KIẾM MẠNG-TAO LOAN 2-CHƯƠNG I

 

KIẾM MẠNG tức TAO LOẠN II

CHƯƠNG I

Trời đang có cơn giông…Gió ào ào thổi làm rung động mấy lớp cửa chùa. Cảnh vật đột nhiên tối xầm lại.

Vừa thắp xong hàng nến trên bàn thờ Phật, chú Tịnh vội tránh sang một bên vì thấy thày Chân Giác đang lễ dưới bồ đoàn. Bỗng ngoài sân trước tiền điện có tiếng la thất thanh:

– Thày…Thày…

Chân Giác đại sư hốt hoảng cắm vội mấy nén nhang vào bát, lật đật ra ngoài. Không biết có chuyện  gì chẳng lành đã xẩy ra, chú Tịnh cũng vội vã theo sau ngài. Hai thày trò ra đến hàng hiên thì thấy Công Chúa Mai Lan đang ngất xỉu bên thềm.

Và Công Chúa ngã bệnh từ ngày đó.

Trong suốt thời gian trị bệnh và dưỡng bệnh tại Yên Vân am, Mai Lan được bên Chân Giác đại sư thông báo mọi diễn tiến cuộc khởi nghĩa của Giản Định Đế. Nhưng vì là người lo việc đưa tin và nhận tin bằng chim thư, chú sa di Tịnh được biết rằng chỉ những tin tốt đẹp mới đưa sang Yên Vân am mà thôi. Có những lúc , quả thật tiếng trống chiến thắng của nhà Hậu Trần “vang” tới tận Yên Tử bằng vào sự vô cùng xôn xuyến của giặc Minh chiếm đóng vùng này. Một trận Bồ Cô. nơi Giản Định Đế tự cầm chịch trống, thúc đại quân đánh tan cánh viện binh của Mộc Thạnh, chém đầu Lã Nghị khiến cả Kinh Bắc đều hân hoan vui mừng. Nhưng cũng từ ngày đó, các chùa trên Yên Tử Sơn bị kiểm soát gắt gao hơn. Mai Lan cũng muốn làm một chuyến xuôi Nam, nhưng mọi người đều can ngăn, vì bệnh tình của nàng chưa bình phục hẳn, tóc rụng chưa kịp mọc dài. Hơm nữa, do thua trận, quân giặc trở nên vô cùng hung bạo, mọi trục giao thông đều bị canh phòng cẩn mật.

Những giây phút chiến thắng chưa được bao lâu, Chân Giác đại sư nhận được mật hàm về việc Giản Định Đấ bất ngờ giết hại đại tướng quân Đậng Tất và quân sư Nguyễn Cảnh Chân khiến lực lượng kháng chiến bị chia rẽ nậng nề. Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị thấy phụ thân mình bị sát hại một cách oan uổng như thề, nên đã mang bản bộ binh mã bỏ vào Chi La, phù Trần Quý Khoách lên ngôi, tức Trùng Quang nhà Hậu Trần. Một thời gian sau, cũng may là được Đặng Dung gửi tin về cho biết đã thống nhất hai lực lượng kháng chiến bằng cách ép Giản Định Đế về làm Thái Thượng Hoàng. Tuy vậy, sự đoàn kết cần phải có trong lúc này củng đã bị mẻ nặng nề.

Những biến cố đó khiến Chân Giác đại sư vô cùng buồn bã. Trước một lực lượng xâm lăng mạnh mẽ của quân Minh, với những tướng tài như Trương Phụ, Mộc Thạnh, Hoàng Phúc mà quân kháng chiến lại chia rẽ. nghi lỵ nhau quả là một điều  bất lợi cho đại cuộc. Những tin tức này, chú Tịnh biết chắc là không sang tới Yên Vân am. Nhất là sau đó, liên tiếp những tin thua trận của Trần Gia tới tấp theo ngày tháng đưa về khiến Chân Giác đại sư buồn rầu đến ngã bệnh, nằm liệt giường.

Ngày sầu thảm nhất của Yên Tử Sơn là hôm nhận được tin Giản Định Thái Thượng Hoàng bị Trương Phụ bắt được tại Mỹ Lương. Chân Giác đại sư đã thổ huyết, ngất đi cả mấy ngày trời. Sau cùng Mai Lan được ngài mời sang, kể rõ mọi chuyện. Công Chúa khóc nức nở, nhưng nàng cũng không trách đại sư trước đây đã giấu nàng nhiều chuyện. Vì thực ra, nàng có biết cũng không thể làm gì thay đổi được cục diện. Một đàng là lỗi của Giản Định Đế giết hại Đặng Tất, một đàng Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị  vì tình riêng mà bỏ đi. Dung và Dị làm như thế cũng đã nể mặt nàng và Giản Định Đế lắm rồi. Nếu là phường tiểu nhân, hai người thí vua trước để trả thù nhà, sau đó mới kéo quân đi thì ai có thể ngăn cản nổi? Mai Lan chỉ thắc mắc một điều là tại sao Gỉản Định Đế lại có thể làm một việc hồ đồ như vậy…? Muốn đi cứu Thái Thượng Hoàng thì được biết ngài đã bị giặc giải về Kim Lăng mất rồi…Muốn vào nam với lự lượng kháng chiến cũng không kịp vì sau khi Gỉn Định Thượng Hoàng bị bắt, quân Việt đã thiệt hại nặng nề, gần như tan rã nên Đặng Dung đã rút về chiến khu vùng Nghệ An.

Sau lần thất bại này của quân kháng chiến Việt, Trương Phụ đã dùng chính sách vừa dụ dỗ, vừa ra tay sát hại những người vì lòng ái quốc không chịu theo chúng. Làng mạc có kháng chiến quân ần núp đều bị tàn phá. Phụ nữ bị hãm hiếp, trẻ con bị trôi sông, thanh niên bị thảm sát…xác chết đầy đồng. Lời dụ dỗ của Trương Phụ vì thế đã làm xiêu lòng bao kẻ ham sống, sợ chết, những phuờng ham bả vinh thân phì gia mà quên đi tình tự dân tộc…khiến việc tàn sát, bóc lột lương dân càng trở nên tàn bạo hơn.

Không bao lâu, tin cuối cùng rồi cũng đã tới, quân kháng chiến đã thực sự bị tiêu diệt do sự phản bội của tên Việt gian Phan Liêu. Cha tên này vốn là một tướng lãnh của ta, ra hàng , nhưng không may bị chết,Trương Phụ lấy lòng hắn bằng chức tri phủ Nghệ An. Vì muốn lập công, Phan Liêu đã mang tất cả tình hình và nơi trú quân của ta ở Hóa Châu báo với giặc. Vì thế, Trương Phụ đã hoạch định việc tấn công toàn bộ quân kháng chiến. Vua Trùng Quang, Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị đều bị giặc bắt.

Tin này đã làm mọi người đều khóc. Nhưng Mai Lan lại không ngạc nhiên, vì nàng đã tiên đoán được sự thất bại của bên mình. Yên Tử Sơn cho người đi dò la đường giải tù binh của Trương Phụ, rồi hoạch định kế sách giải cứu tù nhân. Toàn bộ lực lượng còn lại trên Yên Tử Sơn đều tham gia. Ngoải Mai Lan, Cúc, cô thể nữ và Lê Lai, người đệ tử thứ ba của nàng, Vô Lưọng đại sư điều động tất cả các sư và sa di lên đường quyết chiến. Nhưng gần một tháng sau, thày trò Vô Lượng đại sư trở về cho biết Vua và các đại tướng quân đều đã tuẫn tiết nên kế hoạch cứu tù bị hủy bỏ. Chân Giác đại sư có hỏi về thày trò Mai Lan công chúa thì được biết thuyền của nàng đã xuôi nam. Mấy tháng sau, Chân Giác đại sư hóa, trao trách nhiệm quản chùa cho chú Tịnh…vì ngoài chú ra, tại chùa không còn vị sư nào, tất cả đã ra đi theo tiếng gọi của non sông.

Thế mà đã ba năm qua, kể từ ngày công chúa Mai Lan trở về Yên Tử Sơn, rồi lại ra đi…chú Tịnh bây giờ không còn là một sa di coi sóc chim thư nũa, mà là Như Giác đại sư chủ trì, nhưng tăng chúng Yên Tử Sơn mười phần chỉ còn một.

Đêm nay, đứng nhìn mảnh trăng thượng tuần nhợt nhạt treo bên viên đình, Như Giác đại sư mường tượng hình ảnh ngày nào, Chân Giác đại sư, Thuần Giác đại sư và Mai Lan công chúa còn ngồi trong viên đình bàn định kế hoạch vào Trường An, những khuôn mặt rạng rỡ của đám thanh niên đang sẵn sàng ra đi vì nghĩa vụ đối với dân tôc Đại Việt anh hùng…Bất giác đại sư buông tiếng thở dài não nuột. Người thấy nơi đây thực quạnh quẽ. Trong chùa chỉ còn mình đại sư và vài chú sa di…bao kẻ đã ra đi không một trở về.

Như Giác lững thững đi quanh vườn hoa, lòng bùi ngùi khi nghĩ đến tương lai đất nước, đến sự suy tàn của Yên Tử Sơn mà không ngăn được giòng lệ.

Bỗng Như Giác đại sư giật mình…Dưới ánh trăng mờ, một bóng người áo trắng xuất hiện lừng lững trước mặt. Một phản ứng tự nhiên, ông chắp tay tụng:

– Mô Phật…

Người lạ tiến lại gần, hơi nghiêng mình đáp lễ.

Như Giác đại sư ngạc nhiên khi nhận ra đó chính là soái tướng của quân Minh triều cả vùng đông bắc này: Bạch tướng quân. Như Giác biết ông này khi còn là một sa di, và chưa từng hội kiến. Tuy nhiên, đức độ và lòng khoan dung của vị tướng quân này đối với bản tự, Như Giác cũng từng biết. Nhưng lần gặp gỡ bất ngờ đêm nay không khỏi khiến cho đại sư bối rối:

– Bạch tướng quân, không biết trước ngài quang lâm để nghiênh đón, thực thất lễ…

Như Giác vừa nói, vừa tránh sang một bên như nhường bước. Viên tướng quân họ Bạch khoát tay từ chối:

– Xin đại sư đừng khách sáo…Bản tướng đêm nay đến đây có chút chuyện muốn thưa với ngài…

Giọng hòa hoãn của Bạch tướng quân khiến Như Giác lấy lại nình tĩnh:

– Chẳng hay tướng quân có điều gì chỉ giáo?

Bạch tướng quân bỗng hỏi:

–  Yên Tử Sơn còn bao nhiêu tăng chúng?

Câu hỏi bất ngờ khiến Như Giác đại sư chưa biết trả lời thế nào…Nói thực ư…nói dối ư? Cả hai đối với ông lúc này đều khó…

–  Thưa…

Sự lúng túng của Như Giác không qua được mắt của Bạch tướng quân, ông ta khẽ cười:

–  Xin đại sư yên tâm…tôi hỏi thế, nhưng cũng biết một cách đại khái rồi.

Như Giác thấy không tiện nói khác sự thực:

–  Thưa, chẳng nói tướng quân cũng thừa biết…Tính cả chín ngôi chùa của chúng tôi hiện nay không quá ba mươi người lớn bé, già trẻ…

Đột nhiên viên tướng Minh khẽ thở dài:

– Vậy…họ đã ra đi mà chẳng mấy ai trở về…!

Câu than của Bạch tướng quân khiến Như Giác tỉnh ngộ. Thì ra viên tướng này đã không lạ gì những chuyến đi lén lút của bên mình từ mấy năm qua, ông ngập ngừng hỏi:

– Sao dạo đó tướng quân không ngăn cản chúng tôi?

– Tôi tôn trọng lý tưởng cao đẹp của quý vị.

Câu trả lời làm Như Giác vô cùng sửng sốt, không nói nên lời.

Hai người đạ đi gần đến viên đình. Như Giác nói:

– Nếu không vội, xin mời tướng quân vào trong nghỉ chân để bần tăng được hân hạnh hầu chuyện.

Bạch tướng quân theo vào, tự nhiên ngồi xuống ghế đá, nói:

– Ngày Chân Giác đại sư về Tây Phương, bản tướng không tới phúng viếng được, thật đáng tiếc.

– Xin cảm ơn tướng quân có lòng với sư phụ tôi.

Viên tướng Minh nhìn Như Giác, nói:

– Đại sư là lớp người còn quá trẻ của Phật Giáo An-Nam mà đã phải gánh vác trọng trách này…bản tướng thực bội phục.

Như Giác biết ông ta muốn nói cái địa vị chủ trì bổn tự của mình, nói:

– Bần tăng không dám nhận lời khen của tướng quân, bất quá…

Viên tướng như không nghe thấy câu đáp lễ đại đại sư, ông ta nhìn ra xa, khẽ thở dài:

– Còn Mai Lan công chúa…chắc nàng cũng không trở về đây nữa…

Như Giác giật mình, chưa biết nói sao, chỉ hỏi bâng quơ:

– Tướng quân biết công chúa chúng tôi?

Viên tướng như nói một mình:

– Từ ngày đó, tôi chẳng được gặp lại nàng một lần…Tôi đã hỏi thăm về nàng từ những người ở thôn dưới núi. Tôi thực vô duyên.

Như Giác đại sư cũng biết được câu chuyện đụng độ giữa hai người năm nào, nên không biết nói sao, chỉ ngồi im lặng, chăm chắm nhìn khách, lòng thực bâng khuâng.

