ở khúc 24 (24 đạc tính từ ngã tư sông trước ngõ trại Tân Minh Trang) nên chúng tôi thường đi lễ bằng thuyền.

Tòa nhà mới của chúng tôi xây sau nhà thờ chừng ba, bốn tháng. Tôi còn nhớ một buổi chiều mưa lất phất, hai ông thầu khoán gặp nhau tại nhà tôi. Ông phó Chiêu thì cho hộp bánh Biscuit Petit Beure, còn ông phó Sơn biếu 2 chai bia lớn nhãn có hình hai con sư tử vờn nhau. Cuối cùng cha tôi nhờ ông phó Chiêu vì đã xem công trình thực hiện khu nhà xứ Như Tân mà ông mới hoàn thành. Nhà chúng tôi lớn gần gấp hai nhà phòng của cha xứ, do ông anh cả của chúng tôi vẽ kiểu.

Lúc đầu, ông ngoại tôi cho cả tòa nhà trong Văn Hải vì khu nhà đã bỏ không sau ngày bà ngoại chúng tôi qua đời. Cha tôi cho người rỡ và chở nó về, để đầy một góc sân. Nhà này đều bằng gỗ lim mầu nâu đậm rất đẹp. Mười sáu chiếc cột nhà lớn bằng nửa vòng tay ôm của một người lớn, dù để lâu nước vẹc-ni của chúng vẫn bóng loáng. Một hôm, có cụ bạn thân của ông ngoại tôi tình cờ ra chơi, nghe cha tôi nói đang sửa soạn dựng lại toà nhà ông ngoại tôi cho, cụ có vẻ áy náy và bảo cha tôi sai mấy người nhà khiêng, đẩy xuống ao một chiếc cột nhà. Ông cụ và cha tôi theo ra ao xem xét. Sau đó, cụ gật gật đầu, chỉ cái cột đang nổi lềnh bềnh trên mặt nước, nói với cha tôi:

– Anh chánh (chánh Hương hội) xem kia, cái đầu cột gác xà nhà lại chìm sâu xuống nước hơn đầu kia…

Cha tôi ngạc nhiên hỏi lại::

– Thưa, nghĩa là cây cột có gì bất thường…

Ông cụ gật đàu:

– Phải. Đầu nặng chìm xuống sâu…có nghĩa  đầu đó là gốc cây, đầu kia là ngọn…Tôi đã từng nói chuyện này với ông ngoại các cháu, nhưng cụ không tin.

Cha tôi hơi ngỡ ngàng. Ông cụ vẫn nói ý của mình:

– Tôi nghĩ mười lăm cái cột kia cũng đảo lộn như thế. Trong bí quyết của nhà thầu khoán, không ai dám xây dựng trái lối như thế, trừ khi nó cố ý hại nhà chủ. Nói ra coi bộ nhảm nhí, nhưng xét trong nghề, cái nhà này đã hại ông bà nhạc anh, nên bà lý (ông tôi là lý trưởng làng Văn Hải) mới mệnh yểu như thế! Anh không dùng được cái nhà này đâu.

Cha tôi nghe chuyện cũng phát rùng mình. Ít lâu sau, nhân họ đạo Cống Bốn Thước muốn làm nhà thờ, cha tôi cúng cái nhà ông ngoại tôi cho, chắc nhà thờ thì không kiêng ếm iếc gì cả.

Nhân chính phủ kháng chiến muốn phá bỏ tòa nhà nghỉ mát của ông quan Tây, Đại Lý Kim Sơn, ở ngoài Kim Đài. Cha tôi bỏ thầu, mua được nó với giá rất rẻ vì chỉ có mình cha tôi tham dự. Cha tôi cho người rỡ tòa nhà đó, mang về Như Tân để xây nhà mới của chúng tôi. Những vật liệu này khi đó không mua được như gạch tây lớn hơn gạch mình, đá hoa lát nền, các khung cửa sổ ba lớp có kính, ngói tây loại khổ lớn và nhất là đá tảng xây nền cao tới hai thước.

Trở lại thời tôi có trí khôn, biết được sự vật chung quanh, thì hình ảnh đầu đời là những buổi sáng mặt trời lên khỏi ngọn tre, nhuộm hồng vách nhà ngang với cái sân gạch bát tràng rộng lớn, chất đầy những bó lúa mới gặt chiều hôm trước. Hơi nước từ trong những đống lúa bốc lên như khói. Mùi lúa chín thơm ngai ngái. Hình ảnh thứ hai là cây cầu tre trước cổng nhà.

Từ tấm bé, có lẽ tôi là đứa trẻ nghịch ngợm, liều lĩnh, nên của ngon không nhớ, lại nhớ tới những khi bị mẹ tôi sửa phạt. Bà rất ghét thói cứng đầu của tôi. Bị đánh đòn tôi không rên la, khóc lóc mà chỉ nhỏ nước mắt trong yên lặng. Để trị tôi, đã có lần, trời tối, bà bắt người nhà trói tôi ở đầu cầu tre, rồi bỏ tôi nơi đó, vào nấp trong cổng cho tới khi tôi khóc lóc, xin lỗi rồi mới được đưa vào nhà. Cho tới giờ tôi cũng không hiểu tại sao mình lại có thái độ đó…

Tuy thế, suốt tuổi thơ, tôi thường ở nơi đồng ruộng này với nhiều kỷ niệm êm đềm, khó quên.

Mùa hè là thời gian đẹp nhất. Các anh chị tôi ở thị xã được về cả đây, bày nhiều trò vui không tả được. Ông anh áp tôi mua lồng rập bốn ngăn có cạm, kết hoa dâm bụt đỏ rỡ, treo trên cây khế vườn sau, để bắt chim khuyên, một loài chim to bằng chim di, nhưng mầu vàng khá đẹp, có ngày chúng tôi bắt được cả ba, bốn con. Buổi sáng, ra bờ ruộng vồ cào cào, châu chấu hay những con chuồn chuồn ớt màu đỏ chót cho sáo ăn. Ngoài ra còn nuôi chim di, đánh lưới chim xanh, câu cá rô cựu (cá rô lớn sống lâu) dưới gầm gốc cây sung ở cầu ao.

Muốn có sáo con để nuôi, mình phải làm tổ cho chúng từ tháng tư, tháng năm. Dùng một cái lờ bắt cá đan bằng tre, có một đầu bó kín lại, một đầu hở. Lấy một mảnh chiếu cuốn bên ngoài cái lờ. Chọn một cành cây xoan, buộc cái tổ này, hơi dốc, đầu cao hơn một  chút, luôn luôn hướng nam để tránh ánh sáng mặt trời chiếu vào tổ, có thể làm trứng ung. Chỉ sau một thời gian bốn, năm ngày thế nào cũng có một đôi chim sáo công rác vào làm tổ. Sau đó ít ngày, đợi lúc chim bố mẹ đi khỏi, mình trèo lên cây xoan, dùng tay thọc vào trong kiểm soát xem đã có trứng chưa. Trứng sáo to gần bằng trứng chim bồ câu, có một mầu xanh da trời rất đẹp. Mỗi tổ cũng chỉ chừng ba bốn quả thôi. Sau đó, hai vợ chồng sáo thay nhau ấp trứng. Chừng một tháng, trèo lên xem, có thể trứng đã nở. Khi sáo con đã mọc chút lông cánh, bắt về nuôi được rồi. Thường mình chỉ bắt một vài con để nuôi chơi thôi, số còn lại để cho bố mẹ chúng. Dùng một cái hộp, lấy ít rác trên tổ và rơm lót ổ cho sáo con. Nuôi sáo con rất dễ. Hàng ngày, chúng tôi bắt cào cào, châu chấu, chuồn chuồn nuôi nó. Mỗi khi sáo đói, nó kêu và há mỏ để mình đút đồ ăn cho nó. Nuôi khoảng hơn một tháng, sáo con đủ lông cánh, bay được một quãng ngắn, nhưng đặc biệt nó không bỏ đi, chỉ nhảy nhót trong nhà. Thời gian này chơi với nó rất vui. Sáo lớn có thể cho ăn thêm cơm, gạo, cứ rắc ra đất là nó tới mổ. Đôi khi trộn trứng vịt hay gà với gạo, phơi khô cho sáo ăn, lông sẽ mượt, óng chuốt.

Chim di thì không cần làm tổ sẵn. Đầu hè, theo dõi chúng, sẽ biết được chúng làm tổ ở đâu, thường là trên cây nhãn, trên bọng cây cau. Lâu lâu có thể trèo lên xem chim đã nở chưa. Một lứa chim di có chừng bốn, năm con. Nếu chỉ có một tổ, thường mình bắt về hết để nuôi. Nếu có hai ba tổ gần cùng thời gian, mình bắt mỗi tổ vài con. Chim di trải ổ trong hộp bánh biscuit, nuôi bằng bột gạo pha chút muối và nước cho sền sệt, rồi dùng tăm xúc cho chúng ăn. Lớn lên, chúng không bỏ đi, mình gọi, chúng thường từ xa bay tới đậu trên tay, trên vai. Trong nhà, đóng vài cành cây khô trên tường để chim đậu.

Bắt chim xanh thì khá vất vả nhưng vui và hồi hộp. Loại chim này rất đẹp, lông mầu xanh lá cây, mỏ đỏ, chân vàng, to gần bằng chim bồ câu. Chọn một cây cao nhất trong vườn, tìm một cành, tước hết lá, nếu không có, ta có thể làm một cành giả, buộc chạng cây này lên ngọn cây. Dùng một khoảng đất rộng trong vườn, làm sạch cỏ một miếng rộng bằng cái chiếu. Ở giữa mảnh đất này, xới đất lên một miếng mỗi chiều chừng bốn gang tay, tưới nước lên trông ngon lành như đất mới. Cạnh đó, làm một khay nước để chim uống. Không xa đấy, một cái chạng cây thứ hai không cao quá đối với khu đất. Hệ thống lưới có khung được đặt nghiêng bên khu đất. Một dây kéo lưới được chạy vào một cái lều lợp lá cây cách xa lưới chừng mươi thước (người không được xuất hiện lúc nhử chim). Mỗi buổi sáng, chim xanh bay về từng đàn và tìm đậu trên những chạng cây cao. Lúc đó, mình ngồi nấp trong lều, thổi lên những tiếng u ú u như chim xanh nó thường gáy (thổi qua vụm tay). Chim ở trên cành cao theo tiếng chim gù bay xuống đậu trên những chạng cây thấp. Chim xanh ăn đất, nên sẽ thấy chỗ đất xới nơi mảnh đất chăng lưới. Chúng sẽ xà xuống, đến ăn ở nơi đất đó. Sau khi ăn, chúng sẽ đến bên khay nước để uống. Lúc này là thời cơ giật lưới vì chúng chụm đầu quanh khay nước không đề phòng chung quanh. Từ trong lều mình giật mạnh, lưới úp lên khu đất. Chim bao giờ cũng bay lên chứ ít khi bay ngang nên phải dính lưới thôi.

Thịt chim xanh cũng không ngon mấy, anh Chiêu là người bầy ra lưới chim cho cho anh em chúng tôi vui vậy thôi. Nói thì thế, nhưng bắt được một con chim xanh cũng không phải là dễ, vài ngày chúng tôi mới bắt được một hai con, nhưng bên cụ cửu T ngày nào cũng có dăm ba con xập lưới…

Cụ T còn đánh được cả cò, vạc. Nhà cụ có một cái ao cá khá lớn. Gần bờ ao, cụ đắp mấy cái gò nổi khỏi mặt nước, mỗi cái lớn bằng nửa cái chiếu. Trên mặt cỏ xanh, có nhũng con cò, vạc giả bằng gỗ, trông xa như thật. Chung quanh những con giả này, được cắm đầy những que tre dài hơn cái đũa, nửa phần trên có bôi một loại nhựa rất dính. Một cái lều nhỏ gần đó, trên nóc có một hai con cò (cò mồi) hay vạc mồi, đã được huấn luyện, buộc một chân bằng sợi dây dài và đậu trên cái gậy có đầu hình chữ T. Khi thấy một đàn cò, vạc bay ngang, người núp trong lều nhắc cây gậy khiến con chim mồi bay lên, đáp xuống và kêu lên quang quác. Đàn cò trông thấy, đáp xuống gò có những con chim giả. Lúc đó cánh chim xòe rộng ra, khi đáp xuống thì khép cánh lại, đồng thời kẹp cả mấy que nhựa vào nách. Thế là chim hết bay lên được, chờ cụ T bơi con thuyền nhỏ ra bắt về. Thú  tiêu khiển của cụ là vừa uống rượu vừa canh các lưới đánh chim xanh, đánh cò, vạc. Bắt được nhiều chim, không ăn hết, cụ nuôi chúng trong mấy cái lồng, tôi nghĩ chắc chúng cũng chẳng sống được bao lâu. Mỗi lần được sang nhà cụ chơi, tôi có cảm tưởng như vào sở thú vậy.

Ở dưới đồng chúng tôi có những bữa cơm vui vẻ, ngon miệng. Thức ăn có sẵn trong nhà như gà, vịt, trứng. Tôm, cá tươi, cứ dặn trước mấy người đánh cá tôm về đêm là hôm sau có đủ. Hôm nào muốn ăn thịt heo, lòng heo hay thịt bò sẽ có bác Thiện gái đi bộ vào chợ Hói Đào tỉnh Thanh mua. Nói thì coi bộ xa xôi, nhưng thực sự chỉ cách vài ba cây số đường đê, sáng đi, trưa đã về đến nhà. Muốn ăn bún, đón chị đổi bún lấy lúa mà trưa nào cũng chèo thuyền qua trước cổng nhà. Trong những ngày đó, tôi thấy gia đình tôi chẳng mấy khi dùng tới tiền bạc. Thế mà ở nơi đây, chúng tôi sống rất đầy đủ và hạnh phúc.

Vào mùa gặt, nhà tôi rất nhộn nhịp. Từ sáng sớm, lúc tư giờ (4 giờ sáng), còn tối trời, dưới những ngọn đèn chai, cơm đã dọn mấy mâm trên chiếu trải giữa nhà ngang. Các tay thợ gặt đã ngồi ăn uống vui vẻ để vác hái ra đồng sớm. Bữa ăn đều được người nhà phục dịch. Đôi khi, cha mẹ tôi cũng ngồi vào mâm ăn với họ để giữ cái thân tình. Những bữa ăn đó thường có canh riêu, cà muối, tôm cá rang mặn. Riêng tôi vẫn nhớ cái mùi thơm nồi cơm gạo chăm mầu nâu đỏ của những bữa cơm ấy. Tới trưa, lúa gặt được đã xếp đầy hai bên đường, thợ nghỉ tay dùng bữa do người nhà mang tới trong nhà quen quanh đó hay một chiếc lều cất tạm. Ruộng nhà tôi một số có chiều ngang bằng chiều của bờ hóp phía nam trang trại, chạy dài cho tới giáp đê Như Tân (chừng hơn cây số). Đoạn đường làng dọc theo bờ ruộng được đánh mốc từng đoạn sáu, mười hai, hăm bốn ‘đạc’ (hình như mỗi đạc là 50 mét). Những ngày đầu mùa, gặt ruộng gần nhà, thợ có thể gánh thẳng về. Những ngày sau, ở xa hơn, lúa gặt xong, được đưa xuống gõ, cuối ngày chở về trước cổng. Mùa gặt, chúng tôi thường có khách ở trên thị xã về chơi. Mấy ông khách thanh niên (thường là em họ cha mẹ tôi hay bạn ông anh cả) cũng xuống ăn uống như thợ gặt, rồi theo ra đồng ‘coi gặt’ (để lúa khỏi bị lấy trộm). Trong làng thường có những thiếu nữ lội sau thợ gặt mót những bông lúc còn sót lại, bình thường họ cũng kiếm được ít lúa. Mấy ông ‘trai lơ’ coi gặt gợi chuyện, bông đùa với họ cho vui. Chiều, khi ra về mấy ông còn ôm cả lúa bên đường tặng các cô gái xinh. Người nhà kể lại, mẹ tôi chẳng để tâm, nhưng nhắc chừng mấy ông đó đừng đùa bỡn quá trớn.

Buổi tối, chị Bường coi việc của mấy cô vò lúa do chính chị mướn về. Trong nhà ngang được buộc những cây tre giữa các hàng cột để làm cái vịn cho mấy cô gái vò lúa dưới ánh sáng vàng vọt của những chiếc đèn chai treo trên vách. Phải chịu đôi bàn chân của các cô này (chai ra vì chẳng bao giờ biết tới đôi guốc hay giầy dép), đạp lên những hạt lúa có đầu, cạnh rất sắc để chúng rụng ra. Tới khuya người nhà có những đồ ăn nhẹ cho họ như bánh đúc nhân thịt mỡ và cùi dừa ăn vừa béo, vừa bùi, chè đậu đen thả sương cho mát, cháo gạo nếp với mật, chè kê nồng nồng mùi vôi, nhưng kê lại rất thơm v.v. Hôm nào nhà có khách, các cô còn hát đúm với nhau khá vui. Thỉnh thoảng chúng tôi vặn máy hát cho họ nghe những đĩa nhạc cải cách hay tuồng tích, các cô rất thích thú. Vì thế, mùa gặt tới, họ lại đến xin làm. Hai mùa gặt cùng cảnh, nhưng thời tiết tháng mười lạnh nên công việc thêm khó khăn cho những người thợ làm đồng rất nhiều.

Suốt bậc tiểu học, chỉ có lớp nhất là tôi học đầy đủ thời gian để thi tiểu học, còn những lớp khác thì người ta chưa nghỉ hè, mình đã theo bố mẹ xuống đổng gặt mùa chiêm…Tháng 9 khai trường, mình đang bận gặt vụ mùa. Vì thế mấy đứa nhỏ chúng tôi ít được đi học trọn năm như mấy anh chị lớn. Cho nên, mùa hè, chúng tôi có lớp học bổ túc tại nhà mà thầy giáo là mấy ông anh, bà chị. Lớp học đều có thời khoá biểu. Buổi trưa hết lớp. Thời gian này, mùa nhãn cũng đã tới, trái khá lớn và sai, nhưng hột nhỏ xíu. Cả vườn phải mấy cây trái tuy lớn, nhưng hột cũng lớn, cùi mỏng, chẳng ai thèm ăn. Đầm sen bên kia ao cá, sắp tàn, cũng là lúc gương sen đã lớn bằng miệng bát. Sen thường thì cánh hoa trong nhỏ, to dần ra tới những cánh bên ngoài. Loại này, gương sen nhỏ, nhiều hạt lép và chỉ có mầu hồng (hồng cánh sen). Sen nhà tôi, cánh bằng nhau từ trong ra ngoài, gọi là sen quỳ, gương lớn và mẩy đều, ít hạt lép, ăn sống ngọt và mát. Loại sen này có hai mầu hồng và trắng. Bóc hạt còn xanh nấu chè với đường phèn thì ngon tuyệt. Hạt sen già vỏ mầu nâu, tuy bùi, nhưng vị ngọt và mùi thơm kém đi. Nhà xứ vẫn thường cho người tới xin hái hoa trưng trong những lễ ngày chủ nhật hay lễ trọng.

Tôi vẫn nhớ khu vườn cấy ngô (bắp), muốn ăn cái nào, tụi tôi cứ ra chọn ngoài vườn, mang về nướng hoặc luộc, ăn rất ngọt. Khoai lang cũng được cấy từng luống. Cấy được vài ba tháng ông Tỉnh làm vườn thu hoạch, củ to hơn nắm dao. Đôi khi có những cây còn sót, sau chúng tôi khám phá ra nhờ ngọn của nó nhú lên, đào được những củ to bằng cổ tay. Những chùm nhãn đứng dưới trông rất lớn, đến khi trèo lên hái thì thấy cả phần trên đã bị dơi ăn hết. Ổi thì thường sau một đêm mưa, lớn mau, da bóng láng, trong thực hấp dẫn. Ngoài hoa quả trong nhà, thỉnh thoảng chúng tôi còn được ăn bánh nếp, bánh dầy, bánh giò của một chị bán hàng rong quanh làng. Buổi sáng, nắng lên, hương bưởi, hương cau mỗi nơi thơm nức một góc vườn. Mấy cây na bên tường hoa cũng tỏa mùi hương dịu mát. Nhắm mắt, chỉ dùng mũi. chúng tôi cũng biết được vị trí mình đang đứng trong vườn.

Lớp học hè tuy không có giọng đọc ê a, không có tiếng thước của thầy giáo đập chan chát lên bàn như ở nhà trường, nhưng lớp học do ông anh áp tôi phụ trách cũng rất trật tự, nghiêm chỉnh. Bọn trẻ học trò chỉ có hai đứa, tôi và chú em kém tôi ba tuổi.

Hai bà chị không dậy học, thỉnh thoảng chỉ dẫn và trả lời vài câu hỏi trong bài, còn thường lo việc săn sóc chúng tôi. Bà chị lớn, vô tâm, việc nhà chẳng bao giờ để mắt tới. Được cái, quần áo lũ chúng tôi chơi đùa kéo nhau hoặc chạy nhảy vướng cây, vướng cối bị rách là chị tôi chịu khó ngồi sửa chữa, vá víu cho. Tay nghề của chị rất hay, nhất là vá sang chỉ trên những chiếc áo chemise, quần tây, ai trông cũng khó biết được. Bà chị thứ hai của tôi chỉ huy bọn người làm bếp núc đâu ra đấy. Thùng đựng trứng vịt, trứng gà để ăn, đứa nào đau yếu hay thèm một quả trứng ăn cơm là bả cho liền. Nhưng không biết điều trộm cắp thậm thụt bị bắt, cứ coi như nhịn đói một ngày. Tuy nói thế, cũng chưa ai phải phạt nặng đến như vậy. Riêng khi bán lúa hay nhận lúa của mấy người xăm canh, bả chỉ tin một mình anh Ba quản gia. Nếu anh bận hay không có nhà, bà chị tôi sẽ ra làm thay. Mỗi thùng lúa đong ra bán, người ngồi coi bỏ vào ống một thẻ cho dễ nhớ. Đong xong, cứ việc đếm thẻ mà thanh toán.. Ở nhiều nơi, chủ không kiểm soát, lơi là lúc đong lúa, đứa gạt thóc, đứa bỏ thẻ ăn cánh với nhau, nhà chủ mất lúa như không. Nhà tôi trong kho có hai cót đựng lúa rất lớn, đường kính cả sáu bảy thước; chiều cao cả tám mét, không thể kiểm lúa được, mất mát khó lường.