Bỗng Bạch tướng quân đứng dậy, nói:

– Đại sư, tôi sắp về bản quốc. Mai này, khi tôi không còn ở đây, mọi chuyện cần phải thận trọng…Phật Giáo của cả hai nước chúng ta đều đang gặp ách nạn…

Như Giác không hiểu hết lời khách, nói mau:

– Tướng quân về kỳ này chắc được thăng quan…bần đạo xin chia vui cùng tướng quân.

Bạch tướng quân lắc đầu, hạ thấp giọng:

– Đại sư lầm rồi…tôi hồi hương để xin từ quan.

– Từ quan?

– Phải. Cõi đời ta bà này tôi đã nếm qua. Ngày xưa, Đức Phật Thích Ca mới chỉ thấy được cảnh nghèo khó, lầm than của những người bình thường…trong một quốc gia thái bình, một dân tộc an cư, lạc nghiệp…mà ngài còn xót xa đến nỗi từ bỏ cả ngai vàng để đi tìm sự giải thoát cho đời. Huống chi ngày nay, tôi được mục kích những cảnh thống khổ của cả một dân tộc trong cảnh nước mất, nhà tan. Tôi đã thấy tương lai đen tối của Phật Giáo không những riêng An-Nam mà cả của Trung Quốc nữa…Vì thế, tôi đã quyết định trở về quê hương từ quan, xuống tóc!

Như Giác như không tin ở tai mình, vội hỏi lại:

– Xuông tóc?

– Vâng. Tôi không nói dối đại sư đâu. Tôi hy vọng sau này, nếu có dịp may sang đây nữa, tình thế giũa chúng ta sẽ khác đêm nay…

Câu nói thực mơ hồ, nhưng Như Giác cũng hiểu được thiện ý của người:

– Bần tăng cũng mong như thế.
Bạch tướng quân thong thả rời viên đình. Như Giác đi bên cạnh, lòng rất hoang mang, chẳng lẽ Phật đang trước mặt…Điều nhận xét đó có quá đáng không? Yên Tử ngày nay đã bắt đầu suy tàn, nhưng lời nói của Bạch tướng quân là những lời an ủi vô cùng quí giá.
Bạch tướng quân dừng bước, quay sang Như Giác, ôn tồn nói:
– Tình thế đã vậy, đại sư cấn phải thực mềm mỏng để giữ cơ đồ Yên Tử Sơn. Tôi đã định gặp Vô Lượng đại sư, nhưng ngài đang bệnh, rất khó khăn thông cảm được lời tôi nói. Thôi, xin cáo biệt…Nếu sau này công chúa của Trần gia có về Yên Tử, xin cho tôi gửi lời thăm hỏi và từ biệt nàng…
Dứt lời, một thoáng, bóng viên tướng Minh đã khuất sau tàng cây mờ tối.
Như Giác đại sư ngần ngơ nhìn theo…
Bóng trăng đã khuất sau núi đồi, không gian trờ nên u tối, tịch mịch. Như Giác thở dài, trở vào trong chùa mà lòng vô cùng xao xuyến.

Hết Chương Một
Xin hẹn sẽ tiếp.
(Còn tiếp)

09;’./09IO9O/,…

/

Advertisements

Những Truyện Ma Huyễn Hoặc của Hồ Linh & TAO LOAN 2 và Nhiều nữa…

        Kính chào quí độc giả vào đọc Website

                                của HỒ LINH

Ai đã đọc TAO LOẠN của Hồ Linh, xin vào trang WEB  holinh.Wordpress.com đọc tiếp TAO LOẠN II TỨC KIẾM MẠNG cũng của Hồ Linh.

TRUYỆN MA HUYỄN HOẶC của HỒ LINH

Truyện Ma khi đã đạt tới mức không làm cho độc gỉả sợ hãi sẽ trở thành một loại truyện huyễn hoặc. Ở đây, độc gỉả tìm thấy chính mình trong cái mênh mông vô hạn của thần trí.

Đọc truyện Ma của Hồ Linh, không phải về miền quê hẻo lánh ở thuở thuở nào, bên bờ sông lau lách, trong tha ma mộ địa, mà thấy Ma trong nhà của mình.

Từ 1985 đến nay, Hồ Linh đả có sáu tác phẩm truyện Ma huyền hoặc sau:

1/ Ma Cỏ

2/ Thung Lũng Ma

3/ Như Khói Như Sương

4/ Đêm Nguyệt Rằm

5/ Nhan Sắc Mấy Độ

6/ Hà Nội Ảo

Và những tác phẩm truyện dài NHỮNG NGÀY ĐẪM MÁU, CÔ NỤ, THÉT GIỮA HOÀNG HÔN, TÁNG XÁC TRÔI SÔNG, TÙY BÚT HỒ LINH, KHÉP MẤT BÌNH MINH, XUÂN YÊU THƯƠNG trong tương lai BÍ MẬT THÀNH SODOMA.

sắp tới đây, chừng cuối năm 2008 sẽ ra mắt cuốn thứ 7 Hồn Phương Nam.

Hơn một truyện Ma, độc gỉả được thấy cuộc sống của người tị nạn cộng sản, phiêu bạt, ngơ ngác giữa một xã hội có nếp sống, phong tục, tập quán xa lạ. Ôi những ngày xưa đáng nhớ khi ta đặt chân lên một vùng đất mà Nhân Quyền được tôn trọng, Tự Do được bảo đảm. Không còn cảnh sống giở, chết giở nơi vùng kinh tế đói khổ nhọc nhằn;  đầu đường xó chợ, bị coi như con chó ghẻ cần phải xa lánh trong cái xã hội chủ nghĩa, tội đồ của bè lũ tay sai, ngạo mạn và vô học của tập đoàn cộng sản Nga Xô, Trung Cộng.

Muốn có những tác phẩm này, xin liên lạc số điên thoại (408) 947-1101

hoặc  Email: h0linh @yahoo.com (chữ o trong H0linh là số zero).

Mỗi cuốn không quá $8.00 kể cã cước phí gửi.

BÍ MẬT SAU VƯỜN ***

HỒ LINH

                               BÍ MẬT SAU VƯỜN

    Ngôi bit th kiu Victoria đ s chiếm hn mt góc ph. T my năm nay, tòa nhà này tr thành mt khu nursing home khá sang. Tám căn phòng rng rãi mi phòng kê ba chiếc giường cho ba c già nm. Tường bên trong được sơn mu xanh nht, có ánh sáng đèn phn chiếu du mt, vi nhng chiếc nm dy, khăn tri giường bao gi cũng trng bóc, ngày đêm có y tá túc trc săn sóc, mi ngày có bác sĩ đến khám bnh tng quát, khiến cho khách đu tm tc khen ngi, nht là thân nhân các c, ai cũng…yên tâm đã có nơi tt đ các c hưu dưỡng.

    Sau tòa nhà là mt bãi c xanh mướt, dưới nhng gc thông rp bóng mát, my chiếc ghế đá xếp đt quy c, bên nhng khóm hng hoa n tươi thm là nơi các c thường ngày ra phơi nng, ngh ngơi. Cng vào làm bng st, khá ln, đóng m theo gi gic nht đnh đ các c không b khách kha làm phin nhiu trong khi ngh ngơi.

    V Giám đc, bà Garcia Martinez, mt bà trung niên, khe mnh và rt bt thip, du dàng, lúc nào cũng tươi cười, ai mi gp là có cm tình lin.

 Mary được thâu nhn làm ti đây vào bui chiu như là mt kế toán viên bán thi gian vi s lương khoán mt ngàn đng thêm ăn ba cơm ti trước khi v. Thc là mt second job rt tt cho nàng. Mary được biết, hàng tháng, bà Garcia được tt c mi người đây y quyn ti văn phòng xã hi hoc các hãng bo him ly pay check cho h. Có người còn giao hết s tin y đ tùy tin bà ta tiêu xài cho h khi h cn ti. Vì thế, tin nhp hàng tháng gi vào account ca vin khá ln.

    Làm vic được hơn hai tháng, Mary ngc nhiên khi thy s chi phiếu gi vào ngân hàng nhiu hơn s người già trong tám căn phòng, tc hai mươi bn người. Ngoài ra, bà Garcia va dy nàng cách làm t khai y tế gi đi đòi tin bi hoàn các phiếu medicare tr cho ông bác sĩ cng tác vi bà săn sóc sc khe cho nhng c đây. Ngày nào cũng có sáu, by người đau được bác sĩ khám. Có nhng phiếu trình vào c nhng gi gic nàng có mt đây…nhưng Mary chng thy bác sĩ khám bnh cho ai c.

    Mary gi cái thc mc đó kín nhim trong lòng.

    Nhng ngày ngh cui tun thường có khách ti thăm. Nhưng xét đi xét li, Mary ch thy chng mươi c có thân nhân còn phn đông là ch li thi ngi mt mình. Bà Garcia tiếp khách trnh trng, các thân nhân gp các c, hi thăm chuyn này, chuyn n, đu được tha mãn s săn sóc chu đáo ca vin hưu dưỡng. Nhng ngày này, Mary thường ti đ ph giúp vi hai cô y tá Jenny và Lori. Hai cô này chc làm đây đã lâu, nên hình như không cn phi nhn ch th ca bà giám đc, c lm lì thay đ sch s cho các c, đưa sáu by c ra vườn ngi chơi ngoài ghế đá hoc làm ra v bn bu săn sóc sc kho cho mt vài c.

    Có hôm, mt c b xu ngay lúc thân nhân ti thăm. Mc du, tun trước, bà c này ch được khám bnh mt ln, nhưng khi thân nhân lo s hi v tình trng sc khe ca c, bà Garcia đưa h sơ bnh lý ra và nói là ngày nào cũng có bác sĩ chăm sóc, thế mà c này cũng gt đu xác nhn. Mary biết bill gi đi đòi tin hãng bo him năm ngày…mà kỳ thc ch khám bnh có mt ngày mà thôi. S cách bit v tin bc lên ti c ngàn đng trên mi đu người. Đó là khi đim ca nhng nghi ng v công vic làm ăn m ám ca cơ s này.

    Đến tháng th ba, mt bui chiu, khi ti làm vic, bà Garcia không có nhà, nhưng trong mt ngăn kéo bàn làm vic, Mary thy mt tp h sơ cũ k. Nàng vô tình m ra xem đnh đ còn tr li v trí ca nó. Không ng, Mary thy nhng bn sao nhng tm chi phiếu SSI ca s xã hi tr cho mt ông c vào nhng tháng qua…nhưng điu ngc nhiên ông c li là người th tư nm trong phòng s 2, mà thc ra, phòng đó ch có ba ông Victor, Andre và Tom. Người th tư, c Micheal này không  có  mt!   Mary  đ  tr  li  h  sơ  vào ngăn

không có mt! Mary đ tr li h sơ vào ngăn bàn như cũ, lòng  hết  sc  phân  vân v nhng cái chi phiếu

 được lãnh mà thc ra không có người. Lúc bà Garcia v, Mary như vô tình không biết bà ta đ quên h sơ ca người mang tên Micheal. Qu nhiên, mt trước, mt sau, bà Garcia ly cái h sơ đó đi…ri ct vào trong mt ngăn t có khóa. Ngày hôm sau, trong đng thư t s gi đi, Mary thy có mt cái mang bao thơ khá dy tên người gi là Michael Hanson…gi cho s Xã Hi…Loi thơ này, sau này, Mary biết là h sơ xin li tin SSI và Medicare.

    Tháng th tư Mary làm vic đây là tháng Mười hai. H sơ kế toán phi kết thúc vào cui năm, nên Mary đôi khi phi ti đây vào bui sáng đ làm thêm gi cho xong công vic. Bui đu tiên, Mary không thy hai cô y tá đâu, mà ch có mt m người M chy đi chy li lo cho hai mươi my c già. Trong h sơ tính tin, thì hai cô y tá phi thường trc có mt ti nhà hưu dưỡng. Đến nhng ba ăn Mary mi git mình vì nếu so vi nhng khon chi trong s sách, nó ch đáng giá mt na. Quanh đi, qun li cũng ch có khoai nghin, trng, bacon, rau ci. Tht tươi mà ngày nào cũng khai là có…không biết nó đi đâu mt. Suy ra thì t bác sĩ , y tá ti thc phm và có th c thuc men na, bà Garcia đu khai man đ ly tin các c. Có điu là cũng phi có vài c sáng sut biết được vic đó…nhưng l lùng là không có ai hé ming phàn nàn…nht là vi nhng người có thân nhân thường đến đây thăm viếng. Mary suy nghĩ mãi cũng không tìm ra câu tr li.

    Cho  ti  mt  ngày  th  by, c Phillips bung s 6

có người con trai xa v thăm. Khi nói chuyn vi bà Garcia, ông ta thy ông b gy gò quá, có hi v vn đ m thc, bà Garcia k tràng giang đi hi đ th t là súp gà, beef steak, khoai chiên, cá tuna v.v. Bng có mt lúc, như có dp tưởng bà Garcia không đ ý, ông c nhìn con…hơi lc đu trước s ngc nhiên ca ông con. Nhưng nhanh như ct, bá Garcia nhíu mt nhìn li c Phillips, khiến ông c bn ln nói nh:

    – “Có đ c đy…nhưng già ri, ăn không được bao nhiêu.”

    Bà Garcia cười:

   – “Ông yên tâm t ba ti chúng tôi s xin bác sĩ cho c mt loi vitamine nào thích hp đ c ăn được…nhiu hơn,” Bà ta va nói, va cúi gn mt c Phillips, kh tiếp: “C yên lòng ch?”

    Mary rt đ tâm ti trường hp này, nht là nhìn thy ánh mt ca c Phillips nhìn người con ra khi đây…mt ánh mt vô cùng lo lng!

    Bà Garcia đ tâm tin khách nên không nhìn thy Mary đng ca phòng làm vic nhìn ra.

    Trưa hôm sau, trong lúc Mary đang làm vic, bng nàng nghe thy nhiu tiếng n ào ngoài phòng ăn. Nàng ra gn ca, lén xem có chuyn gì xy ra. Lúc đó, c Phillips mt mũi xanh rn, va ói ma, va lăn ln dưới sàn nhà, mt trn ngược, bt mép xùi ra c đng. Chung quanh là các c khác, mt c nào cũng ht hong, s hãi.

    Lúc đó, bà Garcia đng gia nhà, trng mt nhìn c Phillips, nói:

    – “Đó, không nghe li tôi thì my người s khn kh…Phi biết yên phn…tôi lo cho các người sng vui hết tui già đây…còn hơn các người sng vt vưởng công viên. Đng mong con cái chúng nó lo cho my người.” Mt bà trn ngược, m trng trng nhìn tng người, vi v hung ác, lnh lùng, khác hn nhng li du dàng, mơn trn khi có mt thân nhân ca các c.

     Thì ra vì cái ti hôm trước mà ông c Phillips b trng pht. Khi đó, c Phillips run lên tng chp, mt m trng trng, ming vn tiếp tc nôn khan. Mary không hiu bà ta làm cách gì khiến c Phiilips b rơi vào tình trng sng d, chết d như vy.

     Sau khi như mun đi đ mi người thm đòn, bà Garcia mi ly ly nước cam… có sng trên bàn, sai m người M cho c Phillips ung. Ung hết ly nước đó, chng mươi phút, tình trng c Phillips dn dn kh quan hơn…c tnh li…và như người không có bnh tt gì. Các c gii tán v phòng, nhưng tuyt nhiên không có ai phàn nàn, bình phm gì v li l ca bà Garcia…như h đã biết s vic t lâu.

    L thc.

    Mary v phòng làm vic, lòng vô cùng hoang mang. Nhiu lúc, nàng lo s, không biết mình đang làm vic vi hng người nào…vì chiu hôm đó, bà Garcia li vui v, du dàng như chưa h có mt bui trưa…như bui trưa hôm đó.

    Trong vin không có mướn người làm vườn, ngoài mt anh ct c hàng tháng ti cho xe ct chy mt vòng vườn sau. Bà Garcia thường mang xng, cuc ra vun bón my gc hoa. Bà ta nói đó là cái thú thanh nhã mà

mt người vào tui ca bà rt thích. Va gii trí, va đ tn tin.

    Ngày L Giáng Sinh, nhà hưu dưỡng tưng bng nhn

 nhp. My ca đoàn t đâu ti ca hát cho các c nghe. Thân nhân cũng như s xã hi c người vào thăm. Bà Garcia chiêu đãi hết sc lch s và rng rãi. Đ ăn, thc ung cho khách ti dùng đy p my bàn. Ai ai cũng nhn được quà khiến h đu tm tc khen ngi bà Garcia là người tuy làm business, nhưng đc bit có lòng giúp đ các c trong tui già. Mary cũng thế, trước khi v ngh hai ngày l, bà Garcia tng nàng mt hp trang đim đy đ phn son, bút k lông mày, nước hoa…và mt chai nước táo, th mà nàng rt thích và hay được ung đây sau mi ba ăn ti.

    Bà Gracia thân mt nói:

    – “V ngh cho khe, mai mt còn kết toán s sách đ mình khai thuế li tc cui năm. Mùa này khí hu thay đi bt thường, nếu thy bn thn, chóng mt thì ung mt ly nước táo này s hết lin…có nhiu vitamin, rt tt cho cơ th các bà, các cô,” Bà ta nháy mt: “Nh, đng có quên.”

    L chưa, trong hai ngày ngh, đúng như li tiên đoán ca bà Garcia, c đến chiu…Mary li cm thy người có gì bt n. M hôi toát ra, bun nôn, người như không còn sc, chóng mt, bi hoi tay chân. Có l khí hu đc, như kinh nghim ca bà Garcia, Mary nh li bà ta, vi ung mt ly nước táo, nm ngh chng mươi phút, nàng tr li tình trng bình thường, khe ru.

    Có gì l trong ly nước này?

    Mary nhìn sâu vào cái ly nhíu mày nghĩ ngi.

    Ngày tr li làm vic, Mary thy có mt người vng mt: ông Bob phòng 6. Hình như không ai quan tâm ti s vng mt này. Nhưng đến cui tháng, chi phiếu SSI ca ông ta vn được lãnh. Có th ông này được thân nhân đón ra ngoài vào dp l, và chưa tr v chăng.

    V vng mt ca ông c Bob chưa làm cho Mary hết ngc nhiên thì hôm sau, giường ca ông Bob đã có mt ông c khác thay thế. Người mi chiếm giường c Bob, và c này được làm h sơ vào chiếc giường th tư vô hình trong phòng.

    Ông c Wu là mt người Trung hoa, mt đã m, trông rt thiu não và yếu đui. Cô y tá có vào cho ông ta mt bch nước bin sau khi được bác sĩ khám sc khe. Có mt vn đ làm mi người bàn tán là c này có mt con chó đen già nua, trước đây vn thường dn đường cho c ta mi khi ra ngoài. Nghe li khai thì c y đang vi mt thân nhân, nhưng vì vn đ công ăn vic làm, gia đình n phi dn đi tiu bang khác…và không mun đưa c Wu theo. Vì thế, h mi đưa c ta vào đây. Mc du ông c năn n, bà Garcia không chu cho con chó trong vin hưu dưỡng, ngược li, c Wu không mun cho nó vào s giam gi súc vt Humane Society… c s con vt thân yêu b giết…vì chc chn trong ba ngày không có người nào xin con chó va già, va xu xí đó v nuôi.

    Cui cùng, đ gi khách hàng, bà Garcia nói là gi con chó cho người ta nuôi dùm…khi nào ông c không đây na, s ly nó v. Nhưng theo như Mary biết, bà Garcia chng gi ai c, mà đã đui nó ra ngoài đường. Ai cũng biết mt con chó ln như thế, chy lang thang ngoài l, chc chn cnh sát s báo cho s giam gi súc vt bt nó đi tc khc…

    Chc ai cũng biết vy, nhưng đu gi im lng.

    Mùa mưa kéo ti, tri sp sùi sũng nước. Tính ra, Mary làm đây đã sáu, by tháng. Nàng thy công vic coi b không làm lâu được. Nhim v tuy không có gì vt v, nhưng tâm thn nàng bt n khi gp nhng s vic…có v bt thường…

    Ông c Bob vn chưa v, nhưng chi phiếu ca ông c được lãnh ti tháng th ba. Ri ti mt ngày, c Wu cũng không còn đây na. Đi lúc nào mà Mary không hay? Nhưng bà Garcia vn không ra lnh cho nàng b h sơ ca ông c vào danh sách nhng người đã xut vin hưu dưỡng. Trường hp cũng không khác vi ông Bob khi trước, nghiã là các tm chi phiếu SSI vn v hàng tháng.

    Đã có lúc, Mary lén hi chuyn này vi c Ken, mt người cùng phòng vi c Wu, thì c này cười, ngp ngng nói: “Ô, ông ta đi đâu mc xác ông ta…thc mc làm gì cho bn tâm…”

    Bn tâm…? Còn hơn na…vì cui tháng đó, chi phiếu SSI ca c Wu vn được gi vào ngân hàng ca vin hưu dưỡng.

    My bà già thì hay bép xép lm. Mary lân la nói chuyn vi bà Jenny phòng by, gn cui hành lang. Phòng ngày hơi ti tăm, m thp, mi khi có dp là ba bà thường mun ra ngoài vườn hóng gió trong nhng ngày hè…và tm nng vào nhng trưa mùa thu…

    Ly bàn tay qut qut trước mũi, như mun xua đui cái mùi hôi thi trước mũi, bà Jenny than:

    – “Ra ngoài thoáng thc, nhưng nhiu hôm hôi thi quá,” Bà nhăn mũi, lc đu: “Không biết bà ch bón cây bng th phân gì mà hôi…như mùi cóc chết!”

    Bà chung phòng Kelly cau mày:

    – “Nhiu hôm chúng tôi không dám m ca s na!”        Bà ta ly tay qut không khí trước mũi, tiếp: “Nht là vào nhng ngày mưa xung, nng lên…như hôm qua chng hn.”

    Tuy nói thế, nhưng my c không dám than phin.

    Mary biết ngoài phân bò “tươi”, mt s phân cha nhiu cht uy-rê cũng có mùi hôi khó chu…nhưng my cm hng thì đâu cn đến loi phân này.

    Ri mt ti, tri mưa như trút nước, vì đang b cúm, m người M phi ngh vic, bà Garcia yêu cu Mary li vin giúp bà ta mt vài đêm.

    Ti hôm đó, sau khi ngn đèn cui cùng trong các bung tt, Mary bng cm thy toà nhà như ta ra mt không khí vô cùng lnh lo và bí mt. Tt c nhng thc mc, nhng âu lo mà nàng tng có t trước ti này hu như khơi dy cùng lúc mt cách rt mãnh lit. Nàng thc khó nhm mt ni, nht là trong đêm, thnh thong có nhng tiếng ú ca my c già mê sng vang lên trong my dy hành hành lang vng v. Đt nhiên có tiếng chó tru bên ngoài hàng giu vườn sau nghe rn rn đến ni da gà. Mary hong ht vén màn ca nhìn ra ngoài. Dưới ánh đèn vàng vt, mưa bay giăng giăng, nàng thoáng thy bóng mt con chó đen đang tìm cách nhy qua b tường đ vào vườn. Con chó nào đây? Ca ông già Wu đó chăng…Nó chưa b bt sao? Có l tri mưa ln quá, con chó không chu ni nên phi b cuc.

    Tin thi tiết cho biết tri vn tiếp tc mưa cho ti cui tun, và ngày kế tiếp. Bà Gracia ti mun hơn mi ngày vi mt người làm mi, mt ph n trung niên tên Stephanie, đ thay thế m M. Bà này có v hơi chm chp, coi b không phi là người giúp vic chuyên nghip nhưng làm vic cn thn hơn m người làm cũ. Vic nng nhc nht là thay khăn tri giường cho các c vào mi bui sáng sm, và khác m M trước đây, vic gì cũng được bà Garcia đ mt tay. Vic săn sóc thuc men, lo v sinh đã có hai cô y tá. Bà ch hu như mun gim thiu ti đa người làm trong vin. Vì keo kit hay vì lý do nào khác? Truyn người ta, Mary thy không nên đ tâm ti.

    Bà Gracia mun Mary li thêm vài đêm na…Mary nghĩ có l vì bà Stephanie là người làm mi chưa đáng tin cy lm chăng. Bà ta s tr tin gi overtime cho nàng. Mary thy chuyn này cũng không tr ngi gì cho nàng nên vui v nhn li.

    Ln th hai, Mary nhn li li ban đêm ti đây.

    Bui trưa, bà Garcia vào phòng làm vic ca Mary, xem xét li s sách kế toán trước khi khai thuế li tc. Bà ta rt va ý khi thy li tc khai trong s sách không quá hai chc ngàn. Nhng chi phí, nht là v tin tr cho ông bác sĩ và tin ăn ca các c là nhng món tin khu tr quan trng.

    Vô tình, Mary but ming hi:

    – “Thưa bà…nhng c không còn đây…nhưng pay check ca h vn được ký gi ngân hàng trong trương mc ca vin…s không n…nếu bà còn mt trung tâm khác thì nên chuyn nó v nơi h …thì đúng hơn.”

    Bà Garcia trng mt nhìn Mary làm nàng hơi bi ri.     Mt lúc sau, bà ta nói:

    – “Tôi là ch…cô ch làm nhng gì tôi giao phó, đng

 có nhiu truyn!” Bà ta cau có, đi li trong phòng, lm bm: “Nhiu chuyn…nhiu chuyn!!!” Nói xong, bà dng li, nhìn Mary như cnh sát nhìn phm nhân.

    Mary không ng bà ta bt bình đến như vy, nên vi nói:

    – “Xin li bà…tôi ch nói vì …s an toàn v phương din thuế má thôi. Nếu bà không bng lòng, xin b qua cho.”

    Bà Garcia không nói gì na, ch “h” mt tiếng ri b đi mt cách gin d.

    Mary nhìn sau lưng bà ta, lòng hơi lo lng.

    Ba cơm ti hôm đó, Mary ngc nhiên vì thay vì nước táo như mi khi, nàng được ung mt ly nước cam.

    Sau đó chng na gi, Mary bng cm thy trong người nôn nao khó chu. Ri tình trng nhc, bun nôn tr nên d di đến đ nàng th không ra hơi, đ ăn b tng ra thc tháo, vương vi đy nhà, mùi bc lên thc hôi hám. Nàng nm lăn trên thm, ôm bng vt vã. Đang lúc ngt ngư, cht có đin thoi ca bà Garcia. Ch nghe tiếng tr li ca Mary, bà ta đã biết nhng gì nàng đang phi chu đng, nên cười khy, nói gn tng tiếng:

    – “T nay cô đng có lm chuyn…ch biết làm vic, còn cái ming phi câm li nếu không cô s phi sng d, chết d vi tôi.”

    – “Xin bà tha cho.” Mary ch đ hơi nói câu đó, ri buông ng nghe th dc.

    Chng năm phút sau, năm phút mà Mary tưởng dài ti my tiếng đng h, bà Stephanie mang vào cho nàng ly nước táo mi ngày. Bà ta ti nâng nàng dy và giúp nàng ung hết ly nước. Bà người làm b ra sau khi đóng ca phòng, và đ mc Mary nm ngh trên sàn nhà.