Ông anh cả đã ngoài hai mươi, có hai người phục dịch giặt ủi quần áo, lấy nước rửa mặt, nước tắm, đổ đĩa tàn thuốc lá, sai vặt. Việc chính trong ngày của ông là hội hoạ và sáng tác nhạc, chơi đàn ghi-ta, thù tiếp bạn bè từ xa về nghỉ hè.. Thỉnh thoảng ông dậy tụi tôi một vài câu tiếng ‘Tây” và nhất là mỗi khi viết xong được bản nhạc nào là gom chúng tôi lại dậy hát bài đó, có khi lâu cả buổi. Ôi chao, những bài học này khó ‘nuốt’ làm sao? Các bà chị…và ông anh, thầy dạy học chính của chúng tôi…cũng không thoát khỏi cái lớp học ‘quái ác’ này, dù biết ông quả là một nghệ sĩ tài hoa.

Tập đọc thông rồi thì thường ngày có viết ám tả, đặc biệt là phát âm và phân biệt được những chữ N và L, CH và TR là những vần người vùng biển thường nói sai.

Những phép tính căn bản cộng, trừ, nhân, chia phức tạp dần. Từ đó, gặp những bài tính có số lẻ bọn tôi không còn sợ hãi gì nữa.

Có ông cậu bằng tuổi tôi mà đã nghiện thuốc lào, bài toán đố đầu tiên là: Ông Bi hút thuốc lào, buổi sáng ba điếu, buổi chiều năm điếu, vậy một ngày ông hút tất cả mấy điếu thuốc. Nhửng bài toán đố được khai triển từ những việc thường ngày như bắt chim, câu cá, ăn bánh, kẹo rất thích thú và tiến bộ trông thấy. Bài làm cũng được ông anh tôi chấm điểm bằng mực đỏ. Tôi nhớ mãi những trang vở giấy Đáp Cầu ( nghe nói một nơi nào đó gần Hà Nội), mầu hơi nâu và những viên mực tím đựng lưng cái lọ thủy của những lớp học của hội Truyền Bá Quốc Ngữ thời cha tôi đứng ra tổ chức vào buổi tối cho dân làng, còn sót lại.

Tôi còn nhớ những trang sách vỡ lòng với những chữ cái được in cạnh những vật như A quả Na, Ô cái ô (dù), Â mâm cơm, Ư ông sư v.v.

Những bài có vần và ngắn trong sách của tác gỉa Bùi văn Bảo như:

Ông Xã Xệ, đi săn voi

    Ông ta ngồi, bên tảng đá,

    Bắn súng ra, đạn trúng ngà

    Voi ngã gục.

hoặc:

Con gà cục tác lá chanh

    Con lợn ủi ỉn mua hành cho tôi

    Con chó khóc đứng khóc ngồi

    Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riêng.

Bài Kẻ Ở Người Đi trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp sơ đẳng sao mà giống những chiều xuống thuyền về thị xã tới vậy: Chân bước đi, mặt còn ngoảnh lại: từ cái mái nhà, cái thềm nhà, cái lối đi, cho đến bụi cây, đám cỏ, cái gì cũng làm tôi quyến luyến khác thường! Thuyền đã đi xa, mà tôi còn đứng nhìn trở lại, nhìn mãi cho đến lúc không trông thấy nhà nữa mới thôi. Ôi! Cái cảnh biệt ly sao mà buồn vậy!

Bài thuộc lòng đầu tiên tôi nhớ lấy trong tập thơ của Hàn Mạc Tử, giấy mầu nâu, bìa ngoài in tượng Chịu Nạn (Chúa Giê-su treo trên thập giá) đó là bài Đêm Không Ngủ:

    Non sông bốn mặt ngủ mơ màng,

    Thức tỉnh mình ta dạ chẳng an

    Bóng nguyệt leo song, sờ sẩm gối

    Gió thu lọt cửa cọ mài chăn

    Khóc dùm thân thế, hoa rơi lệ

    Buồn giúp công danh, dế dạo đàn

    Chỗi dậy nôm na vài điệu cũ

    Năm canh tâm sự vẫn chưa tàn.

Tôi rất thích bài này vì chúng tôi sống ở đây rất gần gụi với cảnh trong thơ.

Và bài hát tiếng Tây Frère Jaques:

      Frère Jaques, frère Jaques,

      Dormez-vous? Dormez-vous

      Sonnez les martine, Sonnez les martine

      Din, dan, don, din dan, don.

Rồi những tiếng Tây xuyên tạc như Le dindon là cái đỉnh đồng

Le conseille là cái cổng xây

Le conseille du maitre là cái cổng xây của thầy giáo.

Và bài hát: Lá vàng hết rồi, chúa Xuân nay đã về, chim ca hát mừng, vang trong nuí rừng. Ta đi hát các hoa, ta thấy ai nằm gốc cây…tưởng là MA! Lá vàng…

Ma gì mà hiền lành, thản nhiên thế?

Sau Cách Mạng 19 tháng 8, 1945, nền hành chánh Xã Thôn xưa được thay đổi. Bỏ chức lý trưởng và cả chánh Hưong hội. Đứng đầu hành chánh xã là chủ tịch kháng chiến xã và các chức vụ phụ thuộc. Hết làm chánh Hương hội, cha tôi được cả làng (phổ thông đầu phiếu) bầu làm Chủ tịch làng Như Tân kiêm Chủ tịch kháng chiến liên xã Tô Hiệu ( một nhân vật nào đó, rất xa lạ với chúng tôi từ thời đó cho tới ngày nay!) gồm 4 làng Như Tân, Tân Khẩn, Tân Mỹ, Tùng Thiện. Mấy ngày lại có một cuộc ‘mít-tinh’ ở đâu đó như trên Cống Bốn Thước, cống Hai Thước, để hoan hô hay đả đảo một sự kiện nào đó, tụ họp đón tiếp phái đoàn từ trên tới thăm.

Tôi vẫn nhớ cái mùi giấy mầu đỏ, vàng mà cha tôi mua từ Phát Diệm về để anh chị em chúng tôi làm cờ đỏ sao vàng phát cho dân làng trong những dịp này. Bà chị họ dậy cách gấp giấy để chỉ cần cắt một nhát kéo là được ngay ngôi sao vàng năm cánh.

Mọi người đều rất phấn khởi với nền Dân chủ, Cộng hòa, “độc lập, tự do, hạnh phúc”, nghe sướng lỗ tai!. Xây thêm nhà mới, cha mẹ tôi đã tính chuyện lâu dài cho gần một tiểu đội (thời đó hay dùng những từ quân sự để nói về những con số) con cái và nhiều cháu chắt sau này, một khi về nghỉ hè hay đổi gió có chỗ khang trang để vui chơi. Nhà đó, ruộng vườn đó, cây trái, mùa nào thức ấy tha hồ mà hưởng thụ, nhưng ước mơ giản dị đó đã sớm ta ra… mây khói!

Thời buổi nào cha tôi làm việc làng, trong nhà cũng tấp nập kẻ ra, người vào rất vui. Làng Như Tân, ngoài anh Hạ là mõ làng, có chừng hai mươi người tuần do một ông trương tuần chỉ huy. Khi có việc cha tôi dùng tiếng trống để gọi họ. Theo qui định không biết có từ bao giờ, nếu chỉ gọi 2 anh tuần trực ngày hôm đó, trống được đánh một hồi ba tiếng. Nếu phải gọi cả đội thì đánh ba hồi chín tiếng (cứ đánh 3 tiếng, rồi ngưng một lúc, đánh tiếp một hồi từ chậm rồi nhanh dần cho tới lúc ngưng) . Riêng ông trương tuần tên T thì ngày nào cũng ghé qua nhà tôi một lần. Đánh trống là một thú vui, ông anh áp tôi thường dành việc đó thay cho anh quản gia. Ngày đó, tôi còn nhỏ, nhưng đôi khi củng được nhường cho đánh trống gọi tuần trực. Cứ mười lăm phút chưa ai tới là ‘chơi’ một lần, cho đến khi có anh xuất hiện mới thôi. Việc phổ biến tin tức trong làng vẫn phải dùng anh mõ. Nhưng bây giờ ngoài cái mõ gỗ, anh Hạ có thêm một cái loa làm bằng sắt được cắt từ cái thùng sắt đựng dầu tây (dầu hôi) để khuếch tán tiếng rao. Học theo lối mới, anh cũng ‘alô, alô’ trước khi báo tin ‘Trình cùng làng nước…’

Cứ tới lúc lúa đầy hạt là chuột tràn ra cắn phá. Vì thế, Tết  năm nào, cha tôi cũng mua trữ mấy bánh pháo. Đến ngày đó, mỗi buổi tối, các anh tuần chăng lưới một đầu, đầu kia đốt pháo quăng vào ruộng để đuổi chúng ra khỏi ruộng. Hôm nào bọn tôi cũng theo đi đốt pháo với mấy anh tuần rất là vui.    Nhà tôi gà nuôi nhiều không bao giờ đếm, một đàn chó lớn bé sáu bẩy con (hàng năm còn thêm những ổ chó đẻ lớn lên), Hai chuồng lợn choai choai cả dăm sáu con. Mỗi khi có hội, nếu chỉ có Hương hội thôi thì một chú khuyển hy sinh là đủ. Nhưng nếu có hội cả làng thì phải làm cỗ cả một con lợn. Có khi phải làm thêm gà hay đánh cá ao. Có lần, tôi ra đồng chơi, ở nhà thịt mất con Vàng là con chó tôi thích nhất. Về tới nhà, thấy nó chỉ còn lại một đống lông vấy máu ở một góc sân. Thảm thương quá, tôi buồn tới mấy ngày!

Tôi chẳng thấy cỗ bàn ở nhà ông lý trưởng hay nhà cụ cửu tiên chỉ T, mà đều làm ở nhà tôi. Chẳng biết lương bổng của ông chánh Hương Hội mỗi năm mấy thùng lúa mà cỗ bàn linh đình như vậy. Hèn chi, cha tôi tại chức cả mười năm cho tới khi đắc cử  Chủ tịch kháng chiến liên xã Tô Hiệu. Thời này tuy nói là cách mạng, nhưng từ việc làng cho tới các ngày Lễ, Tết, cỗ bàn ăn uống, hội họp cũng vẫn như xưa, lại thêm đãi đằng những cán bộ từ tỉnh, huyện về công tác. Lâu lâu có cả đại đội Vệ quốc đoàn về nghỉ dưỡng binh trong trại nhà tôi. Và chắc chắn một điều là cha tôi chẳng có một đồng tiền lương.

Các ‘cụ’ chức sắc trong làng ai cũng mê Tổ Tôm. Trước đây, cứ sau buổi hội, các cụ lại cùng nhau ngả ra chơi bài, có khi từ chiều, suốt sáng luôn. Chung quanh chiếu bài đều có tuần đinh phục dịch, nhưng các bữa ăn tối, rồi nửa đêm đều do người nhà tôi lo.

Tới thời cách mạng, chính quyền ra luật cấm hẳn cờ bạc. Nếu ai bị bắt vì chơi chắn, tổ tôm thì ngoài tiền phạt, mỗi ngày còn phải đưa đám ma một quân bài cho tới hết 30 quân ( một quân có 4 lá bài, tổng cộng cả bộ bài có 120 lá, thí dụ quân cửu vạn có 4 lá hình giống nhau).  Trên đường tới nơi chôn cất, các phạm nhân bị bắt buộc phải réo gọi tên quân bài mà khóc lóc. ( thí dụ khóc: Ới ông cửu Vạn ơi v.v.). Tuy thế, cái lệ chơi Tổ Tôm của các cụ không bỏ được. Ban đêm đốt đèn lên, phải che chắn để ánh sáng không lọt ra ngoài; ăn, bốc, gọi đều phải nói se sẽ thôi. Có ù Chi Nhảy hay Kính Tứ Cố cũng chỉ xít xa nho nhỏ với nhau chứ không dám vỗ đùi cười ha hả, khoái chí như thời trước. Để chắc ăn, cha tôi phải cho tuần đinh hay người nhà canh gác, nhỡ có người từ trên tới bất ngờ cũng đủ thời gian cho các cụ thoát hiểm. Đặc biệt tiền góp không phải là tiền thật, mà bằng mọi (jeton hay gambling chip như trong các sòng bài ngày nay) là những khúc cói dài chừng 30 cm, được định giá là 1 đồng. Mỗi chân được chia cho hai mươi mọi trị giá 20 đồng. Khi tan đám, các vị thua, được thanh toán với nhau bằng tiền mặt. Nói thì như vậy, nhưng những món nợ này thường được ghi vào sổ. Do đó, vị nào cũng có thể ngồi vào bàn dù trong túi không sẵn tiền. Riêng anh tuần chia bài, thường cha tôi bỏ tiền túi ra thanh toán những cái mọi được làng cho. Cái thiệt lại về cha tôi. Một lần tôi thấy có ông nói lên vấn đề này thì một vị khác lại cười, nói: ‘Ồ, muỗi đốt cột!’ Hóa ra họ cho là nhà tôi giầu, số tiền cho đó không nghiã lý gì, hay tệ hơn, bổng lộc cha tôi được hưởng nhiều lắm, thì có phải nhả ra bằng đó cũng chẳng thấm tháp vào đâu!

Nhưng, ‘đời sống mới’ đang vui thì xẩy ra nhiều mâu thuẫn giữa chính quyền Việt Minh và Công Giáo, nhiều khi xẩy ra xung đột võ trang, mà khởi đầu thường do các đảng phái đang núp bóng trong khu an toàn gây ra.

Cha tôi dù đang làm việc cho chính phủ kháng chiến, nhưng lại là người Công Giáo, nên trong thâm tâm rất bực bội và chán nản. Tiếp theo là những tin tức về chiến tranh ngày một lan rộng. An ninh khó giữ, thuế không thu được bị khiển trách, ngược lại còn bị người ta dọa lấy đầu nếu tiếp tục thu thuế cho chính phủ, thực một cổ hai tròng! Vì thế, cây cầu tre trước ngõ bị đổ, nước cuốn đi trong một đêm mưa bão, do an ninh cũng như tài chính, làng tôi không nghĩ tới bác chiếc khác. Một con đò ngang được cho phép thay cầu. Con đò như của bà trùm Toan để cô cháu gái chèo đò. Khách qua đò dễ kiểm soát hơn qua cầu. Hình ảnh lãng mạn này thường gặp trong các bài ca tiền chiến, trong đó có tác phẩm của anh cả tôi:

    Chiều tím nhẹ rơi trong sương lam

    Nước triều lên, sóng gợi êm đềm

    Đây sông cả quê nhà in bóng

    Dưới hàng cây vươn đón gió ngàn

    Chiều nay thu đã xuống ú u ù u

    Trời lạnh bên sông vắng, chợ đã về

    Xa bến lâu, thương người sông nước đầy vơi.

    Cô lái đò ơi, thuyền đâu hãy ghé vào đây cho

    tôi sang với,

    Vắng khách thuyền cô giữa giòng sông chơi vơi.

    Hãy đón tôi sang nhà tôi nơi đó

    Dưới hàng cây lá rủ trên bến đò

    Cô còn nhớ tôi chăng

    Mỗi khi thu xuống, tôi vẫn hay về làng

    Năm năm lưu lạc giang hồ

    Nhớ quê, nhớ cả dáng cô lái đò

    Thuyền đã tới bến, cô hãy cho tôi lên

    Thuyền cô dần trôi triền miên

    Kìa ánh trăng đã loáng giòng sông sáng ngời

    Năm năm lưu lạc giang hồ

    Nhớ quê, nhớ cả miệng cô lái đò xinh!

Không còn cây cầu tre, mỗi lúc nhìn hai mố cầu còn lại um những cỏ, tôi vẫn mường tượng ra cảnh mọi người hốt hoảng la hét vì người anh của tôi có lần trượt chân, từ trên cầu té xuống sông, nhưng may được người cứu kịp; những lần sang bên kia sông mua lưỡi câu, dây cước, kẹo xoắn hay hớt tóc và nhất là đêm mịt mù, kinh hãi khi bị trói ở cột tre đầu cầu, nó ám ảnh mãi trong tôi.

Thời gian nhộn nhịp và vui nhất của chúng tôi là khi làn sóng người từ thành phố tản cư về. Nhà trên thị xã cho người Hà Nội ở hết. Dưới Như Tân, ngày nào cũng có khách về chơi cả tuần.

Một ngày vào giữa năm Bốn Tám, chúng tôi có mấy vị khách quí, hiện đang trú ngụ tại nhà chúng tôi (không phải người thuê nhà) trên thị xã từ thời mới tản cư, về thăm. Họ tặng màn cửa bằng ren trắng rất thích hợp cho các cửa lớn của nhà chúng tôi, chăn len, đường trắng, sữa Mont Blanc và quần áo, mũ, tất trẻ sơ sinh vì biết chúng tôi sắp có em bé. Ngoài những khách đặc biệt này, hai gia đình cậu mợ D và chú dì N của chúng tôi đã ở đây chơi từ mấy hôm trước. Vì thế, trong nhà, ngoài vườn vang tiếng cười vui của khách.

Để tiếp những vị này, cha tôi gọi người tới đánh cá ao để mẹ tôi làm món gỏi cá theo kiểu quê hương để mời họ, vì dân Hà Nội rất sành ăn, họ nghe tiếng món này mà chưa từng được thưởng thức.

Hôm đó, mấy anh bắt được ba, bốn con cá chép, cá mè khá lớn, dài gần nửa thước tây. Dù nhà có nhiều người giúp việc, nhưng để khách biết cách làm món gỏi cá chép, mẹ tôi tự tay làm cho mấy bà xem. Sau cùng món gỏi cá với các loại rau như lá sung, lá mơ, đinh năng, mùi, hung, ớt hiểm, bánh đa, đồ chấm đặc biệt (gọi là giấm) được bầy ra bàn ăn. Khách khứa vui vẻ thưởng thức. Vừa xong bữa cơm thì mẹ tôi chuyển dạ. Bà được đưa vào buồng trong. Làng tôi không có bệnh xá, điều khiến tôi sau này khá ngạc nhiên. Người làng đau yếu chỉ trông vào tủ thuốc trữ của nhà tôi. Thời đó, bệnh gì cũng chữa bằng “Đa-dên-năng” coi như thuốc trị bá bệnh. Ghẻ lở thì có thuốc tím, hay một thứ pomade, mầu trắng, mùi tanh như dầu cá…còn ai sanh đẻ thì chỉ có…chị Đán, vợ anh chăn vịt của chúng tôi.

Mấy người Hà Nội trợn mắt “kinh hoàng” khi thấy một chị đàn bà nhà quê, nhỏ loắt choắt, áo nâu bạc, quần đen nhầu nát, tay giữ cái nón mê, được chị Suy hối hả đưa vào. Cha tôi trấn an mọi người, nhất là mấy bà:

– Làng tôi chỉ có một mình chị Đán này có thể đỡ đẻ được. Quí vị cứ yên trí đi.

Mọi người quay vào bàn ăn uống trà, dùng chuối tiêu, ổi, na, nhất là nhãn  hái từ vườn nhà để tráng miệng.

Một vài ông khẽ lắc đầu khi thấy cha tôi rất bình tĩnh tiếp khách, có vẻ tin tưởng chị Đán hơn là chính họ tin tưởng một bác sĩ đỡ đẻ cho bà vợ. Ấm nước sôi và chậu thau đồng bóng loáng từ nhà dưới đưa vào phòng. Chị lớn tôi sắp chai cồn, khăn lông, tã lót để gọn trong cái lẵng tre theo sau. Thời gian như chậm lại…mọi người hồi hộp chờ đợi… Rồi bỗng tiếng “oe oe” từ trong buồng vang ra khiến mọi người giật mình, vô tình cùng vỗ tay hoan hô. (cách biểu lộ sự vui mừng kiểu cách mạng). Tiếng em bé khóc một chập rồi im hẳn. Chắc bé đã được tắm và mặc áo, cuốn khăn rồi nên mới thôi…lên tiếng, vì sự có mặt của mình trên thế gian này và yên tâm ở đây cũng ấm áp, an toàn như nằm trong bụng mẹ vậy. Cửa buồng mở, mọi người đều dán mắt vào người đàn bà nhà quê ấy khi chị từ trong nhà, vẫn với chiếc nón lá trên tay bước ra, tới bên cha tôi:

– Thưa thầy, cô và em gái rất khỏe mạnh…

Cha tôi vui vẻ:

– Tốt lắm, cảm ơn chị nhé…

– Dạ, con không dám…

Chỉ có thế, nhưng là cả tấm thân tình mộc mạc của đồng nước chúng tôi.

Bỗng có tiếng nói khá lớn:

– Chị Đán, chị giỏi lắm…

Chị Đán đỏ mặt, lí nhí cảm ơn trong miệng, rồi hấp tấp đi mau ra khỏi phòng.

Sau đó, khách khứa lần lượt vào buồng thăm mẹ tôi và cô em mới chào đời. Những người khách này trước đây giầu sang, tăm tiếng ở tỉnh thành, phút chốc trở nên dân tản cư, không cửa, không nhà, coi chúng tôi như ân nhân hay gần gụi hơn, một người bạn tốt,  cư xử hào phóng với họ và đã để lại trong lòng họ ấn tượng đẹp, sâu sắc và khó quên.

Hôm sau, hai anh Quang và Lê chèo thuyền bồng (thuyền lớn, có mui), 4 dằm(4 mái chéo) đưa khách Hà Nội về thị xã mang theo những chùm “nhãn lồng” cùi dầy, nhạt nhỏ xíu hái trong vườn của chúng tôi. Không ngờ cuối năm đó tới đầu năm bốn chín, dân tản cư dần dần hồi cư về nhà cũ, nhất là người ở những thành phố lớn như Nam Định, Hà Nội, Hải Phòng, trả lại cái im vắng và trống trải cho toà nhà của gia đình tôi trên thị xã và Như Tân không còn dịp đón khách phương xa.

Một buổi chiều, cả nhà lên sân thượng, trải chiếu hoa ngồi chờ trăng lên lấy hứng tìm tên cho cô bé. Ông cậu thi sĩ chọn những tên cầu kỳ có điển cố “Tầu” nhu Thủy Tiên, Hằng Nga, Vân Anh, Lam Kiều…Nhị Kiều, hay, nhưng nghe xa lạ quá. Sau, tôi không nhớ ý kiến của ai đưa ra: Tại sao không lấy cái tên gần gũi, đầy kỷ niệm là “Minh Trang”  (Tân Minh Trang), cần tìm đâu xa? Thế là mọi người đồng ý. Đâu có ai biết thời đó đã có một nữ danh ca mang cái tên khá đẹp này.

Gió chiều tà đã thấm lạnh.Thỉnh thoảng từ phương Bắc, ngỗng trời như một cánh cung vĩ đại, soải cánh bay về phương Nam, kêu lên những tiếng gọi đàn thảng thốt kéo dài tới cuối chân trời. Trăng đã lên khỏi cánh đồng lúa bao la, lớn và tròn vành vạnh. Từ cái máy hát vang lên tiếng vĩ cầm chơi bản Serenade của Frank Schubert.  Cái lãng mạn đồng quê, rồi ra chẳng còn tìm đâu thấy nữa.