    Nm chng na gi, Mary ngi dy được, nhưng đu óc còn choáng váng. Chng mt gi sau, nàng mi có th đng lên dn dp my ch đ ăn b ói ra lúc trước. Sut đêm hôm đó, Mary nm nghĩ v hoàn cnh ca nàng. Và bây gi…nàng mi hiu ti sao my c trong vin này…phi im ming. Nàng nh li cnh ông già b bà Garcia hành h trưa hôm nào, tình trng không khác nàng hôm nay…Mi người sng trong này, k c nhng người làm như nàng, như m M, như hai cô y tá đã b ung mt th “đc dược” gì đó…mà nếu sau này thiếu nó, cơ th s b hành h như nàng hôm nay…Nó có th là mt loi “drug” như cocaine chng hn…Cht này được pha trong các ly nước đ các nn nhân ung trong mt thi gian đến nghin nó…và nếu b ngưng ung, người ta s b nó “vt” cho ngt ngư như thế đó. Mun thoát khi cnh này…mình phi biết loi đc dược này là loi gì mi…”hoá gii” được. Đêm đó, Mary quá mt, nên ng thiếp đi ti sáng.

    Ngày hôm sau, bà Gracia tr li vin, vui v chng khác mi khi, coi như không có chuyn gì xy ra. Nhưng, mt quyết đnh mi cho Mary…là nàng s được mướn “full time” vi s lương khá là hai ngàn rưởi mt tháng. Mi tun nàng s phi trc hai đêm và ph giúp thêm ít vic vi bà Stephanie. Trong tình thế này, Mary cũng phi gi v vui thích vi quyết đnh đó. Khi chưa biết rõ cách nào thoát ra khi đây, chưa có đ bng c đ t cáo bà ta thì phi yên phn th thường cái đã. Nàng đnh bng s lén ly mt ít nước táo v đ mang đưa đi phân tích xem trong đó là loi ma túy nào gì, có biết rõ mi có th tìm cách gii…

    Tri mưa sang ngày th ba, bui sáng, bà Gracia cho Mary biết bà đnh s đi vacation ba ngày, và yêu cu Mary phi li vin ban đêm. Hai cô y tá làm thêm vic dn giường. Ông bác sĩ ti thăm bnh ri cũng v sm. Nhưng bà Stephanie thì bn rn mãi ti khuya, và v lúc nào Mary cũng không hay. Nàng cm thy mình đã làm nhiu vic ngoài bn phn chính ca mình. Nhưng vì nhà neo người, nàng cũng phi chp nhn.

   Ngày th năm thì mi vic trong vin hình như dng li. Y tá và bác sĩ đu ngh, bà Stephanie ti dn dp sơ qua ri cũng v. Hình như h coi bn phn ca Mary phi tiếp tc đây cho đến khi bà Garcia v. Ti khuya, gió thi mnh, sm chp đy tri. Mary sau khi kim soát các ca trong vin, nàng đi qua các phòng, đếm tng giường có người nm. Tt c, ch có hai mươi hai người hin din. Nàng tr v phòng làm vic, mang s sách ra dò li, mi thy s người vng mt như c Bob, c Wu có ti hơn mười người…Có người tin social security lên ti hơn mt ngàn. Bt cht, Mary nhìn ti cái ngăn kéo b khóa kín…mà trước đây bà Garcia lén ct h sơ ca mt người mang tên Michael, nàng c gng git th my ln, không bung được ổ ra, số hồ sơ lãnh tiền lậu này đã có từ lâu…và số tiền chắc chắn rất lớn.         

    Bỗng có  tiếng  chó tru bên ngoài.  Mary nhớ tới con

 chó đen của cụ Wu. Nàng hé cửa sổ nhìn ra ngoài. Chính nó! Con chó đang tìm cách nhảy vào vườn sau. Nếu như mọi lần, con vật này sẽ chịu chết ở bên ngoài thôi. Nhưng hôm nay, Mary thấy có một cành cây ngoài đường bị gió bẻ gẫy, một đầu gác vào hàng rào của khu vườn. Không bao lâu, con chó đen khám phá ra cách qua hàng rào…và cuối cùng, nhờ cành cây này, nó nhảy được vào trong vườn. Nhưng nó tới đây làm chi? Mary thắc mắc tự hỏi.

    Ngoài kia, con chó đen tru lên những tiếng nghe rợn người khi phóng qua bồn cỏ. Mary bị khuất tầm nhìn, không thấy được con vật nữa, nhưng nàng vẫn nghe thấy những tiếng gầm gừ của nó ở một góc vườn. Có tiếng la ó của người nào đó ở một trong các căn phòng, chắc vì ngủ mê. Muốn được yên bụng, Mary mở cửa đi ra hành lang kiểm soát sơ qua các phòng. Nàng tới cuối dãy, chợt nghe thấy có tiếng xì xào trong căn phòng số sáu…của ông già Ken. Mary khẽ đẩy cửa nhìn vào. Nàng sửng sốt khi thấy ba cụ già đang chồm ra bên ngoài cửa sổ trong lúc trời đang mưa. Thấy tiếng động, ba người giật mình quay lại, nét mặt sợ hãi khi bắt gặp Mary trong phòng.

    Mary chạy vội lại bên cửa sổ, một tay định kéo cánh cửa để đóng lại, miệng nói:

    – “Trời mưa, các cụ còn mở cửa làm gì vậy? Bị trúng nước, đau thì sao?”

Bng có tiếng chó tru ln làm Mary ngưng câu nói, phn ng t nhiên khiến nàng cũng ghé nhìn ra bên ngoài. Dưới ánh sáng đèn ri xung t mt ct đin, con chó đen đang va cào bi, va tru lên nhng tiếng thm thiết…nghe đến rn người ti mt xó vườn. Mary ngc nhiên quay li nhìn ba c già:

    – “Gì vy các c?” Nàng nhìn my ông già làm h lúng túng.

    Ông c Tim lc đu:

    – “Cũng không biết, nhưng nếu không đui nó đi…thì làm sao ng được”. C lc đu: “Nghe ghê rn quá!”

    – “Cô ra đui nó đi…dùm…”, C Ken lên tiếng: “Hay ta gi cnh sát?”

    Mary không mun làm to truyn như vy, nên kh nói:

    – “Thôi, đ tôi ra đui nó đi.” Nàng quay vào: “Các c đóng ca li, tr v giường ng dùm cho.”

    – “Nó coi v d dn lm đy, cô phi cn thn.” C Ken cht như nh ra điu gì, tiếp: “Cô đi tôi mt chút đi…tôi tìm cho cô cái đèn bm…mình có th đng xa, ri đèn, đ nó s mà b chy.” Ông lc ngăn kéo bàn ng, lôi ra cái đèn, bm th vn còn sáng tt, trao cho Mary: “Cô dùng nó đi…nh cn thn.”

    Mary cm ly cái đèn bm. Sáng kiến thc hay. Nàng bm th my lượt, ri mang đèn đi ra, ming nói:

    – “Cm ơn c Ken. Thôi các c ngh đi.”

   Mary m ca sau, mt tay cm dù, mt tay quơ đèn ra phía trước. Nàng hơi bc mình khi thy my phòng có ca s nhìn ra ngoài vườn đu m c, và các c cũng đang theo dõi vic ca nàng. Có th vì lòng tt, h s nàng gp ri ro chăng.

    Dưới tri mưa lt pht, Mary rt rè bước xung vườn c. Nước lnh và sũng, ngp ti c chân làm nàng git mình. Nhưng đã ti nước này thì phi ti thôi. Đàng kia, con chó gm g d di, hình như không biết ti vic Mary đang đến gn nó. Nàng ri đèn thng vào con chó mi lúc mt gn…Cui cùng, con vt thy được ánh đèn, hong ht b chy. Khi cái mông ca con chó không còn che khut góc vườn na, Mary bt cht thy mt cánh tay người đã b bi khi mt đt. Kinh hãi tt cùng, nàng thét lên tht thanh. Hình như cũng đã có người nhìn thy cnh tượng ngoài vườn, nên trong nhà cũng n lên d di. Trong khi Mary tht thn, chân như chôn xung đt, thì t trong nhà, có my c còn khe mnh vi vàng chy ra vi nàng.

    Cui cùng, nhiu ánh đèn bm được ri ti, mi người đu thy mình không còn lm ln: dưới đt có chôn mt xác người!

    Mi người im lng, tình thế thc căng thng.

   Bng có tiếng la lên:

   – “Đúng…đúng lão Tu già Wu ri,” Ông ta chen ra phía trước, ch xung cánh tay áo: “Cái áo kiu Trung hoa kia…mu xanh y…”

   – “Đúng…c y nói không sai.” Có tiếng người hùa theo.

    Lúc này, mi người mi nghĩ ti con chó đen:

    – “Con chó!” Ông già Ken đng sau Mary but ming nói ln khiến mi người đu dáo dác nhìn quanh cùng vi nhiu ánh đèn bm soi lung tung trong vườn. Người ta tìm ra nó đang đng run gia vườn, rên lên ư . S tinh khôn và trung thành ca loài vt này nhiu khi l lùng đến đ khó ai hiu được: Nó biết ch nó gp nn mà tìm ti!

     Bng trong  đu Mary thoáng mt câu hi: “Bây gi

phi làm sao?”

    Gia lúc đó, c Ken cũng hi ln:

    – “Nào, bây gi phi làm gì? Báo cnh sát ch?” C nhìn mi người ch đi câu tr li.

    Mary hơi cau mày suy nghĩ. Nhưng nàng thy không th đng ngoài tri mưa bàn chuyn này được, nên nói:

    – “Xin vào trong nhà đã…mưa li ln ri.” Va nói, nàng va quơ đèn ra phía tòa nhà, ri t mình bước v trước. Các c kia không nói gì, cũng theo nàng tr vào.

    Ngn đèn ln trong phòng khách được bt lên. Hình như các c trong vin đu t tu đ. Các c ông bàn ln tiếng, trong khi các c bà ch xúm li xì xèo, ch đi.

    Mary kh hng ging đ các c chú ý và yên lng, nàng mi nói:

    – “Thưa quý v, chuyn đã đến nước này…chúng ta không th yên lng được na,” Nàng nhìn quanh: “Nhưng phi làm gì trước thì phi bàn.”

    C Ken phát biu trước:

    – “Hin chúng ta phát giác ra xác ca c Wu, nhưng biết đâu còn nhng người khác. Vy, cô Mary và mt vài người na tr ra vườn sau xem xét li…trước khi mình báo cnh sát,” Ông nhìn qua Mary như mun nàng cho ý kiến.

    Có tiếng rì rm, ging đàn bà ngp ngng:

    – “Thôi đi…không li kh vi bà ta…”

    Ông Ken gt đi:

    – “Tôi không s. Có chuyn gì…s có nhà chc trách lo cho chúng ta… Nếu không vch mt m Garcia này,  cui cùng cũng có ngày chúng ta mt xác thôi.”

    – “H, đâu sng được bao năm na mà gây rc ri cho kh thân!” Bà Jacklyn thu thào cho ý kiến.

    – “Phi đy…thôi đi.” Mt vài người đng tình kh nói.

    – “Không được, mình biết mà không t cáo…mai này cnh sát biết được mình cũng không khi liên ly.”     Mary nói ln: “Tôi cũng b ‘thuc’ như mi người…nhưng tôi không s.”

   Im lng.

    Mary là người tr và lanh li nht đây, các c đu ch đi ý kiến ca nàng khiến nàng không th t chi vai trò lãnh đo. Vì thế, sau khi suy nghĩ, nàng nói:

    – “Bây gi chúng ta chưa biết ai, nếu báo cnh sát ngay, không th không b h lôi tng người ra hi cung, nht là nhng người còn khe mnh. Ch đến ngày mai, chc chn s có biến chuyn…lúc đó, ta mi có đu mi.” Nàng nhìn tng người, tiếp: “Nht là các c bà…không được bép xép, nếu không người kia biết, s tháo chy…thì hng vic. Các người mt tích khác c đ sau hãy hay.”

    Mary đã tình nghi mt người nhưng chưa mun nói ra.

    – “Nếu ngày mai sát nhân chưa xut hin?” C John ging ngp ngng hi trng không.

    – “Không lâu đâu…người nào là th phm…các c c đ tôi lo, vì thế nào h cũng phi tiếp xúc vi tôi trước tiên. Nh tuyt đi kín ming.”

    Mi người suy nghĩ mt chp cũng không ai có ý kiến khác hơn.

    Mary nói như ra lnh:

    – “Vy, mi các  c  v  phòng c đi  ng  dùm  cho,”

Nàng quay li c Ken: “Mt vài c đi vi tôi tr ra ngoài vườn…đ vùi li cái xác c Tu,” Nàng đưa mt nhìn quanh.

    C Ken , c John tình nguyn theo nàng.

    Chưa bao gi Mary gp trường hp kinh khng này. Nàng đng ri đèn cho hai ông c chôn li cái tay ca c Wu.

    – “Nếu tri không mưa đ đt i ra, con chó kia cũng không bi ni cái tay này lên.” Mary bng hi trng không: “Nó đâu?” Nàng nhìn dáo dác chung quanh. Hình như con vt đã làm xong bn phn “t cáo v án mng đ tr thù cho ch” xong ri, nên đã b đi đâu mt.

    C Ken th mnh, nói:

    – “Chó là con vt tinh ranh kinh khng…tôi chu nó!”

    Ba người đi vào nhà sau khi ban đt tr li y như không b đào xi.