Tháng 9, 1949, Pháp nhảy dù xuống Phát Diệm, toàn bộ cái chính quyền kháng chiến Liên Khu Ba lẳng lặng rút vào Khu Tư, Thanh Hóa. Sau đó, cả huyện Kim Sơn trở thành vùng Quốc Gia. Cha tôi không muốn thành một chủ tịch trong “bóng tối” nên bỏ kháng chiến, về ở hẳn trên thị xã. Thường những tháng nghỉ hè chúng tôi mới về đây ít ngày.

Vào mùa hè Năm Mươi, khi gia đình tôi mới về Như Tân ít bữa, lại nghe tin ông ngoại tôi đau, anh Quang chèo thuyền nhà đưa mẹ tôi về thị xã thăm cụ. Mười một giờ sáng, chúng tôi vừa ăn cơm xong, có người nói thấy rất nhiều lính Pháp trên đê Văn Hải. Cha tôi thôi việc làng từ mấy năm nay, người thay cha tôi làm chủ tịch xã thời Quốc gia là ông T, con trưởng cụ cửu T. Chúng tôi còn đang hoang mang thì ông T đi xe đạp tới. Ông rất bối rối vì không biết lính Pháp về làng tôi làm gì. Từ trước tới nay, tuy họ với chính phủ Quốc gia đều thuộc khối Liên Hiệp Pháp. Nhưng mọi người từng nghe đồn “Tây Ma-rốc gạch mặt” càn quét tới đâu, gây chết chóc hãm hiếp tới đó. Trong nhà tôi, cha tôi, hai anh tôi đều biết nói tiếng Pháp, nên cha tôi trấn an ông:

– Ông đừng hoảng hốt như thế. Để họ tới, chúng tôi sẽ lên gặp họ xem sao. Chúng có thể làm bậy ở những nơi hẻo lánh hay vùng xôi-đậu cơ. Đàng này, làng ta an ninh từ xưa tới nay. Mới lại chúng đi trên đê, chưa chắc đã tới làng mình.

Câu chuyện tới đó thì có người báo quân đội Pháp đang dùng thuyền phao sang sông…và đã có mấy người đã đứng trước công nhà tôi. Ông anh cả tôi vội chạy ra ngoài để tiếp xúc với họ mới toá hoả là tụi Pháp đã quyết định lấy nhà của chúng tôi để nghỉ dưỡng quân. Có phải kẻ nào đó “chơi” xấu gia đình tôi không mà tụi Pháp biết rõ nơi mà chúng sẽ về đóng quân. Nó cho chúng tôi nửa giờ để dọn ra.

Chúng tôi, thực quá ngỡ ngàng. Mấy bố con vội vã thu vén đồ đạc để dọn ra cho quân Pháp chíếm đóng. Những đồ không thể mang theo đưa hết xuống hầm. Quần áo, nồi niêu xong chảo anh Nhỏ quản gia chỉ mang đủ dùng. Cha tôi cho ông anh áp tôi sang nhà ông Trùm O là người thân cận với cha mẹ tôi vì hai nhà có chung một hàng tre, xem chúng tôi có thể ở nhờ nhà ông ít ngày được không. May mắn là ông này cũng vừa xây nhà mới khang trang, nên rất hoan nghênh, mời gia đình tôi sang ông tạm trú.

Ba giờ chiều, quân Pháp đã yên ổn trong trang trại của chúng tôi. Họ hứa mỗi tuần sẽ cho người chúng tôi vào thăm nhà, hái trái cây một lần.

Ngay đầu ngõ và quay mặt ra đường, chúng tôi có một căn nhà ba gian, khá rộng rãi. Trước đây cho người em cha xứ mở tiệm may. Công việc không khá, nên anh ta đã dọn ra ít tháng nay. Ba anh em trai lớn chúng tôi tạm ở đây, còn cha mẹ tôi và ba chị em gái với hai đứa em trai nhỏ ở nhờ bên ông trùm O.

Lúc hai giờ trưa, cha tôi sai anh Chiêu đạp xe về thị xã báo tin cho mẹ tôi biết tình hình bất ngờ này và dặn mẹ thu xếp nhà cửa trên thị xã để gia đình về.

Phải nói trong tình thế ngặt nghèo đó, mẹ tôi rất thông minh, nghĩ được việc gì mình có thể làm một cách sáng suốt. Không những bà không dọn về thị xã mà còn tính chuyện làm ăn với tụi Pháp này. Bà mua cất một thuyền đầy, nào bia nhiều loại, nào đường, cà phê, sữa đặc, nước ngọt, thuốc lá thơm, kẹo, bánh, trái cây cam, chuối tiêu và về Như Tân ngay chiều hôm đó.

Thuyền về tới bến sông nhà ông trùm O thì trời cũng đã muộn. Mấy bố con vô cùng ngạc nhiên và vui mừng. Ngay trong đêm hàng được bốc lên xếp đầy một gian nhà ông trùm. Cha tôi coi bộ không sốt sắng lắm vì thấy từ truớc tối nay chẳng buôn bán bao giờ, lại trong hoàn cảnh đặc biệt này. Nhưng sau khi thấy mẹ tôi xếp đật công việc đâu ra đáy mời chịu “ hợp tác”.

Sáng hôm sau, anh cả tôi vào gặp ông quan ba xem việc mở quán của chúng tôi có trở ngại gì không. Ông bằng lòng, nhưng dặn chúng tôi phải kiểm soát chặt chẽ, đừng để quân địch lợi dụng gây tai họa. Buổi trưa căn nhà đầu ngõ đã trở thành cửa tiệm nước. Chúng tôi pha cà phê, nước trà, bầy bia, thuốc lá, trái cây trong cái tủ kinh từ lâu không dùng tới.

Mùi cà phê rất là hấp dẫn khiến hai anh lính tây trắng từ trong ngõ vui vẻ ghé qua, ngồi trên hai chiếc ghế gỗ anh thuê nhà để lại. Họ gọi hai ly “café au lait’ tức cà phê sữa, một bao Phillip.. Chúng tôi lấy mỗi ly hai đồng, bao thuốc bốn đồng, nhưng khi trả tiền, hai anh trả sáu đồng cho hai ly cà phê và năm đồng bao thuốc lá.. Sau này chúng tôi biết trong những hộp ration (thức ăn trong hộp của quân đội Pháp) đều có cà phê bột và thuốc lá Mic, Lucky hay Gauloise, nhưng họ vẫn thích cà phê của chúng tôi vì có hương vị khác hẳn. Ông anh cả tôi nói có thể đây là lối trả tiền ăn hàng của người Pháp, họ hay cho thêm tiền nhân viên tiếp khách, gọi là “pourboire”.

Buổi chiều, khách đến uống bia đầu tiên là một anh lính da nhờ nhờ, đặc biệt có cái đầu trọc lóc. Anh vui vẻ uống  tới 4 chai bia. Chẳng cần biết giá cả bao nhiêu, anh trả hai mươi đồng  tức là thừa tám đồng. Anh này về sau, ngày nào cũng cùng mấy bạn  ra uống bia và trả tiền hậu hĩnh. Chúng tôi thường gọi anh là “anh trọc đầu”.

Cửa hàng của nhà tôi tấp nập từ sáng tới sáu, bảy giờ chiều. Buổi khuya chúng tôi thường tặng mấy anh gác cổng cà phê sữa nóng. Quán rất đắt hàng. Mẹ tôi chịu khó về cất hàng, nhiều khi không kịp để bán.

Ở chừng hơn một tuần, ông quan ba cho người mời anh cả tôi vào gặp ông ta. Chưa biết chuyện gì, nhưng thấy họ lịch sự, mình cũng yên tâm. Ông trung úy người Algerie dẫn anh đi khắp trang trại để anh yên tâm họ ở đây rất trật tự. Mấy anh em tôi được theo vào, hái ổi, na, đu đủ về ăn mấy ngày không hết, còn chia cả cho đám con ông trùm O. Khi chúng tôi ra khỏi nhà, trong chuồng lợn còn ba con choai choai và một đàn gà không biết bao nhiêu con, họ nói sẽ thịt trong nhửng ngày sắp tới. Ông ta đề nghị anh tôi về tính cho biết họ phải trả nhà tôi bao nhiêu tiền về những món hàng đó. Ngoài ra, họ nhờ mua cho một con bò.

Mẹ tôi rất bằng lòng lối làm việc của mấy ông Tây này. Ba hôm sau, chúng tôi dẫn vào cho họ một con bò hạng trung chừng ba trăm kí-lô. Con bò này, chúng tôi lời gần gấp đôi. Ngoài ra, bốn chân bò, bộ da, nguyên bộ lòng, cái đuôi và một cục thịt chừng mười ki-lô, họ cho lính mang ra cho chúng tôi. Mẹ tôi đưa cả cho ông trùm O, chia cho tuần đinh trong làng. Tính ra, đại đội lính Lê-dương này ở nhà tôi chừng hơn hai tháng. Nhờ đó, chúng tôi có được một số tiền kha khá để dằn túi trong những ngày tháng loạn ly.

Sau thời gian này, tình hình chiến sự rất căng thẳng. Hai anh lớn tôi đi Hà Nội học, gia đình chúng tôi cũng ít về Tân Minh Trang ở lâu quá một tháng. Tôi không biết tình trạng ruộng nương của chúng tôi như thế nào, mỗi vụ cho cấy rẽ (cho người ta thuê để cầy cấy, lúa thu được, chia cho chủ ruộng một phần), chỉ đủ gạo ăn. Nhưng nhờ hàng tháng có tiền cho các gia đình lính tiểu đoàn 18 Quốc Gia thuê nhà nên cũng đỡ eo hẹp. “Bên kia”  dăm ba tháng về quấy rối một đêm rồi cũng rút sang bên kia cầu Điền Hộ là vùng liên khu Tư của họ.

Làn sóng người hồi cư vượt biên giới Thanh Hóa-Ninh Bình qua sông Càn ngày một nhiều. Doi đất tân bồi Tùng Thiện ở cuối đê Như Tân một ngày bỗng trở nên tấp nập do một dẫy nhà sàn được dựng lên dựa vào mé đê trong, mặt hướng ra biển. Dẫy “phố” mới này bầy bán một số mặt hàng đặc biệt như xe đạp và phụ tùng như săm, lốp, vải vóc, bút máy, đồng hồ đủ loại, xà phòng, vải phin trúc bâu các mầu đậm. Thỉnh thoảng có những hàng đặc biệt được đặt tiền trước như thuốc tây, chì (!), dầu tây, thuốc lá thơm. Khi trời sụp tối, ngoài khơi xuất hiện những đốm lửa chập chời như ma trơi, chao đảo theo chiều gió. Không bao lâu, những đốm lửa tiến tới gần bờ mới thấy rõ những cánh buồm dần dần cuốn lại. Thuyền cập bến. Những cái thang từ trên bờ đê thả xuống, khách bên kia biên giới tấp nập leo lên. Lúc đó, các cửa hàng ở cái hải cảng “lậu” mới bắt đầu hoạt động. Gọi là “lậu” vì đối với cả bên Quốc Gia ở Như Tân cũng như “kháng chiến” ở Thanh Hoá, Ba Làng họ đều là những người làm ăn bất hợp pháp. Thế nhưng cửa khẩu này vẫn buôn bán tự do, sầm uất, chưa từng bị bắt hay giải tán.

Một lần được theo cha tôi xuống Tùng Thiện, tôi thực ngạc nhiên vì không ngờ nhà tôi cũng có cửa hiệu bán xe đạp và phụ tùng ở đây do anh Chiêu trông coi. Tôi cùng ông đi thăm mấy cửa hàng dọc theo bờ đê và rất vui vì có cả những cửa hàng của bố mẹ mấy thằng bạn học cùng lớp. Bọn tôi bất ngờ gặp nhau, thích thú vô cùng. Buổi tối, mấy đứa thổ công đưa tôi đi ăn bún riêu, trứng chiếu (hột vịt lộn), uống nước chanh, nói đủ thứ chuyện. Trong quán tôi cũng gặp khách phương xa, lén nhìn họ như nhìn một người hành tinh nào xuống đây…dù họ cũng là người Việt, nói thứ tiếng giống tôi. Sau đó, cha con tôi trở về hiệu xem anh Chiêu bán hàng. Tiền bạc trao đổi là tiền Quốc Gia vì những khách hàng này thường mang theo sản phẩm của họ ra bán như tôm cá khô, đay, gai (sợi), trái cây như bưởi, vải v.v

Giờ cao điểm, người đi lại trên đê nườm nượp. Đủ thứ gánh, gồng, xe đạp thồ ( xe đạp chế thêm tay vịn để dắt bộ, trên xếp nhiều hàng hóa). Tiếng nói cười, gọi nhau ơi ới. Hàng quà chen chúc khách phương xa. Ai mua xong hàng, đưa xuống thuyền, rồi thường nán lại vui chơi một thời gian. Sau đó thuyền họ lặng lẽ rời bến. Chừng mười giờ đêm, thuyền ra khơi gần hết. Đứng trên đê trông theo, tôi chợt nhớ bài thơ Thuyền Đi của Huy Cận:

    Trăng lên trong lúc đương chiều

   Gió về trong lúc ngọn triều mới lên

   Thuyền đi sông nước ưu phiền

   Buồn treo ráng đỏ vọng miền viễn khơi

   Trăng lên thuyền đã xa vời

   Người ra cửa biển nghe hơi lạnh buồn

   Canh khuya tạnh vắng bên cồn

   Trăng phơi đầu bãi, nước dồn mênh mang

   Thuyền người đi một tuần trăng

   Lòng ta theo nước trường giang lững lờ

   Ngó xem đôi mối đợi chờ

   Trông nhau bữa ấy, bây giờ nhớ nhau…

Ngày hôm sau, lúc chúng tôi đang ăn sáng, có tin nhà báo mẹ tôi trở dạ, sắp sinh cô út. Cha tôi dận dò anh Chiêu ít việc rồi vội vàng về thị xã. Tôi còn đang ham vui, muốn ở lại thêm mấy ngày. Cha tôi bằng lòng, nhưng chỉ cho hai ngày thôi. Khi cha tôi đi, mấy thằng bạn đã túc trực trước cửa đợi tôi. Bọn tôi xuống cuối phố gọi thêm vài đứa bạn nữa, rồi chúng nó đưa tôi về cống Bốn Thước, vào nhà ông trùm S ăn cháo vịt. Ông này hiện đang nuôi giữ hơn ngàn con vịt của mẹ tôi. Buổi chiều, cả bọn ra cống hóng mát và xem cửa ngoài cống tự động đóng lại vì mực nước trong sông quá thấp (gọi là nước ròng). Nhờ đó, nước biển không tràn được vào ruộng lúa, bảo vệ nguồn nước ngọn khỏi bị lợ.

Thằng Tiễn buột miệng:

–       Tao sợ đêm nay có bão, chúng mày ạ.

Tôi nghe mà giật mình vì đêm qua, có lúc lạ chỗ ngủ, tôi sợ cửa hiệu tôi lúc này bị gió thổi bật gốc thì tính mạng mình…đi về đâu, nên vội hỏi:

– Sao mày biết?

– Theo kinh nghiệm thôi. Mỗi khi có sóng lớn, nước biển dâng mau, là vì có gió mạnh ngoài khơi.

Kinh nghiệm. Người nông dân chất phác, ít học, nhưng dựa vào kinh nghiệm sống để xoay sở thế nào cho lợi nhất, bớt nguy hiểm nhất. Thấy tôi lo lắng, Tiễn cười nói:

– Dù có bão cũng đâu có sao. Mày sợ, chứ tụi tao quen rồi. Nếu chẳng may bão nổi, mày cứ ôm một cái cột nhà cho tao. Nhà bay, nhưng cây cột sẽ cứu mình.

Rồi chuyện bão cũng qua, tụi tôi bàn đến chuyện ngày mai đi Cồn Thoi bắt cua bể. Thằng Sinh khoe:

– Cua Cồn Thoi ngon gắt te te. Mày phải mang về nhà một mớ.

Chuyện đó tôi cũng biết vì cua bể miền tôi vừa lớn, vừa đậm gạch, có khi cợi cả mu lên. Đi thì phải có xe đạp. Tôi nhớ hiệu nhà tôi có bốn cái xe đạp cũ anh Chiêu cho thuê lấy tiền chợ. Tôi bảo tụi bạn:

– Hiệu nhà tao có 4 cái. Nếu đi năm đứa thì thiếu một.

Thằng Chu xua tay:

– Lo gì, nếu không thì mình đèo nhau vậy, có sao.

Bọn tôi ngồi tỉ tê nói chuyện cho tới khi con thuyền khách buôn cuối cùng rời bến, ánh đèn mất hút ngoài biển khơi, tụi bạn mới đưa tôi về nhà. Trước khi tạm biệt, thằng Tiễn nhìn trời, nói:

– Tao thấy gió đã mạnh hơn…lúc tối chúng mày ạ. Nhưng không sao.

Quả nhiên nửa đêm về sáng, bão kéo về thực. Gió rít từng cơn làm cả căn nhà như muốn bay bổng. Nước rào rào trên mái nhà, chảy ồ ồ qua khe thủng xuống sàn nhà. Anh Chiểu nằm cùng giường, tiếng bạt trong gió: “Đừng sợ, không sao đâu.”.

Tôi cũng yên trí phần nào, nhưng tay cũng bám chặt cây cột nhà ở đầu giường. Thằng Tiễn có lý. Nếu căn nhà bị thổi bay khỏi bờ đê, tôi sẽ bị đẩy xuống bờ ruộng, theo đà cây cột nhà, nó có thể khiến tôi rơi nhẹ nhàng hơn hoặc nếu bên đó sũng nước lụt, cây cột giúp tôi khỏi chết đuối. Anh Chiêu lấy thêm chăn, rồi chiếu đắp lên người tôi vừa để đỡ lạnh, vừa che kín tôi khỏi nghe thấy tiếng gào thét của biển cả, chỉ cách chúng tôi một mặt đường đê. Trang trại nhà tôi xa biển hơn cây số, không mấy năm mà không có bão hay cả lụt nữa. Nhưng chưa bao giờ, tôi có cảm giác cận kề với sự nguy nan, có thể mất mạng trong gang tấc nữa như lần này.

Gió tiếp tục rít quanh tôi, mưa ào ạt từng cơn, nước biển từng đợt, đổ ầm vào cửa ngoài, tràn tới chân giường, nhưng căn nhà không bị thổi bay, còn giữ được cái thân xác tàn tạ bảo vệ chúng tôi cho tới sáng. Mưa đã nhẹ, nhưng gió chưa dứt.

Trời sáng rõ, tôi ngồi dậy, tay buông cái cột nhà, ngồi  xem anh Chiêu thu dọn đồ đạc bị gió bão dời chỗ đi lung tung. Tôi chưa xuống đất thì đã nghe thấy tiếng đập cửa. Anh Chiêu hơi ngạc nhiên, chậm chậm đi ra hé cửa nhìn. Hóa ra thằng Tiễn. Nó khoác áo tơi, chạy bộ đến hỏi thăm tôi. Nghe anh Chiêu gọi, tôi lội nước đi ra.

Hai đứa gặp nhau, nó cười toét:

– Sợ chó gì bão, phải không. Mày ra đây mà xem.

Bên ngoài, trời rất u ám, nhưng gió mưa đã nhẹ, không đến nỗi phải sợ như buổi đêm. Bỗng nhìn sang mé ngoài của con đê, mực nước biển chỉ còn chừng vài tấc nữa là tràn bờ! Trời, Đêm rồi mà nó lên thêm một chút nữa thì không biết bây giờ tôi ở đâu!

Tôi không dám lên tiếng sợ hãi vì thấy thằng bạn thản nhiên nhìn mực nước mà không nói gì. Tuy vui vì thấy bạn lo cho mình, nhưng tôi nghĩ không thể đi đâu lúc này, nên bảo nó:

– Tao mệt và nhức đầu quá. Mày về đi, có gì chiều bớt mưa gió, tụi mình gặp lại.

Thằng Tiễn cười khì:

– Ừ. Nhưng mày đừng sợ, tao có kinh nghiệm như thế này không có sao đâu.

Lại kinh nghiệm. Tôi ừ hữ để nó về.

Quay vào trong nhà, tôi nói với anh Chiêu:

– Anh kiếm đứa nào nó đưa em về nhà đi. Em không thể ở đây nhìn mực nước biển dâng lên mấy phân nữa đâu.

Anh suy nghĩ một chút, rồi nói:

– Ừ, anh tìm người đưa em vào Như Tân.

Về được trang trại nhà tôi thì có mười bão như hôm qua, nước biển có lên mấy tấc nữa cũng không có sợ.

Anh Chiêu đưa cho tôi một cái áo mưa vải ny-lông vàng của người lớn, còn anh chỉ đội nón. Tôi theo anh tới Cống Bốn Thước. Chúng tôi đi trên đường đê trơn như mỡ, nhưng may là hai bên còn bờ cỏ dầy nên cũng không nguy hiểm. Gió không đến nỗi thổi bay người, nhưng nhiều lúc sóng biển tràn lên làm tôi sợ hết hồn.

Anh Chiêu đưa tôi vào nhà ông trùm L, người được mệnh danh là rái cá, có tài bơi lội và lặn sâu hơn người. Ngày xưa, đã có ông Phủ chúng tôi bị trùm L chơi một vố khá đau. Số là lần đó ông Phủ đi hộ đê (cứu đê lúc bị bão lụt làm vỡ), không những không thương dân bị tai nạn mà còn hạch họe bọn giữ đê. Trùm L đứng bên bờ đê, lên tiếng bênh vực nhau, giọng lưỡi hơi hỗn. Quan Phủ tức giận bợp tai một cái, theo đà đó, trùm L văng người xuống biển lặn mất tăm. Không thấy chồng về, vợ con kêu khóc. Cuối cùng ông Phủ phải bỏ tiền đền mạng. Thực ra gió bão chẳng thể hại được ông rái cá, vì ông đã lặn một mạch cách xa tầm mắt của quan Phủ cả nửa cây số. Chuyện này, làng tôi ai cũng biết.

Trùm L. thấy tôi, ông khá ngạc nhiên, nhưng nghe anh Chiêu nói, ông hiểu chuyện. Lập tức Trùm L cho anh con cả dùng thuyền đưa ngay tôi về Như Tân. Trưa hôm đó, tôi yên lòng ngồi ăn cơm canh bầu nấu tôm, cá rô kho với Chị Chiêu và mấy người nhà rất vui. Bên ngoài gió còn giật cho tới nửa đêm. Hôm sau trời quang, mây tạnh, tôi theo thuyền về thị xã với mấy chị bán cá tôm.

Đó là mùa Xuân năm 1952.