    Sut đêm đó, Mary không sao ng được. Chc chn nhng án mng trước đây, nếu bà Garcia không ch mưu thì cũng đng lõa…vì chính bà là ch…cái vin hưu dưỡng này…Còn vai trò ca bà Stephanie, người ph n trung niên mi ti…k t ngày..m M vng mt. A, m này thế nào đây…còn sng hay cũng…đã nm góc vườn ri? Bà Stephanie này Mary không thy bà Garcia gii thiu là gì…mà vì vng m M, Mary c tưởng là bà ta ti thay cho người làm cũ, nhưng bây gi Mary mi thy l là nhng vic trước đây ch có mình m M làm, bây gi c bà Garcia cũng phi đ tay vi bà Stephanie.

    Trước, Mary nghĩ là bà ta ch dn công vic, bây gi

thì cn suy nghĩ thêm nhng gi thuyết khác!

    Sáng hôm sau, Mary chưa ra khi phòng đã thy tiếng đp ca. Nàng git mình khi thy m Lucia xut hin trước ca phòng, yêu cu Mary mi hết mi người t tp ti phòng khách đ ông bác sĩ có vic cn phi thông báo vi mi người.

    Mary ra ngoài đã thy có mt c ông bác sĩ đang ngi vi mt đng giy t ngoài phòng khách, Mary đi tng phòng đ thông báo vi mi người, đng thi cũng dn tt c phi bình tĩnh và tin tưởng nơi nàng.

    Sau khi thy đã đy đ, ông bác sĩ mi nhìn mi người mt thoáng ri chm rãi nói:

    – “Vin hưu dưỡng này là mt công ty đã được thành lp hơn mười năm nay…mà bà Garcia Martinez ch là qun đc. Trong nhng năm điu hành, được Board of Directors tín nhim nên đã có nhiu hành vi vượt quyn và phm pháp như khai man tin Medical, lãnh nhng chi phiếu ca nhng người đã không còn trong vin na, ct xén thc phm v.v. Hin nhng vic làm ám mui này đã b người làm là bà Lucia đây t cáo vi chúng tôi.” Ông ta ch m M, tiếp: “Vì thế mà ba hôm trước, ly c đi vacation…nên đã trn đi đâu mt.”

    Ông ta ngưng li, nhìn mi người, ri tiếp:

    – “Chúng tôi s báo vi cnh sát đ truy t bà này…v nhng hành vi phm pháp trên…”

    Ri ông nhìn sang bà Stephanie:

    – “T nay, bà Stephanie s tm thi thay bà Garcia đ điu hành công vic đây cho đến khi có người thay thế. Quý v không phi lo gì, tt c tình trng đây s được ci t tt đp hơn.”

    Không đ mi người nêu thc mc, ông bác sĩ va nói xong lt đt ra v.

    Mary không ng s vic xy ra như vy.

    Bui ti, sau khi ăn cơm xong, Mary tr li nơi làm vic ca bà Garcia. Trên bàn, mi dng c văn phòng vn còn y nguyên k c cun s hn, không có v gì như người sa son mt cuc đi xa, vĩnh vin không tr li na. Mary tò mò r my trang cun lch đ bàn, nàng ngc nhiên vì my ch ghi vi trên t lch trước vài hôm bà Garcia đi: “Apple, orange juice ?

   124 Elm St.”

    Sao li có du hi sau ch apple, orange? Mary cht nghĩ ra là chiu nay…không ai b nôn ma, có nghĩa là trong nước cam, táo mi người ung vn có “thuc”…Bây gi, vi du hi này…phi chăng chính…bà Garcia…cũng không biết gì v cht thuc pha trong nhng th nước này, nghĩa là người pha thuc không phi là bà ta? Vy là ai đây.

    Cái đa ch nào đây…có liên h gì ti nước ung? Nơi bán hay nơi người trong vin hưu dưỡng ti ly?

    Mary tr v phòng, nm suy nghĩ mãi v vic b trn ca bà Garcia cũng như vn đ đánh thuc mi người trong vin. Bên ngoài, tri không mưa ln, nhưng có gió to. Bng t ngoài hàng rào st, có tiếng chó tru…thm thiết. Nàng bc bi hé màn ca nhìn ra. Vn con chó đen ca lão Wu. Vài đêm nay, Mary rt bc bi vì con chó qu quái này. Có l nàng phi gi cnh sát bt nó đi s Humane Society cho ri.

    Sáng hôm sau là th tư trong tun, ông bác sĩ ti khám bnh như mi khi. Hai cô y tá vn hot đng bình thường. M M ti mun, đem theo thc phm và đ dùng trong nhà, k c nhng bình nước cam và táo, loi ln. T xa, Mary lén nhìn nhng c chai, nơi gn nhng cái np đy, nhưng không phân nhn được chai đã m ri hay chưa. Nh ti cái đa ch trên t lch ca bà Garcia, Mary nóng lòng mun tìm hiu s vic…vì, nếu không có gì thay đi, thế nào nhng người trong vin cũng s b cnh sát cht vn v nhng vic m ám ca bà Garcia. Nhân lúc mi người đang bn công vic ca h. Mary ly xe chy ra ph. Mười lăm phút sau, Mary đã tìm ra đa ch 124 Elm St. Nàng kinh ngc đng trước cái bng hiu Johnson & Son Laboratory. Thì ra đây là mt vin bào chế và th nghim! Bà Garcia ghi đa ch này làm gì? Nh mu nước táo Mary ly my ba nay…đnh mang đi th nghim còn đ trong xe, nàng bng liên tưởng ti ý đnh ca bà Garcia…biết đâu bà y cũng có mc đích không khác gì nàng…là mun biết…người ta đã dùng loi “drugs” nào đ…đu đc mi người…mà biết đâu…chính bà ta cũng đã b kh vì nó…? Mary tr li xe, ly mu nước táo, đưa vào trong nhà Lab. nh phân tích dùm…Người nhn mu hàng ly tên, đa ch và s đin thoi ca Mary đ tin liên lc sau khi vic phân cht được hoàn tt.

    Lúc tr v, Mary có ghé qua mt Pharmacy cùng ph Elm đ mua my th cn dùng. Trong khi tìm các loi hàng, Mary sng s không ng gp bà Stephanie trong tim này. Chng l mt người dược sĩ như bà ta…li chu ti giúp vic cho bà Garcia? Lúc đng trước quày tr tin, Mary thy bà Stephanie vui v hi thăm công vic trong vin hưu dưỡng. Mary mang chuyn ông bác sĩ nói vi mi người ngày hôm trước cho bà Stephanie nghe…bà ta mm cười, gt đu…như người đã tng biết nhng chuyn đó trước. Bng có đin thoi reo, bà Stephanie đang đnh tính tin vi Mary thì b ngang đ nghe.

    – “Xin li mt chút nhé,” Bà ta nói vi vi Mary trước khi cm ng nghe.

   Trong lúc ch đi, Mary lng l nhìn lơ đãng. Bt cht, nàng thoáng thy ánh mt bà Stephanie nhìn nàng mt cách khác thường, răng bà ta ct cht môi dưới, đu gt gt liên hi. Mary bng cm thy hi hp…nht là t lúc đó, bà Stephanie không còn cười vui vi nàng na, mà có v cau có, bc bi.

    Mary mang cái tâm trng bt an đó v ti vin hưu dưỡng.

    Bui ti, Mary mi hai c John và Ken sang phòng làm vic, mang chuyn bui sáng ra chia x vi hai người.

    C John nói ngay:

    – “Như vy, người “thuc” chúng ta không th là bà Garcia…mà có l là cái m Stephanie hay…chính cha bác sĩ kia. Hơn na, nếu bà Garcia cũng b “thuc” như

chúng ta, sao bà y li dám…b trn như vy?” C h ging, nói nh: “Có nhiu un khúc?”

    C Ken gt đi:

    – “Ông nói nghe ghê vy? ông ta có li lc gì ch? My cái check có là bao…đ ông ta phi làm vic tht đc như vy?”

    Mary lc đu, nói nh:

    – “Ti c không biết thôi…”

    Nàng nói chm ri đ gây cho người nghe chú ý:

   – “Theo tôi, vi vic gian ln medicare, tin thuc, trung bình mười người mt ngày, trong mười năm qua, không phi là nh… Đó là chưa k chi phiếu SSI hàng tháng, ăn bt tin ch…”

    – “Người ta đi nơi khác…cũng lãnh…thì làm sao đây lãnh được na? Tr phi h…chết!” C Ken cãi ti đây và nói ti tiếng ‘chết’ khiến c ba đu git mình nhìn nhau yên lng. Nhng người trước thì không k…còn nhng c như c Wu chng hn…thì chết vì bnh gì, lúc nào không ai hay…hoc có người biết nhng bí mt đó mà không dám nói ra.

    C John gt gù, nhìn Mary, nói:

    – “Ngoài chúng tôi ra, còn năm người khác liên can là cô, bà Garcia, ông bác sĩ, bà Stephanie…và m M Lucia. Ai ch đng, ai ph giúp. Theo như ông bác sĩ…thì người làm vic gian ln là bà Garcia. Ông ta không nói ti…có ai đng lõa không cũng như chng nhc ti vic nhng người khác vì sao mà vng mt b đi nơi khác hay…đã chết.”

    Mary nghe c John nhc ti tên mình trong s nhng người có th b tình nghi, nàng không chút bi ri, nói:

    – “Nếu ông ta mun dn tt c ti li cho mt người vng mt là bà Garcia mt cách chc chn như vy…thì có hai gi thuyết, mt là ông ta kh…b người khác sai khiến…hai là ông ta là người ch mưu, và mun chy ti,” Mary nhìn hai c già, nói mt cách quyết lit: “Vi vic khám phá hôm nay, tôi tin chc bà Garcia không phi là người ch mưu, người này theo tôi, chính là người đã đánh “thuc” mi người, và bà Garcia có chăng ch là mt đng lõa mà thôi. Và nếu bà ta b bt, khai hết s thc…thì ông bác sĩ và bà dược sĩ kia…cũng không tránh khi liên ly.”

    – “Vy ti sao ông bác sĩ dám đi t cáo bà Garcia.”     C Ken vi nêu thc mc, nhìn mi người, ri ngp ngng: “Tr phi…ông ta tin chc là cnh sát không th tìm được bà y…”

    C John but ming:

    – “Đúng, tr phi bà ta chết ri…”

    – “Nghĩa là cũng có th…đã b người ch mưu th tiêu!” Mary nói trng ra ý nghĩ ca mình: “Và người có th làm được chuyn này d dàng nht là…bà Stephanie.”

    – “Nhưng ti sao không làm t trước mà mãi cho ti bây gi?” C Ken thc mc.

    – “Tôi nghĩ ra ri. Có th vì bà Garcia đưa mu nước đi phân cht đ tìm xem nó là loi nào đ cha tr mong thoát khi s kim ta ca người ch mưu ri không may người đó biết được nên s b bi l đành phi ra tay trước,” C nhìn hai người: “Tôi nói thế có lý không?”

    Nghe li gii thích ca c John, Mary bng nh ti cái nhìn sc như dao mà bà Stephanie nhìn nàng lúc nghe đin thoi…và thái đ lnh lùng ca bà y sau đó, cht s hãi, nói:

    – “Này hai c…lúc tôi mang hàng ti tính tin, bà ta rt vui v hi chuyn chúng ta…nhưng khi va nghe đin thoi bà ta nhìn tôi mt cách l lùng, khó din t khiến tôi lo s hết sc. Biết đâu đó chính là đin thoi ca bn bên phòng Lab báo cáo v tôi vi bà ta?”

    – “Đúng ri, bn đó đã thông đng vi nhau…nên bà Garcia làm gì là chúng biết hết,” C John v hai tay li vi nhau đ by t thái đ, ri tiếp: “My ngày trước bà ta ti đây là có mc đích theo dõi bà Garcia…ch mt dược sĩ như bà ta, ai chu làm nhng vic v vn trong cái vin hưu dưỡng này,” Quay sang Mary, ông c thân mt: “Cô phi coi chng khi có mt bà ta đây!”

    Tri va hng đông, hai cô y tá đã đánh thc Mary dy. Ông bác sĩ đi nàng ngoài phòng khám bnh. Hôm nay ông ăn mc chnh t, chiếc áo choàng trng còn trên mc áo vách tường. Sau khi Mary chào và được ông mi ngi, ông ta mi ly ging rt ôn tn, nhưng trang nghiêm, nói:

    – “Bà Stephanie s đến sp xếp li các vn đ trong vin, nhưng trong lúc này, tôi mun cô tm lo các công vic thường ngày, nht là v đêm, khi đây không có Lucia cũng như hai cô y tá. Công ty s điu chnh li lương bng ca cô mt cách xng đáng,” Ông liếc mt sang nàng mt cái rt lnh, ri tiếp: “Nht là hôm nay, cnh sát s đến đây điu tra v v m Garcia b trn.”

    Mary git mình khi nghe nói cnh sát ti đây. Cái thc mc trong lòng nàng t my hôm nay là ti sao bà Garcia không mang ni v t cáo vi nhà chc trách…mà li phi đi th nghim nước ung mt mình? Nhưng…nàng đã có mt chút nghi ng khi thy ngay phòng Lab cũng thông đng vi bn này…thì nhng anh cnh sát nghèo đa phương sao tránh khi b mua chuc? Có th bà Garcia mun thiết lp mt h sơ vi đy đ chng c đ đưa ni v đi xa hơn nhưng không ng. Vì thế, Mary nghĩ mình phi thn trng trước khi hành đng. Do đó nàng l phép nói:

    – “Thưa bác sĩ, tôi rt cám ơn ông đã ct nhc cho. Mi truyn vin vào bui ti, xin ông đng lo, tôi s c gng điu hành tt đp ti khi…vin có mt Giám Đc mi,” Ri nàng thoáng nhìn ra ca, hi: “Thưa bác sĩ, bao gi cnh sát s ti…đ tôi còn sp xếp cho các c ln lượt ra gp h?”

    Ông bác sĩ gt đu hài lòng, nói:

    – “Sau gi khám bnh. À còn mt điu này na. T nay, chúng ta s phi làm ăn đúng…lut, nghĩa là cô ch đòi tin medicare ca các c nhng khi được tôi “thăm” bnh thôi.” Ông ta nhn mnh: “Nghĩa là mi ln…tôi ti…phòng ca h ch không cn phi có nhng tr liu như thăm mch, cho toa…Nhng vic thuc bnh lý như đo máu, đo nhp tim ca các y tá cũng được tính tin đàng hoàng.”

    Thì ra, thay vì trước kia…thăm bnh ‘ma’, bây gi, ông bác sĩ s phi mt chút công đến các phòng ‘hi’ mt tiếng đ tính tin!

    Khi Mary tr v nơi làm vic, ti các phòng, hai cô y tá đã bt đu làm vic. Các c đu ln lượt được lo nhng vic căn bn y khoa, k c cân, đo…M M Lucia cũng đã có mt trong nhà ăn lo ba sáng. Mary nghĩ h mun mt màn trình din…đ cnh sát ti…làm bá cáo. Rt may là ti hôm qua, Mary và các c đã hi ý vi nhau, gi kín vic có nhng xác chết trong vườn sau. Vì nếu cnh sát biết trước khi th phm chính xut hin thì mi ti s ch đ lên đu…bà Garcia…mà có th c nhng người t giác như Mary hay c John na. Không cn biết đúng hay sai, cnh sát c m cuc điu tra v mình đã, cũng đ phin phc ri.

    Đúng mười gi, dù tri mưa r rích, mt điu tra viên và hai hai cnh sát đã có mt ti phòng khách vin hưu dưỡng. Tng người, tng người được mi ra ly li khai v bà Garcia.

    Mary là người được hi sau cùng v nhng s sách mà nàng làm trong thi gian bà Garcia còn trong vin.

    – “Thưa ông điu tra viên, tôi không phi là th qu ca vin, mà ch được mướn như mt người bookkeeper, ghi chép nhng d kin đúng như người ch đưa cho tôi mà thôi,” Mary ch vào h sơ nhng người vng mt…mà chi phiếu vn v và được gi vào trương mc ca vin, ri tiếp: “Tuy nhiên, cũng đã có ln tôi thc mc v mt vài trường hp…ca các v vng mt…nhưng bà Garcia đã nghiêm ngh đưa tôi v vi…nhim v chính ca tôi.”

    Hình như đã có đnh kiến t trước, nên người điu tra viên không hch hi gì v nhng lý lun nàng đưa ra đ tránh trách nhim. Vì thế, ông ta gt đu:

    – “Tôi hiu…tt c nhng vic làm ám mui này đu do mt mình bà Garcia chu trách nhim…cho đến khi bt được bà ta lúc đó, vn đ ai liên can mi sáng t…” Ông ta mm cười d dãi, nhìn ông bác sĩ, tiếp: “May là bác sĩ báo cáo cho chúng tôi biết…nhưng ch tiếc là th phm đã cao chy xa bay…nên chúng tôi s phi vt v mt chút thôi.”

    Ngưng mt lát, ông ta nhìn các c, tiếp:

    – “Chúng tôi cm ơn s giúp đ ca các c,” Ông bác sĩ  gt đu: “Nếu cnh sát không sáng sut thì chúng tôi

cũng không tránh khi liên ly.”

    – “Đâu có ai sng cái town bé nh này ch biết uy tín ca bác sĩ. Chúng tôi c gng tìm ra th phm đ bác sĩ hài lòng v công vic ca cnh sát.” Ông điu tra viên quay sang các c: “Bây gi, cuc điu tra ca chúng tôi tm ngưng đây, các c c yên tâm ngh ngơi, không phi bn tâm gì c…ai làm, người đó phi chu thôi.” Nói riêng vi Mary: “C cô Mary na, chúng tôi cũng cám ơn s cng tác ca cô vi cnh sát, cô c vui v làm vic vi bác sĩ đây.”

    Sau khi cnh sát ra v, có đông đ mi người trong vin, ông bác sĩ nghiêm ngh nói:

    – “T nay, mi người chm dt bàn tán v v bà Garcia, Cô Mary tm lo vic trong vin cho ti khi chúng tôi tìm được mt v giám đc mi. Bây gi xin mi quí c v phòng ngh. Cm ơn tt c.”

    Mi người lng l gii tán. Mary thy có rt nhiu thiếu sót trong vic điu tra này, nht là s đt nhiên vng mt ca nhng c đây mà không ai biết đã đi đâu. Cnh sát không h nhc ti. Nhưng thy s kính trng ca đám cnh sát đi vi ông bác sĩ, Mary ngm hiu là h đã dành cho ông ta tt c mi s d dãi mà ch quy ti v mt mình bà Garcia mà thôi. Nếu tìm được bà ta và ni v được đưa ra tòa, s vic s vô cùng rc ri. Hình như ai cũng mun câu chuyn yên đi. Có th vì vy, vic truy nã bà Garcia cũng không gt gao và bà ta nh thế mà thoát nn cũng chưa biết chng. Còn các người chôn trong vườn thì làm sao đây?

     Trong tình thế này, Mary cũng chưa biết gii quyết ra sao.

    Sau khi ông bác sĩ và hai cô y tá đã v hết, ba cơm trưa mi người ăn rt vui v, ai cũng coi như va thoát nn.

    Mi chuyn tm yên.

    C John lén vào phòng Mary. L ra, vi nhim v mi ca nàng, c John không cn phi làm vy. Nhưng đã trót ri, Mary cũng theo li c, đóng ca phòng làm vic li cho kín đáo:

    – “Tôi nghĩ, ln sau c c đường hoàng gp tôi.”

    – “Không, lúc này mình càng cn phi cn thn, nht là cô.” C phn đi ý kiến ca Mary, ri nói nh: “Vì, hin cô là người biết quá nhiu!”

    Mary git mình khi c John nói câu “người biết quá nhiu” tc đng nghĩa vi vic “cn phi thanh toán mình”, nên nói:

    – “C nói phi đó…tôi quên mt!” Mary hơi ht hong.

    – “Tình hình này, tôi tin đến chín mươi phn trăm…là bà Garcia đã b h th tiêu…mà người kế tiếp s là cô!”

    – “Tri! Thc sao?” Mary s hãi thc s.

    – “Nếu cô không có mt đây na, h s th tiêu tt c h sơ ri nói cô là đng lõa vi bà Garcia…s b bi l nên th tiêu tang chng ri tu thoát thì sao đây?” C John nói vi mt ging rt tin tưởng.

    – “Vy…c nghĩ phi làm sao?” Mary mt tinh thn, hi mt câu mà nàng tưởng mình rt thu trit vn đ, và đã có lp trường dt khoát t lâu.

    C John lc đu:

    – “Cũng chưa biết được…nhưng…mình phi cn thn…đ xem ‘bên kia’ h hành đng ra sao, nht là m Stephanie.”  C John nhc ti bà dược sĩ mt cách không còn kính trng na.

    Mary c ly bình tĩnh đ tìm cách thoát him:

    – “Nếu m Stephanie có hành đng gì, mình phi bt qu tang mi được, nht là phi làm ra l vi cnh sát…đ bn h không che ch cho nhau được. C thy đó, bây gi mình mi hiu ti sao bà Garcia không dám t cáo h. Nhưng trong vic này xin c phi rt thn trng nht là đi vi các c bà h có th làm hư truyn ca mình ri chết c đám.” Nhưng Mary biết dn vy

tha vì c John đã chng t c cn thn hơn c nàng na.

    – “Tôi s ch tính toán vi c Ken thôi. C ta hơi nhát…nhưng tôi đã có cách da thêm khiến c ta s mà phi hp tác vi mình.”

    – “Còn các xác chết vườn sau?” Mary ngp ngng hi.

    – “Tùy cơ ng biến. Mình đã trót không báo cáo vi cnh sát lúc sáng, bây gi vic phanh phui li càng khó khăn hơn. Tôi nghi ng có gì dưới basement…nhưng tiếc là mình chưa khám phá ra thôi.”

    C John v phòng. Mary tìm cách m được cái ngăn kéo có nhng h sơ ca nhng người vng mt mà vn có chi phiếu v. Con s lên ti hơn hai chc người.    Nà là ng cn thn giu đi mt nơi kín đáo hơn.

    Bui chiu, bng bà Stephanie xut hin trong phòng làm vic ca ông bác sĩ. Lúc đó, các c đu đã rút vô phòng hoc đ xem TV, hoc ng sm. Ông c John gõ ca phòng Mary khiến nàng git mình.

     – “Cô coi chng…Ti sao m ta li đến  đây vào  gi

 này?” C John nhc chng Mary.

    Mary cũng hơi bi ri v vic bà Stephanie đến đây vào chiu hôm. Nàng suy nghĩ mt chút, ri nói:

    -“Không vào hang hùm sao bt được cp con…Tôi s thí mng vi m này. Xin c theo dõi dùm. Nếu tôi có b m này ra tay hi như c nói bui sáng thì trước hết hãy báo vi cnh sát đ làm sao mình bt được ti trn vic làm phi pháp ca m ta mình mi mong phanh phui được ni v.” Mary nói vi mt ging qu quyết.

    – “Có đáng đ cô liu như vy không?” C John hi li vi tt c s quan tâm thân tình.

    – “Nói thế ch chc không đến ni nào đâu, nht là mình đã đ phòng trước.” Mary an i c John như thế, ri kh nói tiếp: “Cn nht là đng làm n ào quá, m ta thy đng, đ phòng thì s thêm khó khăn cho mình.”

    C John va v thì bà Stephanie sang phòng làm vic ca Mary. Gp nàng, bà ta vui v và rt thân tình, ngi xung ghế, nói:

    – “Bui sáng ông bác sĩ có đin thoi cho tôi biết nhim v mi ca cô đây. Nay mai, tôi s cn s giúp đ ca cô rt nhiu. Nht là v vn đ h sơ các c đây và vic thuế má cui năm mà m Garcia đ li.”

    Không cn nói ra, Mary cũng biết bà ta cũng là mt nhân vt quan trng trong công ty này. Nàng cười, ly cm tình:

    – “Đâu có chi. Tôi được quí v tín nhim là may cho tôi ri. Vic thi hành công vic quí v giao cho là bn phn ca tôi mà.”

    Bà Stephanie gt đu ra v bng lòng, tiến ti bên, v vai Mary, nói:

    – “Cô nghĩ như thế là tt ri. Tôi bn vic chng mt gi na, cô ghé qua phòng ăn mình ung cà phê nói chuyn chơi. Công vic thì mình đ đến mai cũng chưa mun.”

    Mary thoáng nhìn ánh mt ca bà Stephanie cht nh ti ngày cui cùng ca bà Garcia đây, bà này cũng li khuya như thế. Biết đâu bà Garcia cũng được m này mi ung cà phê nói chuyn như vy. Mary hơi rùng mình, nhưng nàng đã có quyết tâm, nên c gi v thn nhiên đáp:

    – “Vâng, khi nào bà xong vic, gi tôi mt tiếng s sang hu chuyn bà.”

    Bà Stephany gt đu:

    – “Được, đi tôi nhé.”

    Bà Stephanie vào văn phòng ông bác sĩ, đóng cht ca làm vic gì trong đó. Mary nghĩ chưa chc bà ta đã làm gì trong đó mà ngi đi ti gi thun tin ra tay hi nàng thôi. Vì thế, Mary lén sang gi ông John và Ken sang phòng vic mình.

    Hai ông này cũng đã có quyết tâm giúp Mary. Vì thế, h không cn nàng gi ln th hai, đã lanh l và bí mt ti hp mt. Mary đ ngn đèn nh cho bên ngoài không đ ý, ri ba người cùng ngi nói chuyn.

    Mary đã có ch trương, nên nói ngay:

    – “Hai c nh đêm cui cùng bà Garcia đây, m Stephanie này cũng li rt khuya. Ngày đó mình không đ ý, nên m ta làm gì, mình đâu có hay. Bây gi, có th cũng mt cách thc đó, m ta có th s hi tôi bng cách nào đó mình chưa biết…nhưng chc chn không có v dùng dao, dùng súng đâu.”

    C Ken nhanh ming:

    – “Thuc đc!”

    – “Có th lm,” C John gt đu, nhìn sang Mary, nói tiếp: “Cách này ch d dàng khi đi phương không phòng b, nếu mình biết trước…thì chng s gì.”

    Mary cũng đng ý, nàng bàn luôn kế hoch ca mình. Hai ông c ngi nghe nàng nói, gt đu luôn đ t ý tán thành.

    Sau cùng, Mary dn thêm:

    – “Điu quan trng là h mun đi lúc khuya mi h th…thì cũng tin cho mình, nhưng xin c Ken tìm cách nói vi tt c mi người nên đi ngh sm đ bên kia h yên tâm ra tay mình d đi phó hơn. Nếu không, mình không th có bng chng c th đ buc ti h và nhng c kia…đành chết oan thôi! Hai nơi quan trng c John phi đ tâm là ca xung basement và li ra vườn sau.”

    Mary hé ca, nhìn ra hành lang thy mi nơi đu vng v, nàng mi ra hiu đ hai c già ra v.