Cũng trong thời gian này, một anh  cháu ruột của cha tôi làm phó tỉnh trưởng. Mẹ anh ta chết sớm, anh được cha mẹ tôi và ông nội tôi nuôi ăn học hơn con ruột mình, nhưng tiếc thay anh ta lại không nghĩ như thế. Bốn năm sống trong vùng Quốc Gia, nhưng ‘bên kia’ vẫn giữ liên lạc với cha mẹ tôi, vì họ đều là những người từng quen biết với ông bà từ hồi kháng chiến. Nắm được cái yếu điểm này họ thường đi về nhà tôi và có thể dễ dàng uy hiếp gia đình tôi và ông cháu phó tình trưởng. Tất cả những biến cố hoặc những cuộc đột  kich của bộ đội bên kia vào ‘sec-tơ’ quân đội Pháp trên Trì Chính và các đồn lẻ của quân Quốc gia (tiểu đoàn 18) trong thời gian đó đều có sự hiện diện của họ tại nhà tôi, và  thường ba hoa, phô trương sức mạnh của họ (dù chỉ có thể giữ tới gần sáng sau một đêm tấn công bất ngờ). Có một điều đặc biệt là không bao giờ quân của họ có mặt chung quanh khu chúng tôi ở.

Trong gia đình tôi ngày đó, 2 anh trai lớn đang ở Hà Nội, tôi là đứa con trai lớn nhất, tuổi mười  ba, mười bốn. Mỗi lần những xừ T, xừ O…về là tôi phải mang sang nhà ông phó tỉnh tài liệu, báo Cứu Quốc, v.v . Mấy ông này có khi ở lại ăn cơm chiều  (thường là bốn giờ chiều), hoặc ngủ qua đêm. Nhà tôi  rộng, lúc nào cũng có vài tiểu đội lính Bảo Chính Đoàn đóng chốt. Buổi chiều họ thường chơi volley ball trong sân nhà tôi, nhưng  mấy ông ma này vẫn coi như không, trong khi nhà tôi hết sức lo lắng.

Lần cuối cùng, trước khi họ về tiếp thu theo hiệp định Genève chừng hai, ba tháng, xừ O dẫn tôi lên phố Phú Vinh. Tới một cửa  hàng bán vải. Hắn như khách hàng, hỏi bà chủ hiệu:” Bà có thuốc Cotab, bán cho tôi hai tút (gói 10 bao). Bà kia nhìn lên, rồi trả lời:” Ông có thể ngồi chờ chừng mười phút, tôi cho cháu nó về lấy cho ông”. Sau đó, xừ nói khẽ với tôi: “Mai mốt cha có sai lên đây, em cứ hỏi bà ấy như thế nhé.” Tôi tuy nhỏ, nhưng cũng hiểu đó là mật khẩu của họ với nhau. Nói xong hắn ta bảo tôi về.

Cho tới khi bên kia về tiếp thu thị xã sau những ngày vô cùng rối ren, nhất lúc không còn quân Pháp ở đây, cha mẹ tôi không hề bảo tôi làm cái việc giao liên này. Một trận ném bom phá hủy sec-tơ (căn cứ quân đội Pháp) cháy và nổ rầm rầm hai ngày đêm. Trước khi con tầu há mồm của Pháp chở số lính Pháp cuối cùng, nhân viên người làm cho chính quyền Quốc Gia và những gia đình được họ bảo lãnh, nhổ neo đi vài ngày, cha tôi có sai tôi sang bên ông cháu phó tỉnh xem anh ta có thể đưa gia đình tôi xuống tầu đó được không. Nhưng khi sang tới nhà anh, cửa  đóng then cài, gia đình này đã đi khỏi từ mấy hôm trước rồi! Tôi từng thắc mắc là không biết ‘người anh họ thân thiết’ của tôi có nghĩ việc để mặc cho bên kia đi lại (mà không tố cáo!) là sự bất đắc dĩ  của chúng tôi để có thể che chở cho anh, cũng như cho chính chúng tôi.. Sau này tôi có hỏi, cha tôi nói cũng chỉ là phổ biến mấy tờ báo, ít tài liêu học tập chứ chẳng có gì quan trọng như bắt anh cung cấp những tài liệu mật, những kế hoạch của chính quyền Quốc Gia. Nếu họ coi chúng tôi  còn là ‘đồng chí’ thì ngay khi thắng trận Điện Biên phủ, họ đã hồ hởi liên lạc với chúng tôi, hay ngược lại, nếu cha mẹ tôi còn muốn theo họ thì đã dùng địa chỉ giao liên trên phố. Điều này chứng tỏ sau thời gian dài liên hệ với cha mẹ tôi, họ đã thấy được ông bà chẳng cùng chiến tuyến với họ như xưa nữa, nên chỉ lợi dụng sự non gan của chúng tôi để lấy nơi đi về mà thôi. Tôi chắc chắn thời đó, ngoài chúng tôi ra, họ không thiếu gì những tổ giao liên khác. Nhà tôi có dám đi tố cáo họ cũng bằng thừa. Một thí dụ điển hình của một thằng đặc công tên Tâm. Tên này gài mìn cho nổ sập cây cầy xi măng trên quốc lộ số Mười giữa hai phố Thượng Kiệm và phố Trì Chính. Đêm hôm đó, xừ O đang ở nhà tôi. Chừng  mười giờ khuya, nhà chưa ai đi ngủ. Bọn trẻ vừa học bài xong, mẹ và hai chị tôi còn ngồi đan áo lạnh. Nghe thấy tiếng nổ rầm, hắn cười vui, cho biết cây cầu Trì Chính đã bị đặt mìn. Mấy hôm sau, Deuxième Bureau của Pháp bắt được thằng đặc công, giao cho công an Quốc Gia giam giữ. Trước hôm thằng này bị đưa lên Nam Định khai thác thì xừ O lại cũng xin ngủ tối ở nhà tôi. Rồi vào lúc khuya, một tràng súng vọng từ xa, hắn thở dài, nói:

– Chú Tâm vượt ngục, bị công an bắn chết lúc đang leo tường rào ra ngoài.

Chúng tôi chẳng ngạc nhiên khi nghe hắn nói. Về sau, chúng tôi được hắn cho biết thêm là nếu để thằng Tâm tới Nam Định, bị Tây khai thác, có thể các đường dây của bọn họ sẽ bị lộ hết nên người của chúng ở trong nha công an thực hiện một cuộc vượt ngục giả để thủ tiêu nghi phạm, qua mặt tụi Pháp. Đêm đó, Tâm được cho biết là bọn chúng cho Tâm trốn tù, chỉ chổ tường thấp để nó leo qua. Khi tên này lên tới bờ tường thì bị bắn chết.  Đó là tình nghĩa đồng chí của Cộng Sản!

Một lần khác, lính Bảo Chính Đoàn đóng chốt dưới bếp nhà tôi, trong đó có mấy anh hồi cư từ khu Tư ra được ai đó bảo đảm vào đơn vị này. Một vài tuần, có máy bay thả dù trên sân bay Ngô gia Lễ tiếp tế cho quân đội Pháp trên “secter”. Thường những cánh dù này nhiều mầu, rất đẹp, nên ai cũng đổ xô tới vườn sau nhà tôi xem. Hôm đó, xừ O đang ở nhà tôi, cũng theo bọn trẻ ra xem. Bất ngờ, tôi thoáng nghe thấy anh chàng Đ, dân hồi cư nói khẽ với một người đứng cạnh:”Tên cán bộ gộc kìa”. Hết thả dù, tôi nói với cha tôi chuyện vừa rồi, ông nói với xừ O :”Chết chưa, xẩy chuyện to rồi”. Xừ O bình tĩnh nói tôi mời anh Đ lên nhà tôi chơi. Anh Đ thân với chúng tôi, đi ngay. Xừ O đưa anh Đ vào buồng trong. Một lúc sau, hai người đi ra.  Anh Đ mặt bối rối ra về quên cả chào mọi người. Hôm sau, trước khi đi, xừ O đưa cho tôi một lá thư dán kín, nhờ chuyển cho anh Đ. Mẹ tôi không chịu cho tôi nhận. O lấy lại, vui vẻ như không có chuyện gì. Mấy hôm sau, Đ bỏ đi đâu mất. Sau này gặp lại anh tại Sài gòn, tôi hỏi anh về vụ anh bỏ PD đột ngột, anh nói  lá thư không biết ai để trong túi áo của anh, vì thế, anh phải vội đi Nam Định ở nhờ một thân nhân.

Gần một tháng sau khi bên kia về tiếp thu thị xã, gia đình tôi về Như Tân sống ít ngày, tránh những nhiễu nhương của buổi giao thời. Khi gọi cổng, hai con chó, một mực, một vện từ trong phóng ra chặn đường chúng tôi, sủa inh ỏi. Lúc đó, tôi mới nhớ là gần một năm rồi, chúng tôi không trở về đây nên một thế hệ chó đã qua, con này mới xa lạ với chúng tôi như thế.. Ba bố con ông Lễ, một đứa trai tên Dần, một đứa gái tên Nhị coi nhà còn đó, nhà trên vẫn khóa cửa như khi chúng tôi không có nhà. Tuy nhiên, cây cối hoang sơ, trong vườn hoa không còn những cây thược dược, hoa hồng mà cao lên và phủ kín bởi đủ thứ cỏ dại. Một sự việc chúng tôi biết từ lâu, nhưng bây giờ mới thấy là mấy chục cây cau cỡ lớn, rất sai trái của chúng tôi đã bị lính Lể-dương chặt hết để ‘kè’ làm tường vây quanh doanh trại. Hơn mười hôm sống ở Tân Minh Trang như quên hết mọi chuyện, cách biệt hẳn với tình huống hiện tại, khiến chúng tôi cảm thấy rất hạnh phúc. Sáng ra, cha mẹ tôi ung dung ngồi uống trà, sau đó ông mang dao rựa ra vườn cắt tỉa cây cối như xưa. Mấy anh em tôi vui chơi với đám con cái người làng. Thằng Hoàng, thằng Tảo chờ đưa đi câu cá, bắn chim. Buổi chiều, lên sân thượng nhìn khắp cánh đồng chung quanh nhà, nhớ biết bao những buổi chiều xưa, anh chị em chúng tôi thường cùng nhau đi bộ ra tới sáu đạc hay 12, có khi 24 để hóng gió, nghe những âm thanh xao xác của chiều tà, xem từng đàn vịt trời, két, mòng đáp xuống đồng kiếm mồi. Một cục đất ném xuống là chúng hoảng hốt vụt bay lên ào ào. Đứng trên sân này, có những buổi trưa trời trong, chúng tôi trông thấy cả tầu chiến, thuyền mành lớn đi lại trên sông Vạc, từ Kim Đài về hướng Trì Chính hay ngược lại. Hôm nào có gió bấc thổi, chiều nghe được cả tiếng chuông tắt đèn (đó là cái lệ từ xưa cứ tới bảy giờ tối chuông đổ một hồi, trong nhà xứ tắt đèn) trên phương đình nhà thờ Phát Diệm cách đây chừng sáu bẩy cây số. Ruộng xanh vẫn bát ngát nhưng không biết ai đang cầy cấy trên ruộng nhà tôi, thực tôi không biết, và cũng không dám hỏi cha mẹ tôi, sợ động tới nỗi thương tâm của các cụ (2).

Buổi sáng sớm, ánh hồng vẫn dâng lên từ phương đông, nhưng vuợt qua  hồ sen, tới lũy tre bên  tây của trang trại, giáp với nhà ông trùm O, vì cả khu nhà ngang, bếp, chuồng trâu, nhà cầu đã sụp đổ từ hồi nào, chỉ còn trơ cái nền và những chân cột bằng đá lẫn trong những dây bí, khoai lang ông Lễ cấy một ít để ăn.

Mấy người làng thân cận với cha mẹ tôi ngày trước mang cá, tôm, trứng tới biếu, nói chuyện vui vẻ. Cho đến một buổi tối, bọn anh T, trùm K sang nhà tôi báo tin mật là Tân, tên hộ vệ của cha tôi ngày trước, hiện đang làm chủ tịch làng Như Tân, sắp trở về làng. Lúc đó, chúng tôi mới sực thấy lại hoàn cảnh hiện tại. Cha tôi nghĩ ông chẳng việc gì phải tránh nó. Mẹ tôi cẩn thận hơn, cho là không thể tiên liệu được hành động của bọn người bên kia. Có thể thằng Tân còn chút tình với cha tôi. Nhưng nếu chẳng may vì lệnh trên, nó có thể bắt cha tôi, như một khuôn mẫu, mang ra đấu tố ông (dù có là bố nó, nó cũng không dám tha), như người anh họ tôi trên thị xã, sau nửa tháng bọn họ về, đã bị tố khổ về tội được Tây cho chặt một cây đa duy nhất có bóng mát cho dân khi đi lại, mặc dù nó đã chết khô từ lâu. Những vụ như thế rất cần thiết để nhà cầm quyền mới ra oai cũng như thực thi chính sách Cải Cách Ruông Đất của chúng. Mấy anh người làng cũng nghĩ như mẹ tôi (họ cũng thông minh thực). Vì thế, mấy anh về ngay, sửa soạn thuyền bè để sớm hôm sau chúng tôi rời Tân Minh Trang.    Nhà cửa lại giao cho ông Lễ coi sóc, và không ngờ đó là lần cuối cùng chúng tôi trở về nhà xưa mà còn được tôn trọng như chủ nhân của nó.

Về thị xã, một xã hội mới mở ra, sinh hoạt theo tiếng loa phóng thanh chạy trên đường phố. Mấy giờ sáng bị gọi dậy, mấy giờ nghe tin tức, thông báo mấy giờ phải di tản khỏi thị xã vì sợ máy bay Pháp trở về bắn phá (thực ra không bao giờ có chuyện này vì ‘bên này’ thực hiện đúng hiệp định đình chiến); mấy giờ chiều được trở về nhà, mấy giờ phải đi dự các buổi khai hội v.v. mấy giờ đêm không được ra ngoài đi lại (thiết quân luật). Luật lệ này có thể bị thay đổi  hàng ngày. Các hiệu buôn hầu như đều đóng cửa, chỉ còn lẻ tẻ mấy hàng bán nước, một khu chợ nhỏ bên mố cầu Ngói bán rau quả, nước mắm, gia vị nấu ăn. Tiền ‘cụ Hồ” đã bắt đầu có, nhưng tiền Đông Dương (tiền quốc gia) vẫn còn được dùng và có giá trị hai mươi lần lớn hơn ( 1 đồng ăn 20 đồng tiền cụ). Những buổi khai hội cho từng đoàn thể, bắt đầu bằng chào cờ, mặc niệm, rồi một số màn văn nghệ (ca hát, kịch xiếc, ảo thuật) và thường kết thúc bằng bài học chính trị hoặc một màn đấu tố (do bọn địa phương tố cáo). Những người không có liên can tới chế độ cũ và trẻ em thường tụ tập ngoài sân bay Ngô Gia Lễ vào buổi tối để xem chớp bóng (Cinéma), thường là phim tuyên truyền, của Liên Xô như Năm 1919 Bất Diệt, Đoàn xiếc Liên Sô, Hoa Thủy Tinh, của Tầu như Người Thép, Múa Lụa…nhưng mỗi người vào mất 20 đồng ‘cụ’. Chủ đích rõ rệt là họ muốn mọi người phải bận rộn với sự sinh hoạt được họ nắm giữ, người bản địa, đặc biệt dân Công Giáo, không có thì giờ tụ họp, chống đối những chính sách của họ. Một điều không ngờ là họ giấu biệt một điều khoản rất qua trọng trong Hiệp Định Genève là tất cả mọi người Việt Nam có toàn quyền chọn nơi sinh sống “miền Bắc”  với chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (nghe hay lắm) kể từ sông Bến Hải trở ra Bắc hay chính thể Quốc Gia Việt Nam từ bờ Nam sông Bến Hải vào tới mũi Cà Mâu trong Nam. Không bên nào được phép tước bỏ quyền chọn lựa này cũng như cản trở sự di chuyển của họ. Không biết từ đâu, tin này được đồn thổi giữa các người thân quen.

Trong lúc đó, cha mẹ tôi chưa biết phải sống ra sao, và nhất là làm gì để sống. Ông bà cũng không đồng ý với nhau là gia đình sẽ ở đâu.  Mẹ tôi chọn Phát Diệm, nhưng cha tôi lại muốn về Như Tân ‘để làm ruộng như xưa’. Cha tôi càng quyết đáp sau khi ông đã lén chúng tôi về Như Tân một ngày.  Ông còn khoe bọn thằng Tân nghe tin ông về, đứa nào cũng có xe đạp mới toanh, mang rượu và đồ nhắm tới chúc mừng ông đã trở lại làng. Tân nói thầy cô (từ này dân làng thường dùng xưng hô với cha mẹ tôi) cứ về, lo việc cầy cấy như xưa, chúng con rất hoan hô.  Mẹ tôi nhắc lại ý nghĩ  người đầu tiên bị tố khổ phần chắc là ông vì cái gương ông T.H. bạn cha tôi ở Thanh Hóa bị hành tội dù chẳng có tội gì, vợ con phải sống ở chuồng trâu nhà mình  tới nay.

Mấy anh T, trùm K biết cha tôi về, nhưng không dám công khai gặp ông. Họ biết cha tôi sẽ sang thăm trùm O, người từ xưa vẫn là phên dậu của cha mẹ tôi, vì nhà ông ở sát bên. Nhờ đó họ nghe được tin về cuộc di cư vào Nam.

Một người buôn chượp là nước muối cá để làm nước mắm chở từ Thanh Hóa ra nhưng không ai mua. Me tôi biết, bà tới hỏi chuyện rồi mua với một giá như đổ đi. Mẹ tôi về làm dâu họ Vũ từ ngày bà nội tôi còn sống, cách đây gần hai mươi năm, học được cách làm nước mắm. Bà bỏ ra một tuần lễ để nấu được hơn mười thùng sắt đựng dầu tây (dầu hôi) nước mắm, từ loại ngon nhất để ăn sống tới loại vừa vừa để tra nồi. Chỉ trong một thời gian ngắn, bà đã bán được hơn nửa, gỡ vốn và còn lời khá nhiều.

Người về làm chủ tịch lúc đó là một người làng, có chút tình nghĩa với mọi người cùng quê hương. Lúc tình thế tranh tối tranh sáng, dân có đạo rất cực đoan, nên thời gian đầu ông áp dụng luật pháp một cách uyển chuyển hoặc còn che dấu phần nào cho chúng tôi trước bọn công an lộng hành. Ông làm cho ‘bên kia’ trong bóng tối từ lâu, vợ con vẫn tự do sống giữa chúng tôi không một nghi kỵ. Anh con trai út hiện là một bạn học cùng lớp thân thiết của tôi. Thấy mẹ tôi nấu được nước mắm bán, ông khuyến khích mẹ tôi tiếp tục, nhưng lần sau phải khai báo và đóng thuế. Gia đình ông chiếm căn phố ngày trước của gia đình ông tỉnh trưởng Ninh Bình, cũng là người địa phương chúng tôi. Hơn ba mươi năm sau này bắt được liên lạc với anh, người bạn tôi nói khi ông bố nghỉ việc, chính quyền lấy lại căn nhà đó, và gia đình anh bạn tôi phải về sống nơi một căn nhà nhỏ trong một đường giong vắng vẻ, tiêu sơ cho đến ngày nay. Riêng anh bạn tôi được học đến tú tài, về dậy học ở quê nhà được mấy năm, rồi bị điều đi làm công tác văn hoá một thời gian không lâu, anh phải về hưu non lúc chưa tới tuổi bốn mươi!

Chuyện ‘di cư’ chỉ ‘hé ra một nửa’ khi chính quyền địa phương phát động phong trào tố cáo bọn ‘mẹ mìn Ngô đình Diệm’ dụ dỗ người Bắc vào Nam. Người nào bị tố cáo sẽ bị bắt giam. Việc này trắng trợn vi phạm Hiệp Định Genève, mà chúng tôi không hay. Nhưng chính nó đã cho chúng tôi biết trong Nam mới có vị Tân Thủ Tướng là Ông Ngô Đình Diệm con cụ Ngô Đình Khả và đang có phong trào đưa người vào Nam. Cha tôi nói ông Diệm đã từng từ chức Thượng Thư Bộ Lại thời vua Bảo Đại vì bất đồng chính kiến với thực dân Pháp. Tuy nhiên, cha tôi nghĩ Quốc trưởng Bảo Đại chỉ là bù nhìn của Pháp nên đâm ra nghi ngờ cả chính phủ của ông thủ tướng mới.

Việc di chuyển từ làng, huyện, tỉnh đều bị kiểm soát chặt chẽ. Ngày chúng tôi đi thuyền về Như Tân, một khúc sông chưa tới tám cây số mà có tới bốn trạm kiểm soát, huống chi đi vào trong Nam.

Giữa lúc hoang mang đó, một buổi tối, một người quen tới thăm chúng tôi. Bà mới từ Hà Nội về, nói có gặp ông anh áp tô,i nhờ bà nhắn gia đình tôi làm cách nào có thể lên Hà Nội, rồi ai cũng được chính phủ Quốc Gia đưa vào Sài gòn lập nghiệp dưới chính thể Quốc Gia tự do không sộng sản.

Cả đêm hôm đó gia đình tôi rất hoang mang, không ai ngủ được.

Cha tôi nói tới sản nghiệp của mình, của ông cha để lại, bỏ theo thực dân Pháp, bọn xưa nay ông rất ghét,  nên giùng giằng chưa muốn đi.

Mẹ tôi thì tin chắc, còn ở lại với chính quyền cộng sản, dù cha mẹ tôi chưa từng đè đầu bóp cổ ai, mà chỉ là địa chủ thôi cũng dủ để bị đấu tố, tước đoạt mọi tài sản. Vì thế bà nhất quyết đi để tìm một cơ may, dù có nghèo khó!

Đám người thân thiết với chúng tôi dưới Như Tân sau khi gặp cha tôi, họ rất phân vân. Ít lâu sau, đã cử anh T lên thị xã thăm và hỏi rõ về vụ vào Nam Bộ. Mẹ tôi động viên tinh thần họ, nói là cứ ra tới Hà Nội hay Hải Phòng sẽ được đưa vào Nam, tránh phải sống dưới ách cộng sản vô thần. Điều cuối cùng rất hệ trọng đối với một người ‘có đạo’.

Nam Định cũng đã bị tiếp thu. Đã có ca-nô bắt đầu chạy đường Hà Nội, Phát Diệm, nghỉ qua một đêm tại bến tầu Nam Định.

Chiều chiều cha tôi ra bến tầu đón những người quen hỏi đường đi nước bước. Theo người ta, đường xa như vậy không thể trốn được. Không có đường bộ nào vì tỉnh Ninh Bình vẫn còn là bãi đất hoang vu. Ngay tuyến đường sông như bây giờ, phải qua cả chục trạm gác, bị chúng xét hỏi kỹ càng, ca-nô và hành lý của khách bị khám rất tỉ mỉ. Chỉ có ba loại người được cho đi là cán bộ, người có thông hành buôn bán và những người từ tỉnh về quê hay thăm thân nhân. Bất cứ vật gì mang theo, nhất là xe đạp, đồng hồ, bút máy, đều bị định giá và phải đóng thuế rồi mới được mang theo. Xe không có giấy tờ sẽ bị tịch thu.