    Mary đ đèn sáng, hơi ng lưng vào ghế da, suy tính vic đi phó vi nhng gì s xy ra cho nàng nếu qu đúng như nàng d đoán. Thc s, trong ba người, ông bác sĩ, Garcia và dược sĩ Stephanie thì người th ba có đ điu kin nht đ hi nàng cũng như d dàng hi bà Garcia nếu h mun. Mary m ngăn kéo bàn ly ra mt chiếc bao ny-lông ca ch super market đ sn trong túi qun, ri nhm mt ch đi.

    Kim đng h ch mười gi kém mười phút, Mary nghe thy tiếng chân bước nh ngoài hàng lang ri ngưng trước ca phòng mình. Có  người  gõ nh nơi ca,

Mary vi đng lên, hi va đ nghe: “Ai đó?”

    Tiếng bà Stephanie:

    – “Tôi, mình sang bên này thôi.”

    Bên này, như bui chiu bà ta nói tc là dưới phòng ăn, căn phòng rng rãi, gn bếp và cái ca xung basement. Mary m ca, bà Stephanie tươi cười, ri ly tay che ming ngáp dài, nói:

    – “Không làm vic khuya mau mt quá. Bây gi mà ung mt ly ca phê thì tuyt lm.”

    Mary khóa ca văn phòng, ri quay ra như sn sàng theo bà ta. Stephanie đi luôn khiến Mary phi theo sau. Qua các hành lang thy ca phòng các c đu đã đóng c, rt ít phòng còn đèn sáng, bà Stephanie như vô tình, hi:

    – “Nơi đây…các c y ng sm…nh,” Quay sang nhìn Mary như ch câu xác đnh.

    Mary khôn ngoan không kém, nàng kh cười:

    – “Vâng, h ngh sm lm vì có vic gì đâu. Mt mình tôi ít ba trước đây đêm đêm tiếng h ú nói mê nghe phát rn như ma qu gi hn y!” Nàng nhìn xéo sang bà Stephanie.

    Vô tình, bà ta hi git ging:

    – “Nhưng cô nghĩ có ma không?”

   Không đ l cơ hi, Mary suy nghĩ mt chút, bng mt ging thì thào bên tai bà Stephanie:

    – “Các người chết oan…người ta nói s thành ma thc đó. Nhưng đây.” Mary nhì sang bà Stephanie thy bà này git mình, hai mt m tròn, kh kêu lên:

    – “Ai nói…? Mà có thc không…” Ri như nói mt mình: “Thi khoa hc này…làm gì có ma?”

    – “Biết đâu được.” Mary lung lc bà ta.

    Bng có tiếng đng mnh trong mt căn phòng nào đó vang ra nghe như tiếng chai, l hay ly thy tinh rơi xung đt b b trên nn gch khiến bà Stephanie kh la lên. Cũng may đã ti phòng ăn. Trong phòng đã bt đèn. Mary hơi ngc nhiên…thì bà Stephanie đã cười, nói ngay:

    – “Lúc nãy nhân tin đi restroom qua đây, tôi ghé pha bình cà phê…đ hai chúng mình có cái ung ngay khi ch đi.”

    Mary đưa mt nhìn ch đ ly tách và nhng bình pha trà, pha cà phê…đã thy mt chiếc coffeemaker đã có sn cà phê, đúng như li bà ta va nói. Mary liên tưởng ngay ti nhng viên thuc đc nm trong đó. Nhưng bà Stephanie li thn nhiên ti ch bàn nước, lt hai cái còn úp, rót đy cà phê ri đưa cho nàng, nói:

    – “Cô ung đường thường hay loi…diet?”

    Mary cm ơn, ri t ti ly đường loi thường cho mình và khuy ly nước. Bà Stephanie cười, nói:

    – “Tôi không ung đường đã mười năm nay ri nó quen đi.”

    Nếu là người không cnh giác thì câu nói rt bình thường. Nhưng may Mary đã phòng b trước, do đó nàng đã hiu thuc đc có th t đâu nên thn nhiên đưa ly cà phê v bàn và ngi xung ghế, ly nước đt trước mt.

    Bà Stephanie ti ngi đi din vi Mary. Bà ta đưa ly cà phê lên môi nhp th, ri cười, nói:

    – “Cô có thy cà phê tôi pha đc bit hơn mi ngày không?”

    Mary lưỡng l, chưa dám th.

    Bng nàng nghĩ ra mt kế hoãn binh, vi va đng lên va nói:

    – “Thơm lm nhưng tôi thích ung nhiu đường hơn.” Nàng tiến đến bên bàn có ly đường đ cnh bình pha cà phê. Mary quay lưng v phía Stephanie, ri gi v b thêm đường, đưa lên nhp th, khen:

    – “Ngon quá đi y ch.” Nàng rót bt ra mt t giy lau tay đã cm sn. Khi Mary quay ra, bà Stephany cũng đang lim dim nhìn vào ly cà phê ca mình, cười đc ý:

    – “Ri cô còn thy đc bit hơn na…”

    Mary lén b miếng giy đm cà phê vào gi rác, ri quay tr li bàn.

    – “Cô làm vic vi tôi s vui v hơn vi m Garcia nhiu vì chúng tôi đã đc bit lưu ý ti cô t lâu,” Liếc mt nhìn Mary dò xét…

    Bng bên ngoài có tiếng gõ ca làm bà Stephanie git mình, đt vi ly nước xung bàn, kh hi:

    – “Ai?”

    – “Tôi…tôi mun xin chút nước trà.” Mary nhn ra tiếng ca c John.

    Bà Stephanie đng vùng dy, đi nhanh ra, hé m ca, nói:

    – “Ông…không còn nước trà đâu cà phê được không?”

    Bà ta đng chn sau ca, người bên ngoài nói:

    – “May quá, bà còn đây. Cà phê cũng tt. Làm ơn cho tôi xin chút ung viên thuc nhc đu.”

     Bà Stephanie nhìn nhanh v phía Mary, ri lt đt ti rót mt ly cà phê đưa ra, mt tay trao nước cho người bên ngoài, mt tay sn sàng đóng ca.

    Có tiếng ông John:

    – “Bà cho xin thìa đường.”

    – “Hết ri.” Bà Stephanie đóng ca li, không cn đ ý ti người bên ngoài có phn đi hay không. Bà ta tiến nhanh li gn Mary, nhìn ly cà phê đã gn hết, ri nhìn nàng đăm đăm.

    Mary hơi lo đo, ming kh kêu lên:

    – “Tôi…đau bng quá!” Nàng ôm bng, nhăn nhó.

    Bà Stephanie thn nhiên ngi xung ghế, nói:

    – “Không sao đâu. Đi mt chút…s hết…mà.” Bà ta theo dõi nét mt ca Mary cho đến khi nàng gc xung bàn.

    Bà Stephanie lng lng ra ca, hé m nhìn ra ngoài.    Dc theo hành lang đu vng ngt..cái ông già Jophn cũng đã biến v phòng ri. Bà tr li ch ngi, châm la hút thuc, th khói, mơ màng nhìn lên trn ch đi. Hút gn mt na điếu thuc, bà ta mi thư th đng dy, bình tĩnh như không, m ca ra ngoài. Khi thy chc chn không có ai thy mình, bà Stephanie tiến li cái ca xung basement, cn thn m khóa, kh t t m cánh ca ra, ri tr nhanh vào phòng ăn.

    Vi hết sc lc, bà ta ôm xc xác ca Mary ra ngoài, kéo nhanh qua hành lang, lôi tut xung basement, mt tay khép ca li, cài then bên trong, ri t t đưa Mary xung, đt trên sàn xi măng. Ngn đèn bn mươi watts dưới hm nhà được bt lên, ta ánh sáng vàng vt, yếu t trong căn basement rng rãi, lnh băng. Hơi th ca bà Stephanie thành sương trng đc, bà ta xích cái t góc nhà sang mt bên, đ l ra mt cái ca, ngn đèn nh th hai được bt, soi rõ mt bc thang hp đi lên phía trên. Không chm tr, bà Stephanie xc Mary ln theo cu thang này lên ti căn nhà cha đ làm vườn sau vườn. Ngn đèn th ba soi rõ my chiếc xng, cuc, kéo cát c để cái thùng rác cỡ lớn nhất, ít khi thấy bán ngoài tiệm, có nắp đậy cẩn thận. Một cái được mở ra…và xác của Mary được “chôn” vào đó, với một cái nắp đậy kín…thay cho nắp quan tài. Không tiếng búa đóng đinh mà chỉ có tiếng thở phò phò của người đàn bà.

    Bà Stephanie vừa định tắt đèn…để trở lại hầm nhà thì bên ngoài phố có tiếng còi hụ của cảnh sát. Qua chiếc cửa nhỏ của nhà chứa đồ, bà Stephanie lo lắng nhìn ra ngoài…Các phòng trong viện đều đã bật sáng, nhiều tiếng xôn xao vọng ra…Có ánh đèn pin quét ngang qua vườn sau…Bà ta hoảng hốt…khi nghĩ là…có gì…không lành đã xảy ra. Vì thế, thà trốn ra khỏi đây trước khi cảnh sát khám xét…Nghĩ thế, bà ta mở nhanh cửa căn nhà chứa đồ, chạy ra ngoài. Nhưng, ngay lúc đó, một bàn tay ai nắm vai bà ta giữ lại…Bà Stephanie kinh hãi khẽ la lên…cố vùng vẫy khỏi bàn tay kẻ kia…nhưng không thể được. Giữa lúc đó, một vật từ xa…vút tới, bắp chân phải bà Stephanie đau buốt kinh khủng, thịt như bị rứt ra, có tiếng gầm gừ như âm thanh của mãnh thú tranh mồi…Không thể chịu nổi, bà Stephanie thét lớn lên vì đau đớn. 

     Có bóng mấy người cảnh sát đang tiến vào vườn sau…cùng với hai cụ John và Ken.

    Đèn trong nhà chứa đồ bật sáng.

    Mary buông tay khỏi vai bà Stephanie, nhìn vẻ thất thần của bà ta, hai tay ôm cẳng chân  tuôn  máu do nhát

cắn của con chó đen của cụ Wu đã phục kích kẻ thù ở đâu đó, lắc đầu…

    Viên trung úy cảnh sát theo vào trong căn nhà chứa đồ.   Mary chỉ mấy cái thùng rác lớn, khẽ nói:

    – “Tôi nghi ngờ có gì ở trong vì lúc nãy bà ta cũng đã chôn tôi vào đó.”

    Một viên cảnh sát gật đầu, rồi tiến lại mở nắp hai cái thùng rác ra mọi người đều ồ lên ngạc nhiên vì một trong hai thùng đó có xác người: bà Garcia!

    Cảnh sát làm thủ tục bắt giữ bà Stephanie.

    Mọi chuyện coi như đã sáng tỏ.

   

    Sau khi mọi việc đã xong, Mary theo các cụ vào cả trong nhà.

    – “Cô xếp đặt kế hoạch rất hay mọi việc đều xẩy ra y như dự liệu. Với bằng cớ quả tang này có trời cũng không cứu nổi bọn chúng. Lúc này tên bác sĩ. chắc cũng đã gặp xui rồi!” Cụ John vừa đi vừa khen.

    – “Nhờ cụ gọi cửa đúng lúc như đã dự liệu, tôi mới thực hiện được kế hoạch của mình.” Mary gật đầu, nói thêm: “Vừa đổ ly cà phê vào túi ny lông để làm tang vật, nghe bà ta từ chối khi cụ xin đường, tôi mới biết chắc trong đường có chất độc.”

    Cụ Ken lắc đầu:

    – “Đứng gác ngoài…bờ giậu, thấy đèn trong nhà chứa đồ bật sáng, tôi hồi hộp quá, chỉ sợ có sẵn xẻng, cuốc trong đó mụ ta tiện tay phang thêm vào đầu cô một nhát thì nguy to.” Cụ cười khà : “Nhưng may quá…không sao!”

    Bỗng có tiếng chó tru ngoài vườn sau, mọi người giật

 mình, nhớn nhác nhìn nhau. Mary khẽ nói:

    – “Con chó đó thế mà thù dai. Tôi phải đạp nó mấy cái mới chịu buông bà ta ra!”

    Mọi người còn ngồi ngoài nhà khách bàn tán mãi cũng chưa đi ngủ. Cho tới khi trời hừng đông, họ mới chịu về phòng.

    Sáng hôm sau, cảnh sát được phái tới khai quật những người được chôn sau vườn. Họ đều già cả, có thể bị đầu độc hoặc chết tự nhiên, nhưng bọn chủ mưu không khai báo, lén chôn đi để vẫn tiếp tục nhận những tấm chi phiếu SSI từ chính phủ. Phần lớn họ không còn thân nhân, và có người đã được chôn trước đây nhiều năm.. Đến lúc này, bà Garcia có sống lại, xin gánh hết tội cho ông bác sĩ, bà dược sư. cũng không nổi nữa.

 

                                                                                                                           Một Đêm Mùa Đông 1994

NHAN SẮC MẤY ĐỘ ***

HỒ LINH

Nhan Sc My Đ

    Bn chiếc “school bus” dng li trước cng vào công viên. Bên này là bãi cát mu vàng đen ca nhng b bin Thái Bình Dương chy dài ti dy núi xa xa. Ngoài kia, bin rng mênh mông, xanh ngt mt mu…mu ca nhng ngày chm h vi tng tng mây trng lng l trôi ti bến b…vô tn.