Cha tôi coi bộ không quan tâm lắm, kể xuôi với mẹ tôi, rồi không biết phải làm gì nữa. Mẹ tôi suy nghĩ mấy ngày, sợ ‘rút giây động rừng’, nhưng cuối cùng phải quyết định. Bà nói với cha tôi:

– Mình sang ông chủ tịch xã xin giấy đi Hà Nội thăm chúng nó đi (hai ông anh tôi đang học ở Hà Nội).

Cha tôi ngần ngừ:

– Chưa thấy ai xin như mình, nhỡ không được, nó lại nghi ngờ mình theo mẹ mìn Ngô Đình Diệm thì chết cứng.

Mẹ tôi cương quyết:

– Mình cứ sang đi, thì mình chẳng có con ở Hà Nội là gì. Bắt bẻ cái gì.

Cuối cùng, cha tôi chịu đi. Nhưng mẹ tôi lại trao thêm gánh nặng:

– Ông xin luôn cho mấy thằng con trai cùng đi…

Cha tôi lại giẫy nảy:

–  Trẻ con biết gì mà xin đi.

Ngày đó, tôi chưa tới mười sáu tuổi nên tôi và hai thằng em chắc không cần thông hành, nhưng xin đi theo không biết có hợp lý hay cần thêm giấy tờ gì không. Cuối cùng, cha tôi miễn cưỡng sang phố gặp ông chủ tịch làng.

Rồi ra, ông chủ tịch cũng khá biết điều, không những cấp giấy cho cha tôi đi Hà Nội, kèm theo chứng nhận tôi và hai chú em chưa đến tuổi cấp giấy, nhưng được đi theo cha tôi. Thực giấy tờ hành chánh đó không ai làm như vậy, nhưng trong lúc tranh tối tranh sáng, có nó còn hơn là mỗi khi tới trạm kiểm soát lại phải giải thích, nhưng chắc gì đứa nào cũng nghe xuôi tai, nó mà giữ lại thì rầy rà to.

Mẹ tôi đã có chủ đích, dặn tôi nói mấy anh phải giữ cha tôi ở lại. Bà, ông anh rể, hai chị và hai đứa em gái sẽ trốn lên sau. Ngày bố con chúng tôi xuống ca-nô, trong thâm tâm tôi, là cảnh biệt ly đúng nghĩa. Nếu vào Nam chuyến này, biết bao giờ trở lại quê nhà! Con tầu nổ máy, quay mũi. Trên bờ mẹ tôi , các chị và hai ông bà chú họ của chúng tôi ra tiễn, đứng mãi trông theo. Tay tôi còn cầm xâu bánh giò và cái giò lụa còn nóng của bà thím cho để ăn đường.

Đây là lần đầu tiên tôi ra khỏi quê hương quê mùa. Ca-nô đi qua những địa dang từng nghe, nay mới thấy như Bến Xanh, Bến đò Mười, và nhất là thành phố Nam Định. Vì phải qua nhiều trạm kiểm soát, sáu giờ chiều, tầu tới thành phố này. Ba bốn ca-nô đậu sát bờ, chúng tôi phải lên, tìm chỗ nghỉ qua đêm, sáng mai mới đi Hà Nội.

Thành phố Nam Định lúc này xơ xác, phố xá vắng hoe. Trời còn sớm, cha tôi thuê xe xích lô cho chúng tôi đi một vòng từ Phố Khách tới nhà thờ lớn, nhà máy sợi v.v Nơi nào ông cũng nói không còn được như xưa, sau thời gian ‘bên kia’ tiếp thu chưa được năm tháng. Anh đạp xe cũng nói như thế. Khi biết chúng tôi đi Hà Nội, anh ta bàn từ đây, đi thẳng lên Phủ Lý bằng xe xich lô, qua phà là có xe chạy qua đêm lên Hà Nội, cần gì phải mất tiền ngủ lại Nam Định.

Cha tôi hơi ngần ngại. Cuối cùng anh xích lô đạp xe đưa chúng tôi ra bến xe để thấy rõ tình hình. Tới nơi, quả thực tại đây rất ồn ào, nhộn nhịp. Khách và phu xe gọi nhau ơi ới. Cha tôi cẩn thận xuống xe đến hỏi mấy người khách đang đứng ở dưới phố. Quả anh phu xe nói đúng. Lúc đó, chúng tôi thuê anh chạy luôn. Thế là từ bến xe cả hơn mười xe xich lô cùng lên đường đi Phủ Lý.

Đầu thu, đi xe ngoài trời đã cảm thấy hơi lạnh. Anh phu xe chở bốn bố con. Cha tôi và chú em nhỏ ngồi trên nệm, tôi và chú em kế ngồi dưới bàn để chân, Anh phu xe không phàn nàn, anh khỏe thực, đạp xe như bay, theo kịp với cả đoàn xe. Đêm sáng trăng, trời trong tuyệt đẹp. Đường nhựa khá tốt, xe đi êm ả. Thỉnh thoảng tôi cũng chợp mắt được một lúc.

Tới sông Phủ Lý, cây cầu đã gẫy gục từ nhiều năm, mọi người phải sang sông bằng đò ngang.

Bến xe bên kia ồn ào gấp mấy lần bến Nam Định. Các lơ xe đón trên bờ. Khách vừa cập bến, họ nhào xuống xin xách đồ lên và mời đi xe đò của họ sắp khởi hành đi Hà Nội. Cuối cùng, gần sáng, đoàn xe khách phải dừng lại ở Tía. Sáng hôm sau, cây cầu trước mặt cũng đã gẫy đổ, hành khách được hướng dẫn phải đi qua một đoạn đường vòng dưới ruộng khô, sang bên kia, tới bến xe trong sân một ngôi chùa cổ, để vào thành. Sát bên chùa, có đồn kiểm soát của quân đội Pháp là một dẫy nhà thấp có hàng rào kẽm gai chung quanh, trong sân, một cột cờ có lá cờ Pháp khá lớn, phấp phới bay. Chúng tôi vui mừng (!) đã ra khỏi quyền kiểm soát của Việt Minh!

Bước đầu tiên tới Hà Nội, chúng tôi tạm trú tại cửa tiệm thuốc bắc của ông ngoại tôi ở phố Hàng Bột. Sau đó hai anh tôi đưa mấy đứa nhỏ về sống trong gian nhà nhỏ ở phố Hàng Cháo. Cha tôi được giải thích mọi chuyện về việc di cư vào Sai gòn, nên ông yên tâm ở lại.

Chuyến trốn khỏi quê hương của mẹ tôi đi Hà Nội vất vả hơn nhiều. Nếu mẹ tôi có sang ông chủ tịch xã xin đi thăm con chắc chắn không được vì cha tôi đã được đi, nhưng chưa về. Vì thế, bà phải bí mật ra ngoài bến tầu tìm những người về xem ai có loại thông hành dùng được để đi Hà Nội, chịu bán, bà sẽ mua. Cuối cùng, bà mua được một thông hành buôn hàng xách có thể đi khắp nơi đã được tiếp thu với gíá hai trăm Đông Dương. Chị này buôn ngũ cốc như khoai, sắn, lạc từ miền quê ra tỉnh. Me tôi thừa biết chị ta có đi cả năm, ba chuyến cũng chẳng được lời bằng đó. Hơn nữa, tờ thông hành cũng sắp hết hạn. Để yên lòng mẹ tôi, chị ta còn nói bến xe Phủ Lý, nhất là về đêm, chuyến tốc hành tới Văn Điển, biên giới vào Hà Nội, không bị ai hỏi giấy tờ nữa. (Chị ta nói đúng, kinh nghiệm, đi đường bộ ít bị xét hơn đường thủy).

Sau mấy đêm suy nghĩ, mẹ tôi cần phải đưa theo hai đứa em gái của chúng tôi, một lên ba, một lên sáu. Nếu xuống tầu, cách nào nói cho xuôi, chưa nói tới chẳng may gặp mấy tên công an quen mặt, không ưa mình, có thể bị tố cáo dùng giấy tờ gỉa ngay.( nhiều người địa phương đã được tuyển làm công an cũng vì lý do này). Cuối cùng, mẹ tôi tìm lại chị nhà buôn hỏi han, may mắn chị ta chỉ cho bến đò dọc từ đây tới một khu gần bến tầu Nam Định, sau đó, đi bộ tới bến xe lên Hà Nội cách đó chừng nửa cây số.

Ngày ra đi, mẹ tôi dặn hai chị tôi ở nhà, sửa soạn sẵn, khi có giấy tờ gửi về là phải đi ngay. Mẹ tôi nghĩ mãi xem mang theo hàng gì cho chuyến đi buôn này. Cuối cùng bà đưa đi ba bao lạc củ còn nguyên vỏ, nhưng đã phơi khô. Món hàng lớn, nhưng nhẹ hơn khoai, sắn v.v. Xuống thuyền máy lúc hai giờ chiều tại bến tầu cũ bên kho hàng bà Lâm Tề ngày xưa, đối diện với bến tầu chính bên kia sông Trì Chính, nơi chợ Năm Dân. ( sông rộng chừng hơn một trăm mét).

Mẹ tôi ra khá sớm, ghe máy có chừng hơn mười chỗ ngồi. Hàng để cả trên mui. Mẹ tôi cho tiền lơ đò để một bao sát chỗ mẹ tôi ngồi có thể che khuất hai cô em tôi, bà luộc một rổ lạc, cho hai đứa xuống thuyền trước ngồi ăn. Lúc thuyền nổ máy chân vịt, công an tới sát mũi thuyền kiểm soát giấy tờ. Mẹ tôi từ trên bờ mới bước xuống trình giấy. Nếu chẳng may hắn trông thấy các em tôi đang ngồi ăn lạc, có hỏi thì lơ xe sẽ nói là con ai đó để bà tránh bị nghi ngờ đi buôn mà còn đeo con nhỏ. Chuyện mẹ tôi sắp đặt như vậy, may không phải làm gì vì cũng qua mặt được công an.

Không ngờ đò máy lại chạy chậm thế, mãi tới tám chín giờ tối mới cập bến. Ở đây cũng có ánh đèn leo lắt của một vài hàng quà bên đường, nhưng không có chỗ ngủ qua đêm. Bà không dám ngủ dưới đò vì nghe nói công an thường kiểm soát vệ sinh về khuya, nhưng cũng có thể kiểm soát khách hàng. Cuối cùng, chị đi buôn mẹ tôi làm quen dưới đò dẫn ba mẹ con vào tá túc trong một ngôi chùa nhỏ gần bến đò mà chị ta quen. Mẹ tôi cúng dường năm trăm đồng “cụ” qua đêm đó.

Sáng hôm sau, mẹ tôi cho chị bạn hàng năm trăm để nhờ đưa ba mẹ con ra bến xe đi Hà Nội. Chị này gửi đồ tại chùa, cùng một thanh niên chuyên bốc vác tại đây đưa ba bao lạc ra bến xe. Nhờ đó sau khi ăn sáng,  mười giờ ba mẹ con đã ngồi trên một chuyến xe đò đi Phủ Lý. Mẹ tôi cẩn thận, cũng mua anh lơ xe để có thể qua mặt công an các điểm kiểm soát, giống như anh lơ đò hôm trước.

Tuyến đường Phủ Lý, Hà Nội có lẽ sợ Ủy Hội Quốc Tế Đình Chiến nên không có kiểm soát dọc đường dù họ biết có những khách hàng là dân di cư. Mẹ tôi hứa anh lơ xe giúp bà thì 3 bao lạc bà sẽ cho anh. Tuy không gì xảy ra, mẹ tôi vẫn giữ lời và được anh hướng dẫn tới bến xe đi Hà Nội.

Cuối cùng, ba mẹ con cũng tới được Hà Nội bình an. Lúc đầu, mẹ tôi tưởng cái thông hành buôn bán đi được dễ dàng hơn, vì không bị nghi là dân di cư, cùng phe với công an. Nhưng dáng người mình đóng vai người buôn bán ngược xuôi thiếu nét phong sương, kèm theo những xét hỏi về hàng hóa, có con nhỏ đi theo, nếu không cho tiền lơ xe cũng không yên tâm.

Lúc này, ở đâu cũng biết rõ việc di cư là điều khoản mà cả Pháp lẫn Việt Minh phải tôn trọng. Bất cứ ai, lên được các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng là Ủy Ban Di Cư giúp phương tiện máy bay hay tầu thủy không mất tiền vé để vào sinh sống ở miền Nam dưới chế độ tự do do ngài Bảo Đại làm Quốc Trưởng và thủ tướng là ông Ngô Đình Diệm.

Một lần ra chợ trời trên đường Quang Trung về, mẹ tôi nẩy ra ý kiến buôn đồ gỗ cổ như sa lông Tầu, tủ kinh, sập chân quì từ quê tôi ra Hà Nội bán, ngoài chợ người ta nói hàng này đang rất đắt khách. Kể cũng rất lạ, ai đang sửa soạn di cư thì cứ sửa soạn cho kịp chuyến bay, ai ở lại lại ung dung có dịp sắm sửa cho những ngày sống trong tương lai. Có một lý giải tạm nghe được là những người này còn nhiều tiền Đông Dương sợ sau này không có chỗ tiêu hoặc sẽ mất giá dưới chế độ mới nên mua đồ vào để tài sản đỡ bị thiệt thòi.

Mẹ tôi mua được giấy thông hành từ nhửng người di cư ra Hà Nội một cách hợp pháp. Ông anh áp tôi dùng thuốc Corrector tẩy tên cũ, điền tên mẹ tôi vào, tụi công an ngố chưa biết mánh này.

Tiền Đông Dương mang về quê, lén đổi cho những người sắp di cư giá rất hời. Vì thế, những đồ gỗ mua được giá thành khá rẻ. Mẹ tôi cứ thuê người đưa những đồ gỗ này ra bến tầu là có những tài công được móc nối trước, họ sẽ xếp hàng cho mình. Tới Hà Nội, họ bốc lên kho và báo tin cho mình. Bà chị dâu mới giúp mẹ tôi tìm mối bán và cho hãng chuyên chở đưa tới nơi khách mua. Những chuyến đầu lời khá nhiều.

Một lần về quê, mẹ tôi có được ba cái giấy thông hành, tẩy xóa tên cũ, điền tên hai chị tôi và ông anh rể để chuyến buôn này đưa họ đi luôn vì ngày Việt Minh tiếp thu Hà Nội đã gần kề.

Đêm đầu tiên ở quê, mẹ tôi ngủ tại nhà bà dì tôi trên phố. Hai chị em nằm giường Hồng Kông, nhưng đầu giường có cửa sổ, mở ra cho thoáng khí. Qua đêm, kẻ trộm từ ngoài khều được chiếc ví của mẹ tôi. Sáng hôm sau, chiếc ví được để lại với giấy tờ tùy thân, hai ngàn tiền Đông Dương và mấy tờ thông hành bị lấy mất. Chuyến đó, mẹ tôi phải vay tìm mua hàng.

Trong lúc cần thu thêm tiền bán đồ, mẹ tôi tạm chưa đi. Ông cậu tôi thấy ham, cũng kiếm tiền buôn một chuyến. Về tới quê, ông cũng ở nhà bà dì tôi. Trong mấy ngày đi tìm mua hàng, ông bị công an tới nhà, thông báo 8 giờ sáng ngày hôm sau lên văn phòng chủ tịch tỉnh có việc. Ông cậu tôi sợ sốt vó, vì thông hành cũng là thứ mua lại. Sáng hôm sau, cậu tôi nghĩ không thể không đi vì chắc chắn nó đã có người theo dõi mình.

Văn phòng chủ tịch tỉnh cũng là văn phòng tỉnh trưởng thời Quốc Gia. Ông cậu ngồi chờ ở bên ngoài từ tám giờ sáng tới gần mười hai giờ trưa mới được gọi vào. Vừa đói, vừa khát vì phải ngồi chờ lâu, ông cậu tôi mệt mã theo tên công an dẫn vào văn phòng một người cao nìên mặc áo kaki 4 túi ngồi sau một cái bàn viết khá rộng. Ông không biết xừ này là ai, nhưng hắn ta mời ông cậu tôi ngồi ghế trước mặt hắn.

Sau khi tên công an ra ngoài, trong phòng chỉ còn hai người, hắn nhỏ nhẹ nhưng rất nghiêm nghị nói với ông:

– Các anh, chị đi về đây, chúng tôi đều biết hết. Nhờ anh về nói với bà chị hãy chấm dứt việc buôn bán và nhất là đừng bao giờ về đây nữa. Đã có người bị bắt vì bán các tờ thông hành gỉả cho người theo Ngô Đình Diệm và nó nói là giấy tờ đó của chị ấy đưa cho nó bán lấy công (à, thì ra kẻ trộm là người quen!). Tôi không thể không bắt chị ấy nếu chị còn về đây, nhưng việc này tôi không muốn xẩy ra!

Cha mẹ tôi cũng chẳng biết người này là ai, có thể là xừ T hay O. Đây có phải là một chút tình nghĩa hiếm hoi còn sót lại nơi những người kháng chiến? (Tôi không muốn nói những người cộng sản!). Tuy nhiên cái tình này chưa đủ để chúng tôi bỏ ý di cư vào Nam.

Từ đó, mẹ tôi chấm dứt vụ buôn bán. Tuy nhiên, khi người thân của chúng tôi ra tới Hà Nội, thành phố này đã bị bên ngoài tiếp thu. Muốn di cư, phải tìm cách xuống Hải Phòng, thành phố cuối cùng Pháp còn giử cho tới giữa năm 1955.

Bấy giờ Hà Nội như cái rọ nhốt chúng tôi. Muốn ra khỏi đây, chỉ còn đường xe lửa Hà Nội Hải Phòng. Những người lên xe được cũng chỉ có cán bộ, giới đi buôn và những người từ Hải Phòng về thăm thân nhân ở Hà Nội, nay trở vê nhà. Đầu tháng chạp, chúng tôi có được một giấy thông hành người Hải Phòng. Lại dùng Corrector để thay tên ông anh áp tôi. Chuyến đi Hải Phòng có thêm tôi và chú em áp tôi theo. Dọc đường có nhiều trạm kiểm soát, nhưng càng gần Hải Phòng, càng dễ dãi. Sáu giờ chiều, chúng tôi tới nhà bà bạn mẹ tôi, con cụ cửu T Như Tân, đã ra đây làm ăn từ những năm trước. Tôi hơi ngỡ ngàng vì không được anh tôi cho biết trước. Họ đón tiếp chúng tôi rất vui vẻ.

Ngày hôm sau, anh tôi đi tìm một ông bạn của ông anh cả tôi, cũng người Phát Diệm, hiện đang làm trong Ty Công An Hải Phòng. Nhờ đó, anh tôi xin được cả hai chục tờ thông hành người Hải Phòng được cấp về thăm gia đình ở Hà Nội. Có giấy trong tay, nhưng mang được về Hà Nội không phải là dễ, chưa nói tới tội dùng giấy thực nhưng giả (vì chưa có tên người xử dụng) kèm thêm tội danh rất phổ thông lúc đó, giống như tội tuyên truyền chống phá nhà nước hiện nay, là tội ‘Mẹ Mìn Ngô Đình Diệm’, Nhờ kinh nghiệm chuyến đi trước, thông minh và tháo vát, anh tôi đưa những giấy đó trót lọt về tới Hà Nội.

Trong khi đó, tôi là đứa vô tâm, nhởn nhơ vui chơi, quên đi những ngày ly loạn, bên cô bé, từng làm bạn ngày xưa. Buổi sáng, trời lạnh căm căm cũng chịu khó theo đi lễ. Giá mà cả đời cứ cái trớn ngoan đạo đó, nắm chắc cái vé tầu, tầu gì cũng được, miễn là tới nơi, ngày trở về nước Chúa! Buổi tối nằm trong chăn ấm trên cái gác lửng chuyện trò rỉ rả. Trời cuối năm, trăng già đã bị…gặm mất hơn một nửa, nhưng cũng còn dư ánh trăng suông, lãng mạn đến…chết người! Thế là có chuyện hư hao trong tuổi còn quá trẻ với cuộc đời tình ái. Nhưng đó lại là vàng ròng của một kiếp người, vì cứ nghĩ tới là thấy…vui!

Một tình cờ có trời chuẩn bị, từ một nơi cuối cái phố Hàng Kênh này, lại có một cô bé khác đang nhăn nhó vì vừa chấm dứt những năm tháng trong một trời trường lớp Thánh Giu-se, để nằm chịu lạnh lẽo, muỗi mòng ở một căn nhà cách đấy không xa. Nhắc tới Hải Phòng là nhắc tới cả quãng đời của những ngày thứ năm hay chủ nhật thoát khỏi ‘pensionnat’, rong chơi trong thành phố từ nhà hát Lớn, rạp chiếu bóng Casino trên đường Cầu Đất tới quán Bà Mâu, cà miếc, đường cát ngắn Cát Dài, chợ Sắt chợ đồng, Paris, Đông Kinh, vườn hoa Con Cóc, con nhái, tới khu phố những nhà cô đầu đâu đó, ngồi ăn bún chả từ xa cũng nghe được cả những tiếng ‘tom chát’. Gớm, chuyện kể tới 33 năm cũng chưa hết. Thương chưa!

Còn một người nữa cũng ở Hải Phòng đó, nhưng tôi không được nghe một câu, mà chỉ thấy líu lo khi hai cái Hải Phòng gặp nhau trong một căn phòng khách xinh xắn, bên ngoài có một hàng dậu huỳnh anh óng ánh dưới ánh nắng trưa hè trong cư xá T.S.N.

Và cuối cùng ‘đào thơm’ từ trên trời rớt xuống tay anh “hàn sĩ” khi đang tìm đường cuối cùng lên chốn Thiên Thai, tưởng đó là nơi có tiên nữ. Nhưng tiên không thấy, lại thấy Phật Bà cho nước cam lồ để suốt ngày mơ mơ, mòng mòng. Nghĩ lại, còn gì đâu nữa mà phân vân, vì ngày thì đã dần qua, đêm tối đang tới rồi.

Ôi Hải Phòng, ta chẳng ‘đầu tư’ gi ở đó, nay lại có tất cả, kỳ diệu thay. Amen.

Thế là cả đại gia đình chúng tôi, đi cả một chuyến tới Hải Phòng vào cuối năm, ngày hết, Tết đến… Ra tới Hải Phòng là đã thấy thành phố Sài gòn từ chân mây những chuyến bay Dakota.

Nói về dân làng Như Tân. những nông dân con chiên của Cha Sáu Trần Lục, của Đức cha Nguyễn Bá Tòng, Đức cha Lê Hữu Từ, từng là những Boat People từ ngày đó vì họ đã dùng thuyền vượt biển đi Hải Phòng để được “vô Nam”. Cũng có người bị lính biên phòng bắn chết trên đường đào thoát như các ông trùm L, chánh T!

Xem ra, trên thị xã khi xưa ông cố tôi, rồi ông nội tôi gánh mắm đi bán kháp nơi, trầy lưng gầy dựng cơ nghiệp trên mảnh đất hoang sơ, con cháu không hưởng được ba đời. Còn sản nghiệp ở làng Như Tân, cha mẹ tôi dốc hết tiền của, sức lực kiến tạo cũng không thể giữ được tới đời các con!

Thực đúng là ‘bãi bể nương dâu!’, gia sản của phần lớn dân Kim Sơn xưa kia, vì chính kiến, phải bỏ thôn làng ra đi, đã mất trắng bởi những người xa lạ, họ không cần nhỏ một giọt mồ hôi để xây dựng lên nó

Người xa trở về, quê nhà đó, nhưng tìm đỏ mắt không gặp được một người quen vì thế hệ ngày xưa chẳng còn mấy ai. Có muốn ở lại một đêm cũng không tìm được một chỗ nương thân.

Đầu Hạ, 2011

(1) Phần về Doanh Điền sứ Nguyễn Công Trứ khai khẩn đất Kim Sơn đã viết rõ trong các tác phẩm trước của tác giả như Hà Nội Ảo hay Hồn Phương Nam. Ở đây chỉ xin ghi lại những nét chính cần cho những bài khác trong tác phẩm này hay các độc giả mới.

(2) Sau này tôi mới biết một vụ cầm cố của ông nội tôi ngày trước đã bị mất 40 mẫu ruộng Như Tân.. Vì thế số ruộng còn lại trong vùng “xôi-đậu” cho cấy rẽ, lúa thu chẳng được bao nhiêu. Xem bài Mẹ trong tác phẩm này.

TAO LOẠN 2 – CHƯƠNG 2

KIM MẠNG tức TAO LOẠN 2

 

CHƯƠNG II

Xế trưa.

Mặt nước loáng ánh nắng chói chang. Từng nhóm thuyền đi reo thả lưới chung quanh một trái núi nằm phơi giữa biển cả trông giống như con mãnh hổ đang ngồi nghỉ giửa vùng nước bạc mênh mông.

Mai Lan đứng đầu mũi thuyền nhìn cảnh vật bao la, lòng nghẹn niềm thất vọng. Trải qua gần một tháng lênh đênh trên biển cả, đi dọc một giải bờ biển , dài hàng ngàn dậm, hỏi tin không biết bao dân chài lưới, lật từng xác chết chương nổi lềnh bềnh trên song nước, nhưng cuối cùng bọn nàng cũng chẳng thể tìm thấy những người thân yêu đã trầm mình tuẫn tiết vì không muốn trở thành tù binh bị khuất phục trước quân giặc tham tàn.

Nắng đổ loá đôi mắt. Mai Lan lấy tay che nửa trán để nhìn cho rõ hòn núi trước mặt, rồi quay lại hỏi người chủ thuyền:

–    Này lão Kiệm, hòn núi nào kia?

Người chủ thuyền, áo nâu bạc phếch, gầy gò, khắc khổ. Từ khôn mặt xương xương, đen xạm cho tới mái tóc, chòm râu thưa khô cứng, xoắn xuýt, biểu lộ một cuộc sống dầm sương, tắm gió biển bao ngày. Lão tiến ra phía trước, nhướng mắt, khê thưa:

– Bẩm cô, đó là hòn Nẹ.

Lão đưa tay chỉ về hướng tây, tiếp:

– Ngang hòn Nẹ về phía đất liền là Trấn Sơn Nam.Vào trong chút nữa sẽ là Ái Châu. Vùng biển này nổi tiếng có nhiều loại cá ngon…Chim, thu, nhụ, bẹ là bốn loại hàng đầu, đánh được rất nhiều. Ngoài ra, còn một loại cá khoai, nấu với rau mồng tơi, vắt chanh, ăn ngon tuyệt. Dân chài ở đây sống rất sung túc.

Mai Lan ngắt lời:

–         Không phải thuyền đánh cá cả đâu. Lão trông kìa, nhiều thuyền lớn có cắn cả cờ xí nữa.

–       Chiến thuyền của giặc Minh?

–       Không phải một cuộc dàn trận.

–       Chiến thuyền của giặc đưa dân đi mò ngọc trai?

Mai Lan gật đầu:

–       Vì thế mình phải thận trọng.

Lúc đó,Lai và Cúc cũng vừa từ trong thuyền bước ra, nghe hai người nói chuyện, đều gật đầu đồng ý.

Lai góp lời:

–             Không giống như lúc chúng ta qua vịnh Hạ Long.

Mai Lan nhìn ngược lại phía sau, giọng xa vắng:

–             Lão Kiệm, tôi nghĩ tử thi người của mình nếu có tìm thấy cũng chỉ từ vùng biển này trở ra bắc mà thôi. Có lẽ đến  đây chúng ta quay về được rồi.

Lão Kiệm hạ giọng:

–             Nhưng thưa cô, chúng ta phải vào hòn Nẹ để lấy nước ngọt và mua thêm thực phẩm…

Lai ngạc nhiên:

–             Vào trong núi?

–             Vâng, trong đó có những thuyền chuyên môn bán thực phẩm cho các thuyền đi reo, tức đánh cá xa đất liền nhiều ngày.

Mai Lan gật đầu đồng ý.

–             Được, nhưng phải cảnh giác. Chúng tôi sẽ vào cả trong thuyền. Lão ở ngoài này tuỳ cơ ứng biến. Đừng để có chuyện đáng tiếc xảy ra. Tôi không muốn bị rắc rối lúc này.

Chiếc thuyền chài , loại đi biển với hai lá buồm ôm gió rẽ sóng đi về hướng hòn Nẹ.

Ba thầy trò Mai Lan trở vào trong khoang. Thuyền khá rộng, , dành một nửa khoang để hai thầy trò Mai Lan và Cúc ở. Phần còn lại là chỗ ăn, nằm của Lai và ba bố con lão Kiệm. Chung quanh khoang thuyền có những cửa tò vò có thể nhìn ra ngoài. Hai đứa con của lão Kiệm cũng đã mười sáu, mười bảy , tuy trông rắn chắc, khoẻ mạnh, nhưng thân hình lại nhỏ loắt choắt, khiến cho Lai và Cúc thường to nhỏ  bàn tán, nghi ngờ tài đi biển chủa cha con nhà này.

Nước vỗ vào mạn thuyền nghe rào rào. Gió biển thổi thốc vào trong khoang mát rợi. Chừng nửa canh giờ, hòn Nẹ đã hiện ra sừng sững trước mặt. Giáp núi, song lớn hơn ngoài khơi.Thuyền trôi nhấp nhô. Từng đàn cá chảy lên khỏi mặt nước, vảy trắng lấp lánh, dưới ánh mặt trời trong thực ngoạn mục. Có nhiều con lướt ngay trước mũi thuyền khiến Cúc giật nảy mình, cười lên thích thú.

Mai Lan và bọn Lai, Cúc đang theo dõi đàn cá “bay”, bỗng có tiếng quát lớn từ đâu vọng lại:

– Thuyền kia, phải tránh xa khu quan quân ngay. Bất tuân sẽ bị bắn chìm tức khắc. Biết chưa?

Thuyền bất thần nghiêng để đổi hướng, bọn Mai Lan biết ngay thuyền mình đang đi ngang qua vùng biển có quân giặc. Mọi người thận trọng khép kín cửa tò vò, nhưng vẫn ghé mắt sát vách thuyền , qua khe hở để quan sát tình hình bên ngoài.

Thực kinh hoàng. Cách đó không xa, mọi người đều thấy thành của tầu giặc, san sát cả chục chiếc. Từ trên tầu, hàng trăm dân phu mình trần, đóng khố, được thả xuống nước bằng giây chão buộc ngang bụng, trông giống như những xâu ếch. Tiết trời mùa thu, nước biển lạnh như vậy mà giặc bắt dân ta phải trầm mình lặn xuống đáy đại dương mò ngọc trai cho chúng. Tiếng quát tháo, tiếng người bị ném xunốg biển ồn ào một góc trời.

Thực dã man! Cúc sợ hãi quay lại nhìn cô chủ…

Mai Lan nhăn mặt, thì thào:

– Không tưởng tượng nổi!

Lê Lai nghiến răng, tưa giận:

– Quỉ chứ không phải giống người!

Hình như lão Kiệm đang cố gắng cho thuyền thoát đi thực lẹ nên chẳng mấy chốc những tiến la ó của giặc đã xa hẳn. Thuyền lướt đi nhẹ nhàng. Lai mở cửa tò vò nhìn ra ngoài, vách núi quá gần, như đập vào mắt khiến chàng giật mình. Mai Lan khẽ thở dài như vừa trút được gánh nặng:

– Thoát rồi…Chắc thuyền đang vào kẽm núi.

Thằng Nhớn, con cả lão Kiệm thò đầu vào khoang, nói:

– Mời quí vị ra ngoài này cho thoáng ạ.

Trên đầu, bầu trời chỉ còn một giải xanh thẳm giữa hai vách núi. Con thuyền đã hạ buồm, trôi trong một thứ ánh sáng dịu mát khiến mọi người đều cảm thấy khoan khoái.

Tiếng bì bõm của nước đập vào mạn thuyền. Thỉnh thoảng mấy cánh chim từ lùm cây bên vách đá thấy động bay vụt ra, kêu ríu rít. Nhưng điều làm cho thầy trò Mai Lan sững sờ là cuối con kẽm, thuyền từ từ đi vào một vũng nước nằm giữa lòng núi. Bên trên là trời xanh, mây trắng, như chiếc vung vĩ đại chụp xuống. Chung quanh bốn phía là bãi cát vàng phẳng lì, chạy dài tới khu rừng thưa xa xa. Quanh đây đó, nhiều thuyền chài lớn bé cũng đã hạ buồm, thả neo nghỉ ngơi.

Mai Lan nhìn bao quát, khen:

– Cảnh sắc thực kỳ thú.

Lão Kiệm cười:

– Bọn chài lưới chúng con thì coi đây như là thành luỹ để tránh bão táp hoặc nghỉ ngơi. Con sẽ cho thuyền ghé cuối bãi, rồi mời quý vị lên vãn cảnh chùa. Chùa này không có sư, chỉ có một ông từ thôi. Chúng con đi mua ít thứ cần dùng và thực phẩm, lấy thêm nước ngọt, xong sẽ quay trở lại đón.

Theo tay chỉ của lão, mọi người thấy một mái chùa thấp thoáng trong rạng cây um tùm.  Nàng ngạc nhiên :

– Ở đây cũng có chùa nhỉ. Còn nước ngọt thì ở mãi đâu?

– Thưa, ở đàng kia có một hồ nước ngọt, rất tiện cho dân chài khi phải đi xa đất liền nhiều ngày.

Cúc cũng nheo mất nhìn xa, hỏi:

– Lạ nhỉ, ở giữa biển lại có hồ nước ngọt?

Lai phỏng đoán:

– Có thể là một vũng nước mưa đọng trong long núi đá.

Thuyền cập bến. Trước mặt một ngôi chùa được xây tựa bên gốc đa cổ thụ, rêu phong cổ kính. Những rễ đa phụ khá lớn tua tủa dài chạm hoặc cắm sâu xuống mặt đất. Cổng tam quan được quét vôi trắng trông còn sạch sẽ. Tĩnh mịch. Chỉ nghe thấy tiếng gió rì rào trên những tầng lá đa xanh mướt. Ba thầy trò cảm thấy hơi lảo đảo khi đặt chân lên bãi cát. Ai không quen  đi lâu trên thuyền, khi lên bộ, sẽ thấy lâng lâng một lúc, người ta gọi là say đất.

Lão Kiệm đưa chân ba người tới bờ đất, trước khi trở lại thuyền, lão nói:

– Bẫm cô, chiều hôm qua con thấy trời có “đỏ lò đông bấc” (theo kinh nghiệm của dân đi biển, lúc mặt trời vừa lặn, nếu thấy phía chân trời đông bắc có một vùng rực đỏ báo hiệu hôm sau sẽ có bão)  rồi trưa nay lại thấy cá nhảy trên mặt nước…( biển sắp động) sợ tối nay vùng này có giông bão. Vậy xin quí vị trở lại đây sớm để mình còn đi.

Mai Lan vừa đi, vừa gật đầu:

– Không sao, mình đâu có chuyện gì phải lâu trong chùa. Ngồi nghỉ một lát rồi sẽ ra liền.

Vào tới chùa, mọi người thấy đây chỉ là một cái am, nhưng khá lớn, có cổng tam quan, có sân gạch và vườn hoa sạch sẽ, thẳng lối. Những hàng mẫu đơn, mấy khóm ngâu tươi tốt quanh sân. Hai gốc hoa đại trắng cổ thụ hai bên cổng  Giữa tiền đường, một pho tượng Phật cũ kỹ bằng gỗ, sơn son thiếp vàng nhưng mầu đã bạc phếch. Chắc vì được đám dân chài qua lại cúng kiến nên trong am khói hương nghi ngút, đứng ngoài cũng ngửi thấy mùi thơm. Nhưng có một điều làm ba thầy trò ngạc nhiên, nhìn nhau hội ý vì ngoài ông từ trong am còn có một nhà sư mà lão Kiệm  không nói tời.

Lão từ trông già cả, đầu tóc bạc phơ, dài chấm vai, nhưng dáng dấp còn nhanh nghẹn. Thấy khách lạ, lão ra đón, niềm nở mời vào trong:

– Xin mời quí vị vào trong này xơi nước.

Lão lăng xăng hướng dẫn ba người tới một chiếc bàn nhỏ kê ở hàng hiên nhưng  đủ bốn ghế , tay nhanh nhẹn lấy ấm nước trong giỏ tích, rót vội ba chén nước vối còn nóng.

Nhà sư, áo nâu mới, ngồi sát bàn thờ Phật, quay lưng ra ngoài. Khách chưa uống hết chén nước, quay đi, quay lại đã không còn thấy nhà sư nơi bồ đoàn nữa.

Lão từ thấy khách có vẻ để ý tới nhà sư, nên giải thích:

– Sư phụ chúng tôi mới ở đất liền chạy giặc ra đây… Ngài bị tai nạn ở mặt nên không tiện giao tiếp với khách thập phương, xin quí vị miễn thứ cho.

Mai Lan lắc đầu:

– Không dám. Chúng tôi tình cờ đi ngang qua đây ghé vào vãn cảnh chùa một chút rồi cũng có việc phải đi ngay, đâu có dám phiền đến sư phụ.

Bất chợt Mai Lan thấy trên vách trái am có vẽ một vòng tròn như hình mặt trời có ánh quang chung quanh bằng mực tầu, đang định lên tiếng thì lão từ đã cười, nói:

– Thưa, đó là đạo phù của sư phụ chúng tôi.

Đạo phù? Nàng chưa từng nghe các nhà sư Đại Việt nào có đạo phù bao giờ. Nhưng đó là việc của người ta, nàng cũng không muốn hỏi thêm.

Đoán khách còn đi một cuộc hành trình xa, Lão từ vui vẻ đề nghị:

– Không mấy khi quí khách ra chơi, nhà chùa sẵn có ít rau quả trong vườn, xin kính quí vị một chút để độ…

Mai Lan nhanh miệng, lắc đầu:

– Xin cụ miễn cho…

Như không cần sự đồng ý của khách, ông ta đon đả bỏ ra vườn sau. Mai Lan thấy ông từ dùng tiếng nhà Phật không được chỉnh, cho là ở chốn thâm sơn cùng cốc này, ăn nói như vậy cũng là khá rồi. Lão từ đi thực lâu, khiến thầy trò Mai Lan chờ sốt cả ruột. Mấy lần đã định bỏ đi, nhưng lại sợ phụ lòng hiếu khách của lão ta nên cố nán lại, quên cả lời lão Kiệm dặn dò. Cuối cùng, lão từ cũng về tới, hai tay lệ khệ bưng một thúng lớn, gồm chuối, khế, rau mồng tơi tới, đậu đũa, khoai lang. Kể ra, những món này  ngay tại đây muốn mua cũng khó.

Mai Lan trông thúng quà, giật mình:

– Mô Phật, nhiều thế cụ? Chúng tôi không dám nhận thế đâu.

Lão từ cười, gãi tai:

– Của Phật mà, xin quí vị đừng chê.

Cúc quay đi, khẽ nói với Lai:

– Chả trách bắt mình chờ cả buổi. Không biết trong chùa còn gì nữa không…sao không mang ra hết cho rồi.

Lê Lai lắc đầu, ngầm ngăn cô nhỏ đừng lắm miệng…mà phật lòng chủ nhà. Cuối cùng Mai Lan cũng nhận hết, rồi ngược lai, yêu càu ông từ nhận lại một số bạc, vỉ nàng biết thừa hậu ý của những vụ tặng quà của chùa đền.

Ra về, tuy phải khiêng đồ nặng, nhưng Lai và Cúc cũng không mấy phiền lòng vì được một số thực phẩm quí cho những ngày sắp tới lênh đênh trên biển cả.

Chưa đến bãi cát, xa xa đã thấy cha con lão Kiệm đang đứng ngóng chờ. Trời đã về chiều, ánh nắng chỉ còn đọng trên vách núi.

Vừa gặp nhau, lão Kiệm đã giúc:

– Mau lên. Các vị chơi trong đó lâu quá, Con vừa cắm sào xuống nước, thấy bọt xủi lên rất nhiều, sợ bão lớn đến nơi…

Lai nhìn trời, thắc mắc:

– Trời quang thế kia, làm gì có bão.

– Con không nói chơi đâu. Con nghĩ ta ở lại đây đêm nay đi. Quí vị nhìn xem, rất nhiều thuyền đã vào đây để tránh bão đó.

Mọi người nhìn quanh, quả nhiên khắp vùng đã đầy những thuyền bè đủ loại, đủ cỡ cỡ, cắm sào, hạ buồm, trong đó có cả những chiếnthuyền của quân Minh.

Giữa lúc đó, lão từ hớt hải chạy ra theo khiến ai nấy sững người, đều quay lại nhìn lão.

Lão từ hấp tấp , vừa thở, vừa nói:

– Thưa quí vị, sư phụ tôi có…thư.

Lão trao nhanh phong thư dán kín cho Mai Lan. Không biết thư từ gì đây, nàng đỡ lấy, ngỏ lời cảm ơn, rồi vội xé ra đọc. Trong thư viết nôm, vẻn vẹn  vài hàng: “Xin rời đây ngay lập tức vì tối đến giặc về đông kiểm soát…rất nguy hiểm…Về Sơn Nam rồi vào Thanh…có nhiều việc hưu ích”.

Thư không ký tên.

(XIN XEM TIẾP KỲ SAU, một tuần kể từ Sun 25 AUG 2013)

Câu Chuyện Một Ngôi Trường

Hồ Linh

 

Câu Chuyện Một Ngôi Trường.*

 

Kính tặng quí vị cựu Giáo Sư và các bạn

cựu học sinh trường Trung học Trần Lục.

 

 

 

Tôi về Việt Nam nhằm vào những ngày các học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông thi vào các trường Ðại Học. Trên báo chí và TV, ngày nào cũng có bài tường thuật về kỳ thi này.

Người ta nói tới trật tự trường thi, tới các giám khảo và những tuyển sinh phạm trường qui và bị chế tài. Sau đó là những bài giải đề thi trên báo chí. Tôi có xem qua những bài thi này, thấy cũng không lấy gì làm khó, nhất là với những học sinh thời chế độ Cộng hoà. Sau kỳ thi một tuần, báo chí làm bản tổng kết cho biết năm nay đáng khích lệ vì số thí sinh và các giám khảo phạm trường qui có suy giảm. Tuy nhiên, nơi xẩy ra sai phạm nhiều nhất lại là hai trường Học Viện Cảnh Sát nhân dân Hà Nội và trường ÐH Cảnh Sát nhân dân TP HCM (mang điện thoại di động, tài liệu vào phòng thi, quay, cóp, thi hộ/ thầy cô thì nói điện thoại di động, nói chuyện lúc coi thi, nhắc bài cho thí sinh, có cô giáo ngồi vẽ hoa, đánh móng tay v.v …). Sau đó dăm ba ngày, bản tin cho biết tổng quát bài đã chấm điểm được hơn một nửa, nhưng số bài trên điểm trung bình có tỷ lệ rất thấp, nhất là các bài có điểm 7/10 trở lên rất là ít.

Một buổi tối, các cháu tôi mời ăn cơm với tất cả chúng nó gồm bẩy gia đình, con cái đùm đề. Trong số các con của bọn chúng, có tới ba đứa đã dự những kỳ thi vừa qua. Anh cháu lớn nhất đang dạy vật lý tại một trường trung học cấp ba tại Bình Triệu, nhận xét về ba đứa cháu trong gia đình. Hai đứa, một là học sinh Võ Trường Toản, một học sinh trường Nguyễn thị Minh Khai, thì hy vọng 50-50, còn đứa thứ ba, anh chắc một trăm phần trăm trúng tuyển vào trường trung học Quốc Tế ở Saigon. Trường này theo quy trình như một trường đại học của Mỹ, do phần lớn các giáo sư ngoại quốc dậy và bằng tiếng Anh nên bằng cấp được quốc tế công nhận. Vì thế, thi vào đã khó, tiền học mỗi năm không dưới 5,000.00USD. Ngoài các bài thi căn bản, cũng phải qua một bài thi Anh Ngữ nữa.Tôi có hỏi sao lại chắc như vậy, anh nói đã xem các bài thi của con nhỏ này, bài nào cũng toàn hảo.” Nó giỏi không lạ vì là học sinh trường Nguyễn Du.”

Trường Nguyễn Du? Quí vị chắc ít ai biết tới ngôi trường này.

Trước cuộc di cư năm 1954 của đồng bào miền Bắc tránh nạn cộng sản vào Nam, Sài Gòn có hai trường lớn, một Gia Long cho nữ sinh, một Petrus Trương Vĩnh Ký cho nam sinh. Người Bắc di cư mang theo ba trường lớn của Hà Nội vào là các trường Chu Văn An, Nguyễn Trãi cho nam sinh và trường Trưng Vương cho Nữ sinh. Ngoài ba trường này, còn thêm hai trường công lập nữa, một từ Phát Diệm, trường trung học Trần Lục, một từ Bùi Chu là trường Hồ Ngọc Cẩn. Ngày đó, tôi là học sinh cũ của trường Trần Lục ngay tại quê nhà, nên được ưu tiên vào học, dù đã muộn(sau Tết, vào khoảng cuối tháng Một, đầu tháng Hai), không như các bạn khác phải thi. Lúc này, tất cả ban giám đốc và các giáo sư cũ đều được giữ nguyên, còn thiếu chức vụ nào hay giáo sư chưa đủ đều được tuyển chọn thêm. Hiệu trưởng vẫn là linh mục Trần Phúc Long, thêm một số giáo sư mới như các thầy Doãn Quốc Sĩ, Nguyễn Văn Nha dậy Việt Văn, thầy Tạ Quốc Tuấn dậy Anh Văn, các thầy Nguyễn Ðăng Ðại dậy toán, Võ thế Hào dạy Lý Hoá. Tổng giám thị mới là Cụ Kiên, thân phụ Luật sư Phan Thế Ngọc.

 

Cũng như mấy trường di cư, những năm đầu, trường tôi mượn chỗ của trường tiểu học Nguyễn Ðình Chiểu đầu đường Rue d’Arfeuille (sau này là đường Nguyễn Ðình Chiểu) gần chợ Tân Ðịnh và học vào buổi trưa từ 10 giờ tới 2 giờ chiều, thời gian các em học sinh của trường Nguyễn đình Chiểu về nghỉ trưa.

Những năm sau này, phải học trường khác (vì trường Trần Lục chỉ có trung học đệ nhất cấp), nhưng thỉnh thoảng tôi cũng ghé thăm trường cũ. Rồi tới lúc các trường khác đã có nơi có chốn, trường tôi trải qua các vị hiệu trưởng Cụ Ðinh Căng Nguyên (thay LM Long), thầy Nguyễn Văn Nha và vị nào nữa tôi không biết, vẫn học nhờ trường tiểu học Nguyễn đình Chiểu.

Bẵng đi mấy năm, tôi quên mất ngôi trường xưa. Một ngày đi ngang qua trường tiểu học Nguyễn Ðình Chiểu, tôi ngỡ ngàng vì không còn thấy bảng hiệu của trường Trần Lục nữa. Tôi mừng thầm cho trường tôi cuối cùng cũng có cơ sở mới của riêng mình, các bạn học của tôi không còn phải gò lưng trên những dẫy bàn ghế dành riêng cho các em nhỏ bậc tiểu học trong những buổi trưa miền Nam nắng gắt.

Cho đến một thời gian khá lâu sau này, tôi mới được biết trường Trần Lục, ngày dọn tới cơ sở mới, đồng thời cũng là ngày đổi tên thành trường Nguyễn Du.

Nguyễn Du là một đại danh trong văn học nước nhà, rất xứng đáng là tên của một ngôi trường trung học. Các em học sinh trường Trần Lục của tôi chắc cũng vui lòng trường mang tên Cụ. Tuy nhiên, với tâm tình của tôi, vốn quê Phát Diệm, từng hãnh diện vì có một nhân tài như Cụ Sáu, tên thân thương của con chiên gọi người chủ chiên Trần Lục của mình, không khỏi băn khoăn về việc đổi tên này. Linh mục Trần Lục, đối với nhiều người hẳn đã là một danh nhân nước nhà, dù cũng có một vài dị nghị về vai trò lịch sử của người, không khác gì những phê phán của những người có tinh thần quốc gia cực đoan đối với các nhân vật lịch sử, văn học như Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn văn Vĩnh, Phạm Quỳnh v.v.

 

Lược qua tiểu sử linh mục Trần Lục, tức Cụ Sáu.

Người quê làng Mỹ Quan, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Năm 1845, với tên là Trần Văn Hữu, người vào tu tại chủng viện Vĩnh Trị. Mãn khóa học, người được đi tập sự truyền giáo. Sau đó, theo học thần học tại Kẻ Noi. Năm 1857, vua Tự Ðức cấm đạo Gia Tô gắt gao. Ngày 13-7-1858 nhóm của người, trong đó có Giám Mục Liệu và nhiều vị linh mục khác bị quân triều đình bao vây tại La Mát. Người tự nguyện mặc áo đạo trưởng ra nộp mình để giải vây cho đồng đạo. Sau đó, vì tự nộp mình nên người chỉ bị đầy lên Lạng Sơn (hồi đó người mới có sáu chức, nên được gọi là Cụ Sáu). Vì là người uyên bác nho học và nhất là đã giúp quan sở tại đánh bại Tạ Văn Phụng, bọn giặc lấy danh nghĩa dòng dõi nhà Lê cùng lợi dụng thanh thế của đạo Gia Tô nổi loạn tại Bắc Kỳ. Vì thế, người được quan đầu phủ đối đãi rất tốt, đến độ năm 1860, quan cho phép người bí mật về Kẻ Trừ để được thụ phong chức Linh Mục. Năm 1862, vua Tự Ðức tha đạo Gia Tô, người được phóng thích về quản nhiệm xứ Mỹ Diệm. Từ 1985-1999 người được đổi về làm chính xứ Phát Diệm, một giáo xứ nghèo được xây dựng trên một vùng vượt đất tân bồi, cho đến ngày người qua đời.

 

Sự nghiệp của Linh mục Trần Lục:

1/ Về kiến trúc, từ năm 1885 tới 1896 người xây dựng khu nhà thờ Phát Diệm rất nổi tiếng, hài hoà giữa kiến trúc truyền thống Việt Nam và Tây Phương. Mười mấy kiến trúc nằm trên một vùng đất tân bồi. Cột kèo toàn bằng những cây gỗ lớn ba bốn người ôm, cao tám chín mét, tường có nơi bằng những tảng đá hoa cương nặng tới nhiều tấn, với những phương tiện và kỹ thuật rất hạn hẹp của cuối thế kỷ 18. Hơn nữa, trên các kiến trúc này, tràn đầy những câu kinh nguyện được ghi khắc trên đá bao gồm những ý niệm thần học về Thiên Chúa và tóm tắt ý nghĩa chân thực của Ðạo Chúa qua Kinh Thánh cùng lòng tôn sùng thánh nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa. Công trình này không ai có thể phủ nhận. (1)

2/ Giúp quan phủ Lạng Sơn ngăn chặn giặc Lê Văn Phụng đánh chiếm thành Lạng Sơn để làm căn cứ cho cuộc nổi loạn Ðàng Ngoài. Tuy chiến công diệt giặc Tạ Văn Phụng thuộc về các đại thần như Nguyễn Tri Phương, Trương Quốc Dụng, nhưng sự đóng góp của Cụ Sáu cũng đáng kể, nhất là nhờ đó người Công Giáo không còn bị nghi ngờ đã giúp tên này làm loạn. (2)

3/ Năm 1885, qua mật tâu của quan Kinh Lược sứ Nguyễn hưũ Ðộ, vua Ðồng Khánh và triều đình nhà Nguyễn ép người giữ chức Khâm Sai Tuyên Phủ Sứ vào Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh an dân. Người đã làm môi giới giàn hòa giữa đồng bào lương giáo trong vụ Văn Thân xẩy ra ở đây, hóa giải được một cuộc chém giết do Văn Thân khởi xướng và sự chống trả của các làng có đạo ở Thanh Hoá, Nghệ An.(3)

4/ Linh Mục Trần Lục với triều đình nhà Nguyễn.

Nhờ giải quyết vụ Văn Thân ngoài Bắc, vua Tự Ðức phong Trấp An Khâm Sai. Vua Ðồng Khánh phong Lại Bộ Tham Tri, sung Khâm Sai Tuyên Phủ Sứ. Ðời vua Thành Thái, người được truy phong lễ Bộ Thượng Thư. Vua Khải Ðịnh truy phong Phát Diệm Nam Tước.(3)

5/ Về văn hóa, xã hội, chính nhờ Cụ Sáu mà đám dân quê tứ xứ chiêu mộ về vùng đất Kim Sơn mới được quan Dinh điền Sứ Nguyễn Công Trứ khai phá trở nên có văn hóa và trình độ. Các thanh niên hiếu học được gửi đi học nghề: nghề chụp hình, nghề thêu, nghề dệt vải, dệt chiếu. Thanh thiếu niên nam, nữ được giáo dục theo tinh thần vừa nho phong, vừa từ aí của đạo Thiên Chúa, nhất là được dậy đọc và viết thông thạo chữ quốc ngữ. Thêm vào đó, người còn là một nhà văn, một nhà giáo dục với ba tập thơ, thường gọi là Ca Vè Cụ Sáu, gồm Hiếu Tự Ca (1085 câu lục bát)….không kém Gia Huấn Ca của Nguyễn Trãi, Nữ Tắc Thường lễ (1016 câu lục bát) riêng giáo dục các thiếu nữ, và Nịch Ái Vong Nhân(440 câu lục bát) dậy thanh niên có gia đình biết cách cư xử hiếu đạo với cha mẹ. Riêng hai tập sau, chưa từng thấy trong văn học nước nhà. Ba tác phẩm trên đã từng là những cuốn sách gối đầu giường của bao thế hệ giáo dân Phát Diệm. (4)

 

Những dị nghị về vai trò của linh mục Trần Lục trong sử sách.

1/ Trước tiên là một số sử gia kết tội Cụ Sáu theo thực dân Pháp đàn áp những cuộc khởi nghĩa của phong trào Văn Thân (trong đó có vụ phá vỡ chiến lũy Ba Ðình do các nhà cách mạng Việt Nam như Phan Ðình Phùng, Ðinh Công Tráng v.v.) cùng với tội đi trên chiến hạm quân Pháp do Hautefeuille chỉ huy đánh chiếm tỉnh Ninh Bình.

Theo nhà văn Vương Hoàng Linh, việc quân Pháp hạ được chiến lũy Ba Ðình của Ðinh Công Tráng là do quân Pháp dùng chiến thuật bao vây khiến bên trong hết lương, cạn nước, thiếu đạn dược là thua thôi, chẳng dính dáng đến cha Trần Lục.(5) (6)

Trong vụ tên quản Hautefeuille chỉ có 7 tên lính, có nhiệm vụ mang thư của Garnier tới Tổng đốÔc Ninh Bình. Nhân cơ hội lính phòng thủ Ninh Bình quá yếu, quan quân triều đình hèn kém, nghe giặc đến đã bỏ chạy nên chiếm luôn tỉnh lỵ, đâu cần đến ai giúp sức. Ngoài ra, theo học giả Lê Hữu Mục thì đây chỉ là sự ngộ nhận vì Cụ Sáu chỉ đi nhờ tàu của một anh phu trạm này về Kể Sở trên đường về Phát Diệm, đâu có biết anh ta sẽ chiếm Ninh Bình.(7)

2/ Vụ Jean Dupuis.

Tên lái buôn này cậy thế chính quyền Pháp ở Sài Gòn cho tầu chở hàng hóa theo sông Hồng lên thẳngVân Nam. Triều đình ta phản đối yêu cầu Sài Gòn trục xuất Jean Dupuis ra khỏi Hà Nội. Nhân cơ hội này, chính quyền Sài Gòn sai đại tá Garnier ra bắc gây hấn. Cuối cùng Garnier bị quân Cờ Ðen giết ở Ô Cầu Giấy, hai bên nhân nhượng nhau ký hòa ước 1874. Khi quân Pháp rút khỏi miền bắc, Văn Thân nổi lên trút sự tức giận lên người Công Giáo, ra tay tàn sát và thiêu hủy các họ đạo. Trong tình thế sống còn của đạo mình cũng như cá nhân Cụ Sáu, người không thể không giúp Triều đình khi được yêu cầu để an dân. Người đã khôn khéo lấy lòng người lương, an ủi đồng đạo, giải hòa đôi bên. Sau vụ này, vua Tự Ðức đã ban một đạo sắc khen người: ”Linh Mục Trần Lục có năng lực dẹp yên lương-giáo Bắc Kỳ, người là bậc trung thành, thiên hạ đều hay biết, triều đình yên trí” (Tiểu Sử Cụ Sáu, Trần Công Hoán, trang 69).

3/ Về vụ Văn Thân nổi lên “bình Tây Sát tả” ở Thanh-Nghệ-Tĩnh, Khâm sai đại thần Nguyễn Hưu Ðộ bó tay. Ông này mật tâu về triều đình Huế, vua Ðồng Khánh ép Cụ Sáu giữ chức Tuyên Phủ Sứ hàm Tham Tri. Người đã vâng mệnh vua vào trong đó bình định yên mọi chuyện. Trong tác phẩm Chuyến Ði Bắc Kỳ năm Ất Hợi của Trương Vĩnh Ký, tác giả đã viết:”Người (tức cha Trần Lục) là người đắc lực với triều đình: người tài trí, thông minh, lanh lợi việc ăn ở, xử trí theo phận đời lắm mưu mô, gan dạ cũng hung, dân sự phục tùng, quan quyền cũng yêu đương, trọng đãi. Nhờ Cụ mưu mô trí biến mà xử trí yên với Văn Thân, lúc khốn khó giao hòa trả tỉnh lại. Nói qua vậy cho biết, người là người anh danh đất Bắc, là chỗ nhờ cậy của nhà chung địa phận nam”. (Lê hữu Mục: dẫn theo Bằng Giang: Sương mù trên tác phẩm Trương Vĩnh Ký, nxb Văn học, Cà Mâu 1963, tr 283)(7)

4/ Qua tác phẩm Giai Thoại Làng Nho của Lãng Nhân, Cụ Sáu bị quan phủ Yên Khánh là Phan Ðình Phùng đánh đòn.

Theo tác gỉa Trần Văn Kiệm , nhân một vụ con chiên Cụ khiếu kiện về đất đai, Cụ theo dân Kim Sơn lên Yên Khánh. Quan phủ vừa được nhâm chức(mới 34 tuổi) muốn ra uy với dân mình (với một cụ già gần sáu mươi) mà có chuyện. Cũng chính vì vụ này mà cụ Phan bị triều đình khiển trách.(8)

Tuy nhiên, đã là giai thoại, nên chưa chắc chuyện này đã có thực.

Cho đến nay, kể cả các sử gia cộng sản như Trần Văn Giàu đã không còn kết án Linh mục Trần Lục như xưa nữa. Nói tóm lại, giữa công và tội, nếu có, Linh mục Trần Lục vẫn xứng đáng là một danh nhân nước nhà.

 

Lịch sử trường Trung học công lập Trần Lục.

1/ Khởi đầu, một trường Nho được nhà xứ Phát Diệm thành lập.

Thời Cụ Sáu(l.m.Trần Lục) là chính xứ, người đã mời được một vị khoa bảng danh sĩ Bắc hà thời đó là Cụ Nguyễn Tư Giản về khai hóa con chiên của người về đường học vấn… Một số thanh niên may mắn được học Nho với vị này. Sau khi cha Trần Lục mất, người thay thế là Linh Mục Ðinh, thường được giáo dân gọi là Cụ Ðinh (người Pháp), trường Nho được mở rộng cho mọi người. Nhưng thời gian sau, không biết do sáng kiến của ai, trường nhà xứ mở thêm, song hành với trường Cụ Ðinh, một trường dậy chữ quốc ngữ và tiếng Pháp, được gọi là trường Pháp-Việt. Nhà dòng Ðức Bà Truyền giáo về làng Trí chính (giáp làng Phát Diệm), có nhiều sơ, nên cũng mở trường dậy chữ quốc ngữ cho các cô gái Phát Diệm. Ðây là giai đoạn phát triển lớn lao về giáo dục của xứ Phát Diệm, lúc này còn đang thuộc giáo phận Hà Nội.

Nghe kể lại, học trò của hai trường này rất ganh đua nhau. Vì vậy tôi còn nhớ được một câu vè vui :

“Học trò Cụ Ðinh

Ði rình đu đủ

Học trò Pháp Việt bắt được

Ðánh đủ trăm roi”

Tôi hậu sinh, không biết cho tới lúc nào thì trường Nho Cụ Ðinh đóng cửa, và chữ Nho chỉ còn được dậy tại tư gia của các Cụ đồ, các lớp lớn của trường Pháp Việt, mỗi ngày có học 1 giờ chữ Nho (thời tôi vẫn còn, 1950).

2/ Thời Cụ Sáu, Phát Diệm thuộc giáo phận Hà Nội. Năm 1901, tách rời Hà Nội trở thành một giáo phân riêng biệt, thường gọi là giáo phận Thanh (gồm cả Thanh Hóa). 1932 ÐGH Pio XI chia hai, địa phận Thanh Hoá và Ðịa phận Phát Diệm. Ðặc biệt, địa phận Phát Diệm được trao cho hàng giáo phẩm VN trông coi. Thời gian này chưa có GM Việt nam nên ÐC A. Marcu (tên Việt là ÐC Thành) tạm thời cai quản.

“Nhân một dịp sang Roma, Ðức Cha Thành đã tới gặp Sư Huynh Tổng quyền dòng La San. Ngài xin ba sư huynh về Phát Diệm điều khiển cà hai trường Cố Cẩn (cố Barbier Cẩn dạy tiếng Pháp) và “Trường cụ Ðinh”(người Việt) và có một tên chung là Trường Xứ Phát Diệm (Echole de la Mission de Phát Diệm). Ngày 15 tháng 8 năm 1932 Ðức Cha vui mùng tiếp đón ba sư huynh : sư huynh Téclan Marcel, người Pháp, SH Jourdin Nguyễn Văn Thiên (1), SH Francois Nguyễn Văn Sắc. Trường có 12 lớp.Lớp nhỏ nhất là lớp mẫu giáo (lớp 12). Lớp lớn nhất là Lớp Nhất (Cours Supérieur). SH Maecel làm Hiệu trưởng kiêm giám thị và dạy học sinh xưng tội, rước lễ lần đầu. SH Jourdin Thiên dạy lớp nhất, luyện học sinh đi thi tốt nghiệp , theo chương trình hồi đó môn nào cũng bằng tiếng Pháp, thêm một môn tiếng Việt là baì luận văn. Học sinh phải lên mãi thành phố Nam Ðịnh để thi. Năm đầu dự thi 27 em, đậu được 15 em. Cả xứ Phát Diệm hiên ngang và mừng rỡ. SH Jourdin lập Hội Con Ðức Mẹ Vô Nhiễm, khuyến khích các em nhỏ đọc sách đạo và lòng sùng kính Ðức Mẹ. SH Francois Sắc dạy “Cours Élémentaire, luyện thi lấy bằng Sơ Học Yếu Lược. Các môn đều bằng tiếng Việt, thêm một môn tiếng Pháp dịch ra tiếng Việt. SH Francois lập hội Chúa Giê Su Hài Ðồng cho các học sinh nhỏ, để mỗi tuần họp riêng, nghe nói về ơn Thiên Triệu trong Tuần Cửu Nhật mỗi tháng(từ 16, 25). Còn các lớp khác thì mỗi giáo viên dạy một lớp”. Trong số những giáo viên này có cụ giáo Huệ, cụ giáo Khánh.

Ðến năm 1935, Cha xứ Tân Ðịnh trong Sai Gòn là linh mục Nguyễn bá Tòng được Ðức Thánh Cha phong làm Giám mục tiên khởi VN về coi địa phận Phát Diệm (tới thời này Phát Diệm không còn các giáo sĩ người ngoại quốc nữa).

Năm 1947, các frère La Sale trao quyền điều khiển trường cho các cha địa phận.

Ngày các frère bỏ Phát Diệm đi Saigon, học trò và các phụ huynh đều rất buồn. Lúc tiễn đưa các frère mọi người đều rơi nước mắt.

Tôi không nhớ ai…làm một bài hát tiễn đưa các frère rất cảm độạng:

Hồi nhớ công ơn người hằng săn sóc

Dìu con em bước lên bước lên trên đường sáng choang học vấn

Nhớ ơn người gắng công trồng cây

Và vun trồng tưới vun cho thành ngày nay

Nhớ ơn vàng tấc dạ nào khuây

Nhìn tượng người bóng xưa ghi tạc còn đây

Nhớ người nhớ người xa cách

Hãy cầu cho người xa cách

Hãy cầu cho người xưa.

(Tôi còn bé,,. không nhớ hết bài)

 

Linh mục hiệu trưởng đầu tiên đươc nhà xứ giao phó trường cho là cha Trần Văn Kiệm. Ngày đó, tôi đang học lớp bẩy của thầy Toàn, một ông giáo rất thương học trò. Một giai thoại mà ai cũng biết là đã có lần một anh học trò bị hỏi bài, sợ quá “đũn” ra cả quần. Thầy Toàn không đánh đòn, mà còn đưa anh ra ao hồ rửa ráy cho.

Khi cha Kiệm làm hiệu trưởng, chương trình học thay đổi lớn: 12 lớp bậc tiểu học rút lại chỉ còn sáu lớp như ngày nay theo bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam và nhất là trường mở thêm mấy lớp trung học. Các học sinh lớp nhất năm đó được tiếp tục học ở quê nhà, trường tiểu học Pháp Việt trở thành trường tư thục trung tiểu học Trần Lục.

Sau cha Kiệm đựơc đi du học (Cha Trần Văn Kiệm đậu tiến sĩ khoa học, sau đó về dậy tại trường đại học Khoa Học Sai Gòn, nay cha cũng định cư tại Hoa Kỳ). Thay thế cha Kiệm là linh mục Chất, sau đó là linh mục Mai Văn Ðiệu…

Năm 1952, linh mục Trần phúc Long, có bằng cử nhân Anh Văn về làm Hiệu trưởng. Thời gian này trường có 3 lớp đệ thất, ba đệ lục, hai đệ ngũ và hai đệ tứ. Sau đó không lâu, dưới thời quốc gia với Quốc Trưởng Bảo Ðại, Phát Diệm là thủ phủ của tỉnh Ninh Bình, nên trường trung học Trần Lục được theo qui chế trường công lập. Năm 1951, kỳ thi trung học đệ nhất cấp đầu tiên được tổ chức tại trường này. Với chế độ mới, các học sinh trường chúng tôi có thể hoán chuyển lên học bất cứ trường công nào, kể cả trường trung học Chu Văn An ở Hà Nội.

Năm 1954, sau hội nghị Genève, trường Trần Lục được di tản vào Sài Gòn.

 

Chúng tôi vừa lướt qua tiểu sử của cha Sáu Trần Lục và những việc người đã làm cùng những ngộ nhận do một số sử gia, nhất là các người cộng sản dọc theo chiều dài lịch sử nước nhà để chứng tỏ công lao, sự nghiệp người không hơn thì cũng chẳng kém những Nguyễn Văn Vĩnh, Petrus Trương vĩnh Ký sau này. Do đó, nếu đã có một trường trung học Petrus Ký, sao lại không thể có một trường trung học Trần Lục? Nhất là trường này đã từng có truyền thống giáo dục lâu đời, và đã được bộ Quốc gia Giáo Dục của Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam tôn trọng trong nhiều năm qua. Rất tiếc cho đến nay, chúng ta không biết việc đó do ai chủ trương và lấy lý do gì để hủy bỏ tên người khỏi ngôi trường do chính con chiên thân yêu của người đã mất bao công lao khó nhọc dựng nên và phát triển được như ngày nay.

 

Những cái tên mới của hệ thống trường trung học phổ thông tại Sai gòn ngày nay.

Ai cũng đã biết, trường Petrus Trương Vĩnh Ký bị đổi thành Lê Hồng Phong tên của anh cán bộ cộng sản của thời phong trào Soviet Nghệ Tĩnh, sau đó, Hồ Chí Minh cướp mất quyền. Trường Gia Long thành trường Nguyễn thị Minh Khai, cô gái quê thời đầu cách mạng làm vợ một lúc cả hai lãnh tụ cộng sản Lê Hồng Phong và Hồ Chí Minh. Trường Chu Văn An không còn cái danh tiếng thời xưa, biến thành một trường dậy nghề vô danh tiểu tốt. Ðể thay thế tên cũ của các trường, đúng ra phải là tên của các danh nho bậc thầy hoặc anh hùng dân tộc như Lê Thánh Tôn, Ðặng Trần Côn, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Triệu Trinh Nương, Hồ Xuân Hương Ðoàn Thị Ðiểm…Ðến như tên Nguyễn Văn Trổi cũng ngất ngưởng là tên của một trường trung học(!)ở Gò Vấp và nhiều trường tại nhiều tỉnh, huyện (tôi đã đi qua và thấy) thì còn trời đất nào nữa, văn hóa của chế độ ở chỗ nào vậy?

Khi nói đến trường trung học cơ sở Nguyễn Du là một trường danh tiếng ở Sai Gòn, tôi vẫn hơi ngờ ngợ. Anh cháu nói không biết vì lý do gì các tay giáo viên nổi tiếng đều được điều về dạy ở đây. Ðến khi đọc một bài báo trên báo Tuổi Trẻ, người ta nói tới vụ chạy cho con em của họ vào lớp Sáu (lớp đầu Trung học) ở Saì gòn bây giờ, tôi mới tin:

Làm hồ sơ giả “chạy” vào trường điểm

Trong căn nhà khá ngăn nắp trên đường Cao Ðạt, người phụ nữ tự giới thiệu là Bích Ngà, đưa chúng tơi lên phòng riêng, bà nói :”Nguyễn Du phải 1000.00 USD đó nha, Thực Nghiệm chỉ 500.00USD thôi”(trích Thời Báo ra ngày thứ bảy, chủ nhật

28, 29-07-2007).

Trình độ học vấn tuột dốc của học sinh đã tốt nghiệp phổ thông ở Việt Nam ngày nay, phản ánh qua các bài thi của các tuyển sinh đã được chấm gần hết, với số điểm rất thấp.

– Tại Hà Nội, Ðaị Học Công nghiệp có tới 84% trong tổng số 4,400 tuyển sinh dự thi bài Văn dưới 5 điểm (điểm trung bình), 5-6 điểm chiếm 10%, 7 điểm trở lên chiếm 5%, còn lại là điển 0/ Ông Hoàng văn Ðiện, Hiệu Trưởng Ð.H Công Nghiệp Hà Nội.

Môn Toán ÐH Công Nghiệp, có tới 46% điểm từ 1 đến 4 %./Ông Nguyễn Ðắc Sử, hiệu trưởng ÐH Giao Thông Công Vận Tải. Ở khu vực Hà Nội, gần 21,00 bài thi, có hơn 1800 bài dưới 2 điểm, chỉ hơn 13,000 bài đạt trên 5 điểm.

30,000 thí sinh môn toán khối A: 0-1 điểm chiếm 16%; từ 1 tới 4 điểm chiếm 46%; từ 4-6 chiếm 30%; từ 6-8 điểm chiếm 7% và 8 trở lên chiếm 1%.

Tại Sài Gòn, môn trắc nghiệm khối A tại các trường ÐH Quốc Gia Hà Nội, ÐH Quốc Gia TP HCM, ÐH Sư Phạm TP HCM, phần lớn dưới điểm trung bình, lác đác mới có điểm 7 và 8. ÐH Kiến Trúc TP HCM, ÐH Bách Khoa, ÐH Khoa Học Tự Nhiên, ÐH Khoa Học Xã Hội, ÐH Nông Lâm điểm thi không cao. Môn toán, ÐH Sư Phạm TP HCM chưa có bài nào được 10 điểm.(báo Pháp Luật ngày 18/7/2007).

ÐH Nông Lâm, môn văn chưa có bài nào đạt 8 điểm. ÐH Công Nghiệp TP HCM, chưa có bài nào 9 điểm. Phần đông chỉ đạt điểm trung bình. ÐH Ðồng Tháp môn toán khối A chỉ có 20% đạt điểm từ 5 điểm trở lên. (Báo Tuổi Trẻ ngày 18/7/2007).

 

Với tình trạng như vậy, một trường Nguyễn Du với các tuyển sinh làm được bài điểm cao, thắng lợi vẻ vang, mất 1000 USD cho con em được vào học lớp sáu ở đó, kể cũng đáng.

Trường Trần Lục thân mến của chúng tôi một lần đổi tên, cái may mắn trong bất hạnh vì đã được mang tên Nguyễn Du, một đại văn hào của nước ta và nay đã lại trở thành một trường danh tiếng. Nếu không có biến cố đó, tới thời cộng sản chiếm Sài Gòn chắc chắn nó cũng bị đổi tên, và biết đâu chẳng mang tên một Nguyễn Văn Trổi thì các học sinh xuất thân từ trường xưa sẽ đau lòng biết chừng nào!

Aug, 2007

 

 

(1) Trần Cao Tường: Khi Ðạo Mang Thịt Xương Việt- Một Công Trình Việt hoá đạo Chúa của Cụ Sáu Trần Lục. Trần Lục trang 75-96 Làng Văn Canada 1996.

(2) Lê Hưũ Mục: Cụ Sáu đối diện với phong trào Văn Thân/Trần Lục trang 374-375. Làng Văn Canada 1996.

(3) Nguyễn Huy Bá:Cụ Sáu Trần Lục một vĩ nhân của lịch sử hiện đại./Trẩn Lục trang 130, Làng Văn 1996.

(4) Phạm Xuân Thu: Tìm Hiểu Hiếu Tự Ca của cha Trần Lục/ Trần Lục trang163, Làng Văn Canada 1996.

(5) Vương Hoàng Linh:Những Nhân Vật nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, nhà xb Văn hoá thông tin VN, Tp HCM 1993.

(6) Trần Công Hoán:Tiểu sử Cụ Sáu Trần Lục, linh mục Nam Tước Phát Diệm tái bản tại Hoa Kỳ 1991.

(7) Lê Hữu Mục: Cụ Sáu đối diện với phong trào Văn Thân, Trần Lục, trang 383, Làng Văn 1996.

(8)Trần Văn Kiệm: Quan lại nhà Nguyễn và Khâm Sai đại thần Trần Lục, : Trần Lục trang 330, Làng Văn 1996.

 

* Cách đây vài năm, nghe nói có nhóm cựu học sinh Trần Lục tham gia trại hè Liên trường tại công viên Cummingham, San Jose, CA, tôi chưa kịp liên lạc thì năm sau không thấy các bạn tới nữa. Tiếc quá. Qua bài này, nếu các bạn có thêm tài liệu gì làm sáng tỏ vấn đề hơn, xin liên lạc với tôi: Vũ Ngọc Anh, email h0linh@yahoo.com (số 0 thay cho chữ o). Hết sức vui.

XUÂN YÊU THƯƠNG

 Chúc Mừng Năm Mới Kỷ Sửu 2009

 

Bài nhận định của nhà phê bình văn học Diên Nghị về Tác phẩm Xuân Yêu Thương

 

    Tập truyện ngắn chọn khung cảnh ngày xuân- nhân vật trong mỗi truyện, ngôi thứ I, cũng là tác giả- Liên hệ, diễn tiến sự việc dàn trải trong những dịp xuân-xa xôi-quá khứ.Thủa thiếu thời, tâm hồn rung động chân thật trước bóng hình khác phái. Tình yêu lứa đôi, nơi chốn thiên đường, nơi người nam nữ lớn lên bằng ý thức, cảm xúc tự nhiên, lãng mạn như Xuân Diệu đã nghĩ: “Nào ai định nghĩa được tình yêu/ Có nghĩa gì đâu một buổi chiều/ Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt/ Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu.” Thản hoặc, nằm thương nhớ đầu đời một ảnh hình nào đó, mà ước mong dụi dàng, ý nhị để được ngọt ngào, nồng ấm hai chữ “anh em” : “Bữa nay lạnh, mặt trời đi ngủ sớm/ Anh nhớ em, em hỡi, anh nhớ em.”

Truyện của Hồ Linh bắt đầu bằng những rung động nên thơ, ghi nhiều ấn tượng khó phai lứa tuổi chớm yêu, nồng cháy, đam mê. “Bông Mai Vàng” vào chuyện, ghi cuộc di cư từ Bắc vào Nam đầu năm 1955. Ðiểm đến Saigon, ngỡ ngàng, xa lạ đối với tuổi niên thiếu học trò. Những khác biệt từ ngữ thông dụng, giao tiếp sinh hoạt hàng ngày giữa Bắc và Nam. Người mới đến học được từ ngữ mới và hiểu ra rằng dù cùng đồng bào, dân tộc, mỗi miền có một đặc thù ngôn ngữ riêng để chỉ gọi một cái chung. Không, Sài Gòn nói là “hổng”, về nói là “dìa”, cây nến là “đèn cầy”à Những âm thanh lạ tai đó, phát ra từ miệng một thiếu nữ xuân thì càng mang tiết điệu ngọt ngào, duyên dáng, dễ nghe, dễ cảm. Những ngày trước Tết, đi chợ Tân Ðịnh, bên kia đường là chợ hoa đào, hoa mai và dọc đường Trần Văn Thạch, Hai Bà trưng cũng có những “ông đồ” trải chiếu viết chữ Nho trên giấy hồng điềunhững câu đối Tết, khách đặt mua khá rộn rịp. Bên cạnh ông đồ là cô gái miền Nam trẻ đẹp. Một cơ hội mau mắn được làm quen với cô. Ðôi mắt to và sáng, môi hơi mỏng, đỏ như tô son. Miệng cười tươi lộ hàm răng đều, trắng bóng. Làn da hồng hào, nổi bật trong chiếc áo bà ba phin nõn, ngực hơi nhô lên, đủ để người ta nhận ra nét thanh tân của thiếu nữ dậy thì. Cô tên Kim Liên. Say đắm người đẹp lần đầu gặp mặt, trộm nhớ thầm yêu, và trong giấc mơ tuổi trẻ, có một ước định dài lâu, nên nhiều lần sau đó đã đến trường tìm kiếm Kim Liên, coi như đã là người yêu muôn thuở. Bẵng đi một thời gian, người tình trong mơ ước đã không còn trở lại. Một tai nạn bất ngờ trên dòng sông Hậu đã cướp mất Kim Liên khi cô về thăm quê.

“Xuân Yêu Thương”. Hàng năm vào mồng 3 Tết, gia đình tôi vào tu viện thăm bà cô đang tu tại đây. Tôi đã gặp một người con gái được các sơ cho ăn diện rất sang, để chỉ tặng hoa cho đoàn người đến viếng. Cô tên Xuân Dung. Một lần vào dịp Giáng Sinh trong nhà thờ, Xuân Dung hát thánh ca, tuổi dậy thì, trổ mã ngời sáng dưới ánh đèn đêm lễ, khiến người thưởng ngoạn không tả siết được khuôn mặt khả ái, với bờ môi mọng hồngà khép mở theo từng lời ca tưởng chừng như đang đứng trước một thiên thần của Chúa. Tôi và Xuân Dung trong tình yêu thầm lặng, dù nàng ở tại trường sơ, nàng thuộc diện mồ côi, nên tình thương đối với nàng rất cần thiết. Tình yêu là hy vọng, là cảm hứng, là ma lực có thể vượt qua mọi khó khăn trở ngại, nhưng khi tha thiết với tình yêu cũng chính là lúc lo sợ tình yêu sẽ mất. Chuyện đến tai mẹ tôi,. Bà mai mỉa vì tôi còn quá trẻ, cần phải học hành để đạt. Tôi hẹn với Xuân Dung hai năm nữa tôi ra trường và cũng để mẹ tôi có thời gian đủ nhìn ra nàng xứng đáng một nàng dâu thảo. Cơ duyên đành ngừng đọng không qua khỏi ngưỡng cửa gia đình do mưu sâu của mẹ. Không đạt được ước vọng xây dựng tình yêu chân thật, tôi nhận được thư vĩnh biệt của nàng “mối tình tầm thường của nhân thế” để theo tiếng gọi dâng mình cho Chúa: “Chúa ơi, Ngài có không biết bao nhiêu là đệ tử đeo những chiếc nhẫn bạc trung trinh rồi, trong khi tôi chỉ có một mình Xuân Dung mà Ngài cũng nỡ gọi thêm nàng sống đời tận hiến”.

“Tiếng Hát Trong Ðêm.” Con hẻm Saigòn thuở ấy, có nhà ban đêm phải dùng “đèn đất”. Gia đình tôi vừa di cư vào đây thực là nghèo. Lương công chức của cha tôi, dè xẻn lắm mới nuôi được năm con còn đi học. Nhà tôi sát nhà hàng xóm chung một vách bằng gỗ. Nhà bên cạnh, hai chị em sống âm thầm. Anh Sáu, em của người phụ nữ, bên kia hàng rào làm thân ngay với chúng tôi lúc tôi mới đến. Tôi nghe được tên người phụ nữ là chị Út. Chị thường thích hát. Tiếng hát nho nhỏ, ngọt ngào. Chị yêu mầu trắng, chị mặc áo trắng bà ba. Ch? rất có tình thương người khốn khó. Chị thấy mỗi đêm tôi ngồi học bên ngọn đèn dầu, nóng nảy, nên chị muốn giúp cho câu điện mà xài. Tự nhiên tôi ngầm cảm phục và mến chị. Một hôm đi học về, nghe chuyện chẳng lành. Chi Út đẫ bị cảnh sát bắt chở đi. Tôi vừa ngạc nhiên, vừa xót xa. Con người hiền lành như chị làm sao mà bị bắt? Thì ra, khám phá ra chị Út mắc bệnh phong cùi. Cách ly chị khỏi xã hội hiện hữu, đến một trạỳi cùi nào đó. Tôi mênh mang suy nghĩ đến thân phận những con người rủi ro, bất hạnh, và những tình cảm thân quen chị Út đã dành cho…

“Hệ Lụy Thuở Xuân Thì.” Hạnh rời xa miền Bắc đã hơn 30 năm, ở lứa tuổi 17, 18. Ba mươi năm qua, bao vật đổi sao dời xảy ra trên miền quê hương hệ lụy, nhưng tình đầu giữa Hạnh và Liên vẫn vướng bận tâm trí Hạnh. Hanh di cư vào Nam sau 1954. Vì hoàn cảnh gia đình, Liên ở lại miền Bắc. Hẹn nhau, nếu Liên không đi được thì gắng chờ 2 năm sau, hai miền thống nhất, “chúng mình sẽ gặp nhau.” Quả nhiên không cứ 2 năm, mà 20 năm sau Việt Nam cũng chẳng có tổng tuyển cử. Ngược lại, thêm một lần nữa, hàng triệu người miền Nam lại phải ra đi, trả giá cho ý nghĩa “tự do.” Hạnh, sĩ quan miền Nam cũng theo dòng di tản ấy. Hơn ba mươi năm xa lìa quê cha đất tổ, nơi sinh ra và lớn lên, Hạnh từ Mỹ trở về chốn xưa giữa một ngày xuân. Tòa nhà của gia đình hạnh nay xơ xác, cũ kỹ, teo tóp hiện ra. Ở một góc phố kia, giữa khí lạnh se da trong nắng hanh vàng, bên gốc phi lao già, Hạnh như mường tượng thấy bóng hình của Liên đâu đó. Hạnh hỏi người bà con về Liên. Chuyện xưa được kể lại trong bùi ngùi chua xót. Liên không còn nữa. Và dạo đó, khi bắt đầu cuộc di cư từ Bắc vào Nam, Liên bị mang tiếng chửa hoang và gia đình ruồng rẫy, không biết ai là tác giả của cái bào thai. Dù gặn hỏi, áp lực, Liên vẫn kiên trì không tiết lộ. Cái bào thai trưởng thành, một nam nhi nay đã quá tuổi 30, não trạng chất chứa căm thù đế quốc Mỹ, bom đạn rơi giữa lòng quê hương và cướp mất người mẹ thân yêu. Hạnh thẫn thờ, hồi tưởng tháng năm nơi xứ người, Hạnh luôn thắc mắc về một buổi chiều cuối cùng với Liên trong hầm tối. Hạnh cố tìm kiếm dấu vết kỷ niệm, sau dâu biển chiến tranh. Tìm lại nét chữ của Liên viết bằng than đen không biết từ hồi nào đã mờ mờ: “Liên + Hạnh = Phúc.” Cùng lúc Hạnh gặp lại Phúc. Sau những thăm dò, thử thách về thái độ, suy nghĩ và tình cảm, trước khi trở về Mỹ, Hạnh đã nhờ người nhà trao cho Phúc một phong bì trong có một nàn Mỹ Kim và mấy chữ ngắn gọn, khuyên Phúc xuống dưới hầm, tìm xem thủ bút viết lên trên vách để suy nghĩ lại về mối liên hệ giữa hai người.

“Niềm Riêng Còn Ðó.” Phượng đấy ư? Tôi thoáng thấy một khuôn mặt rất quen ngồi dựa lưng trước cửa hành lang vào rạp Eden, tay ôm đứa bé ngồi trên gối, trong khi tôi đang chạy lo tìm phương tiện thoát thân trước ngày cuối tháng 4, 1975. Tôi chạy vọt sang, sững trước nàng. Tôi hỏi, nàng không trả lời thành tiếng, mà chỉ gật đầu. Liên tưởng 10 năm về trước, tôi và nàng đã gặp nhau cũng tại nơi này, sau buổi xem chiếu bóng từ rạp Eden ra. Quen và thương nhau. Mối tình không vẹn, Phượng đã phải lấy chồng theo ý của gia đình nàng. Tôi không dám trách nàng đã phụ tôi, tôi tự an ủi chỉ vì duyên số. Bây giờ gặp Phượng giữa phút dầu sôi lửa bỏng này. Gia đình nàng đâu? Chồng nàng đâu? Tôi hỏi Phượng đi đâu sao chỉ một mình. Nàng im lặng, nước mắt ràn rụa, đứa bé hai tay nắm chặt vạt áo mẹ. Tôi lay vai Phượng như cố đánh thức nàng: “Anh ấy đâu mà Phượng lang thang nơi này.” Mãi sau Phương mới khẽ nói: “Ðang đánh nhau ngoài Tân cảng.” Ông anh tôi gọi bên kia đường, tôi chạy, tôi không biết làm gì cho phải, giúp nàng, rủ nàng đià… di tản lúc này. Thương xót cho mẹ con nàng, nhưng hành động này có lỗi đạo đức không trong lúc chồng nàng đang chiến đấu bảo vệ thủ đô được bình yên lúc nào hay lúc ấy.

“Cảm Hoài.” Tôi yêu cảnh chùa, lại vấn vương theo mầu áo nâu sồng một ni cô, có khuôn mặt trắng bóc, đôi mắt long lanh ướt dưới hai làn lông mày mỏng và cong… Tôi không thể không lần mò tới đây, ít ra thời gian cận Tết. Tôi đâu có ngờ trong ngôi chùa cổ lỗ, nghèo nàn này lại có một “tiên cô.” Tôi lần mò đứng dựa cửa nhà trai nhìn vào trong, không nhìn thấy nàng đâu. Tôi liều đưa tay bẻ gãy một bành mẫu đơn gần cửa ra vào. Nàng lộ diện và hỏi tôi: Sao lại bẻ hoa của chùa? Tôi nói rằng tôi muốn có bông hoa cúng Phật. Ni cô dẫn tôi lên tiền điện theo một hành lang tối tăm, tôi như vô tình đi sát bên ni cô, và nắm nhẹ bàn tay của nàng. Sau lần Tết đó, tôi thường đến vãn cảnh chùa vào mỗi buổi chiều, và tôi không lầm, tiên cô thường lấp ló bên khung cửa sổ… mà tôi đoán là phòng riêng của nàng. Thế rồi… tôi nghi nàng đã yêu tôi. Chúng tôi yêu thương nhau vừa một năm thì Hiệp Ðịnh Geneva được ký. Gia đình tôi quyết định di cư vào Nam. Ðêm ba mươi tết tôi đến chùa để rủ nàng cùng đi, nàng lắc đầu khóc lóc và thú thực là cán bộ cùng sư ông xâm nhập vào chùa. Nàng bế ra một đứa bé mấy tháng trời, trao cho tôi: “Anh đưa con chúng ta đi… thay cho em…”

Từ “Bông Mai Vàng” đến “Cảm Hoài”, truyện đầu tiên đến truyện cuối gói ghém tự sự của tác giả từ thùa xuân xanh, tình yêu nam nữ bừng cháy, vội vàng. “Yêu là yêu tất cả/ Sao em còn đắn đo/ Yêu là yêu cái đã/ Sao em cứ hẹn hò” (Tạ Ký). Những mối tình… bắt đầu… không về điểm hẹn- Những nuối tiếc ân hận( Kim Liên trong “Bông Mai Vàng”)- Những mối tình cao cả (Xuân Dung trong “Xuân Têu Thương”)- Tình yêu và khía cạnh đạo đức- Tình yêu nếu đúng nghĩa cũng không thể gần thương tổn đến bổ phận và nghĩa vụ của người mẹ, người vợ, người cha (Phượng trong “Niềm Riêng Còn Ðó. Ni cô trong Cảm Hoài,” Hạnh trong “Hệ Lụy thuở xuân thì”)- Tình người sáng trong của tuổi trẻ, những xẻ chia khốn lụy với tha nhân (Chị Út trong “Tiếng hát Trong Ðêm”) và “Xuân Muốn Ði Hay Xuân Ðang Tới.”

Hồ Linh chắt chiu từng kỷ niệm, từng đầm ấm đậm nét, từng cảm xúc quá khứ xa xăm còn lắng đọng, xây dựng khá linh động chủ đề tình yêu và một thứ triết lý nhân sinh kinh bạc, khác biệt với quan niệm sống thông thường. “Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất/ Ðã cho em, nên anh đã mất rồi/ Em không nhận thì tình anh cũng mất/ Tình đã cho ai lấy lại bao giờ” (Xuân Diệu). Với bút pháp dung dị, lượng sự kiện vừa đủ cho mỗi truyện, gọn gàng, xúc tích, dễ gây rung động người đọc. Bằng kinh nghiệm tích lũ qua quá trình sáng tác, 12 tác phẩm truyện ngắn, truyện dài, tùy bút đã được xuất bản trước và sau 1975 đến nay, đã đưa Hồ Linh lên hàng ngũ người viết khỏe, đều đặn mà cẩn trọng tại hải ngoại. Ðó chính là cung cách, thái độ, suy nghĩ của một nhà văn thật sự tự trọng và tôn trọng người đọc. Tìm một tác giả và tác phẩm như Hồ Linh quả hiếm hoi.

moät nöûa theá kyû troâi qua, moãi khi nhôù tôùi Kim Lieân, loøng toâi coøn thoån thöùc nhö chuyeän môùi xaûy ra ngaøy hoâm qua.

« Older entries