    Qua mt bui chiu choáng ngp ánh mt tri đ rc, hàng hàng lu vi được dng lên. Các hc sinh trai gái ca trường Columbo High, theo mt tc l đã có t lâu các trường trung hc M, được khuyến khích tham d mt chương trình gi là “grad nite”. Nhưng năm nay, thay vì ch t chc mt đêm vui mt khách sn chng hn, nhà trường có sáng kiến biến thành hai ngày cm tri mãn khóa. Trong thi gian này, tri sinh mc sc vui đùa vi nhau, trong chương trình đã được ghi rõ hay tng nhóm t t chc theo sáng kiến…k c nhng cuc làm tình gia các hc sinh vi nhau…min sao kín đáo…và an toàn…an toàn v s nga thai ln nga bnh tt. S buông th này t do đến ni chính các ph huynh hc sinh thn nhiên đ vào “back pack” con cái trước khi chúng lên đường nhng dng c nga thai như nhng cái bao cao su hay các loi kem dùng cho các thiếu n vi s ch dn cn k cách dùng. Đó là khi đim ca mt nn văn minh v “th xác”.

    V cm tri này được trù liu trong hai ngày cui tun sau khi hc sinh đã d l mãn khóa trung hc, tc hết lp mười hai, đ sau đó tr v ngh hè vi gia đình và sa son cho năm đu vào đi hc. Các hc sinh này được coi như đã trưởng thành, có quyn quyết đnh mi th k c vic t chc đi sng riêng tư trong nhng ngày tháng sau đó. Nhiu cô cu không mun b gia đình kìm kp bng cách “move out”, tc dn ra ngoài mt mình, dù nhng nơi đó không xa nhà cha m ca h. Chính nhng cha m người M cũng mun chúng “đi” vì thường h coi t giai đon đó h hết bn phn lo cho con cái…nht là vn đ tài chính.

    Ba chiếc lu cùng mu vàng cam dng thành mt hàng ni tiếp ca mt nhóm ba cp chơi thân vi nhau…mà trong đó, mt cô gái Á-châu, tóc đen nháy, nước da nâu hng khe mnh, thân hình khá ny n, hp dn nhưng khuôn mt kém nhan sc vi nhng vết nám bm sinh. Trước khi chiu xung, c bn sáu đa, ba thanh niên, ba thiếu n đng chung vi nhau chp my bc hình k nim trước tăng ca h. Ba cu con trai đu đng gm Bob, Louis và Jose. Các cô ngi dưới chân ca các “partners” ca mình: Jennifer ca Bob, Margaret ca Louis và Lanny ca Jose. Mi người đu cười tươi. Sau my tm hình, h ôm nhau hôn thm thiết.

    Đây là ln đu tiên Lanny “b” mt đa con trai ôm hôn, mt hành đng mà phong hóa ca x cô được coi là “rt quan trng” trong mi tương quan trai gái. Cô mi sang đnh cư ti M chưa được hai năm, cuc cm tri này cô tham d vi nhng s hiu biết rt ít v truyn thng ca nó. Cái hôn ca Jose, mt thng con trai gc M Tây Cơ khiến cô không khi hong ht. Thc ra, gia cô và Jose ch mi quen nhau như mt người bn hc trong my tháng qua. Cuc cm tri này, do s khuyến khích ca ông b gh, đ t ra biết hi nhp vi nn văn minh mi. Vic nàng cp vi Jose cũng ch như là mt tm b đ gi là có bn trai như my đa con gái khác trong mt cuc chơi ngn hn vài ngày, thc tình, nàng chưa có mt cm tình gì sâu xa vi thng con trai ngoi quc này. C bn thy v sng s ca Lanny đu cười phá lên mt cách thích thú…coi như mt chuyn khôi hài…đáng thương hi. Vi Jose, Lanny không có khuôn mt đp, nhưng nước da nâu hng và thân hình ny n ca nàng khiến hn…rt bng lòng cp vi cô gái…đ có dp li dng. Người M rt “mê” cái mu da “tm nng” này…Vì theo h, mu đó tượng trương cho quí phái, khe mnh…vì ch có nhng cô gái con nhà nghèo mi du dú trong nhà, không có phương tin và tin bc đ  đi  ngh  ngơi, tm  nng  ngoài  bãi

bin nên da d mi trng bóc.

    Đêm đu tiên, các cp quây qun bên la tri ca hát ti khuya. H nướng đ th, t BBQ, hotdog, sườn bò, heo, bp, đ va ăn, va nhy nhót vui chơi. Tiếng ghitar, tiếng hát tưng bng, nhn nhp. Các cô giáo, thy giáo cũng có cp chung vui vi hc trò. Sau đó, mi người chia tay đi ngh. Lanny theo v lu vi Jennifer vì hai đa thân nhau nht. Nm trong sleeping bag, cnh cô gái da trng, Lanny nghe thoáng tiếng cô này va cười khúc khích, tiếng cười trong tro mt cách đc bit, va kh nói:

    -“Ch đêm nay thôi nhé…nếu không, chúng nó tưởng mày vi tao là bn lesbian…”

    Lanny bun ng quá, cũng không thc mc nhiu v li nói ca con bn.

    Ngày hôm sau, trong các cuc vui ngoài tri, dưới bãi bin, Lanny đu phi cp vi Jose đ có partner, nếu không, nàng s không th tham d được cuc chơi. Jose cũng rt “nice”. Hn chiu chung nàng, giúp nàng t vic ly nước gii khát, mua đ ăn và ôm khăn tm cho nàng. Nhng vòng tay ôm, nhng n hôn pht qua không còn làm cho Lanny quan tâm na, coi như nhng cái “bt tay” ngoi giao thôi. Lanny đâu có biết rng…nàng đang như miếng tht m đ trước ming nhng con mèo đói!

    Ba ăn ti c bn t chc trong lu ca Jose. Có đ ăn nh, trái cây và mt chút rượu mnh do Bob lén mang vào tri. Ba cp vui v ngi bên nhau, ca hát nho nh bài Hapy Birthday, vì hôm nay là sinh nht ca Margaret.

    Bob là cu trai coi v trí thc nht, nói:

    – “T mai, mi đa đã hc mt trường ri, ít có dp t hp vui chơi như hôm này vy coi đây như k nim trân

 quý”. Va nói, hn va rót rượu cho tng người.

    – “Nào, Cheer!” Jose nâng cao ly ca mình: “Chúng ta chúc tám năm na Bob s là mt bác sĩ gii, ni tiếng khp nước M!”.

C bn theo Jose cùng nâng ly vi tiếng “cheer” reo vui trên ming. Lanny cũng bt chước làm theo chúng bn. Jennifer quay sang nàng, nói nh:

    – “Lanny, biết đâu ngày đó, Bob là mt bác sĩ thm m, s giúp mày sa sc đp…ri, s chúng tao cũng không nhn ra mày na.” Jennifer nhìn c bn, kh gt đu…khiến mi người cùng mm cười đng ý, và nâng ly đ “cheer” ý kiến đó.

    Lanny hơi khó chu v vic bn nhc ti yếu đim ca mình, nhưng thy v chân thành ca chúng nó, nàng cũng vui lây…và hy vng, nên nói:

    – “Cm ơn…cm ơn Bob trước nhé.” Quay sang Jennifer, nàng tiếp: “Mày có mt m thut, lúc đó tao s nh mày c vn…phi sa mt mày như thế nào.”

    Jennifer cười:

    – “Đng ý, nhưng…tao thy Jose là ha sĩ tài ba ca chúng ta…hn s nhìn ra nhng gì khuyết đim…nhng gì ưu đim ca mày…d giúp cho mày tr thành hoa hu, đp hơn tao nhiu.” Nhìn sang Jose, nó tiếp: “Jose đng ý ch?”

    Jose đưa tay phi đm nh vào khong không:

    – “Tao sn sàng…” Jose cười tiếp: “Có điu, lúc đó, tao có còn được gp Lanny na đ giúp nó không…hay thng chng ca nó li đá tao ra ngoài. Tao nghe nói đàn ông x nó ghen d s lm.” Nó nhìn sang Lanny: “Cũng tùy nó thôi.”

    C bn cười phá lên vì câu nói diu ca Jose. Sau đó, mi đa nói v ước vng tương lai ca mình. Louis mun tr thành tri ch, Jose hc v kiu qun áo thi trang, Margaret mun làm reporter cho đài TV, Jennifer mun làm lut sư v.v. Riêng Lanny, nàng cũng chưa có ý kiến gì…vì mi vic ca nàng thường do bà m ch đng. Tuy bà đã có chng khác, nhưng bà vn mun Lanny phi phc tùng bà, theo ý bà trong mi truyn. Phi nói, m ca Lanny là mt người mà bên đông phương gi là cay nghit. Bà cho mình không bao gi sai lm…và mi người phi làm va lòng bà. Bà ta có th va vui v đy, nhng cũng bt cht ni đóa, chi bi vung vít.

    Cuc cm tri này, tuy được ông b gh nhân danh văn minh khuyến khích và nói vào, bà ta cho Lanny đi, nhưng vi nhiu cam kết…như không được v mun hơn ba ngày, không được t do giao tiếp vi con trai, nht là con trai ngoi quc, không được theo thói chúng nó dn ra, không được vì có thêm bn mi mà sinh ra đàng đúm, chơi bi…Sau bui cm tri là chm dt mi liên h lm cm…đ còn đ tâm vào vic hc hành…cho cái bng bác sĩ tương li…Tuy đó là chiu hướng bà m bt Lanny phi theo…nhưng nàng không dám nói ra, vì sn mc cm thua kém c v ngun gc dân tc ln v tài ln sc, s đám bn bè chê cười.

    Bên ngoài, màn đêm xung dn, nhng ánh đèn trong các lu cũng ln lượt theo nhau tt. Bn sáu đa chia tay. Nhưng, mt điu làm Lanny không th ng ti, và bây gi làm nàng vô cùng s hãi là phi mt mình li lu vi Jose…vì bn kia, mi đa mt cp ri. Nhưng, mt đàng va choáng váng v ly rượu mnh, va không biết phi ng đâu, Lanny đành cn răng nm thu mình trong chiếc sleeping bag ca mình.

    Đèn tt, Lanny thy Jose còn ngi lng yên, nhìn ra ngoài…như ch đi vic gì. Nàng cũng yên tâm nhm mt. Tiếng côn trùng r r đu đu khiến Lanny d đi vào gic ng.

    Nhưng trong đêm ti, bng Lanny như b ai ôm nghiến ly, ming b tay người bt kín, ri áo, qun dài…c ti nt vú, qun lót đu b ln lượt lt ra hết. Lanny c vùng vy, nhưng không thoát khi tai nn. S kim chế cht ch đến đ Lanny nghĩ mt người không th làm ni. Ri thân th nàng b lt nga, đôi chân b kéo xoc ra hai bên, rng đ đ cho tng đa con trai tho mãn nhc dc trên thân xác nàng…Mc nàng s hãi vùng vy, mc nàng đau đn…vic kia c tun t tiếp tc. Trong bóng ti, Lanny không nhìn thy gì hết, nhưng thoáng nghe đâu đó có tiếng cười khúc khích, trong vt ca đa con gái rt quen thuc…mà Lanny không th lm được: đó là tiếng cười ca Jennifer!

    Va kinh hoàng, va nhc ti đt hơi, Lanny ngt đi gia cuc làm tình ca đa con trai cui cùng…vi nhng tiếng th mt nhc ca hn , ta như người mi chy b mt quãng đường xa… đã in sâu trong trí nh ca nàng.

    Sáng hôm sau, tin Lanny b mt tích được loan truyn. Người ta thy du chân ca nàng in trên bãi cát t căn lu ra ti b bin ri mt hút. Bui trưa, beach guard tìm được đôi dép ca Lanny trôi bp bnh trên mt bin không xa b quá ba trăm “phít”.

    Mười năm sau.

    Mt v án hiếp dâm va được kết thúc sau năm sáu tháng tri x ti tòa, mà Jennifer là mt công t viên ca qun ht, đã thành công trong vic kết ti b can mt bn án nng nht là mt trăm l năm năm tù, hai tòng phm mi tên lãnh sáu mươi lăm năm tù, tt c, không bao gi được hưởng ân xá. Nếu tiu bang này còn án t hình thì b can chc chn không th thoát khi ti chết, vì chánh bin lý Jennifer Killerfield là người không bao gi khoan nhượng đi vi ti ác, nht là nhng ti chà đp lên danh d ca ph n!

    Bui chiu, Jennifer như mt thí sinh va thy mình có tên trong bng tt nghip, nàng như trút được bao bn tâm do v án gây ra, nht là trong v này, bên b có nhng lut sư rt li hi, nhiu lúc làm cho phe công t tht điên bát đo. Nàng khoan khoái ra khi phòng tm vi chiếc khăn bông rng, mu hng nht. Đng trước tm gương ln đ sy khô tóc, Jennifer rt bng lòng vi nhan sc ca mình khi thy thân hình trng hng, mơn mn vi nhng đường cong tuyt m mà to hóa, đã sn đúc cho nàng, hin ra trong gương. My lúc gn đây, nàng được báo chí ca tng như là mt bin lý xut sc nht ca qun ht này t trước ti nay. Đng Dân Ch đa phương đã chn nàng là mt ng viên sáng giá đ tranh chc General Attorney ca tiu bang. Và ti nay, Jennifer s là mt “speaker’ trong mt bui tic được t chc đ gây qu cho đng. Kenneth Rogers, v dân biu liên bang ca qun này hin là người duy nht được Jennifer đ mt xanh.

     Va trút chiếc khăn tm đ mc b pyjama nh, bng có tiếng chuông reo ngoài ca. Jennifer tht vi cái gii áo, lng tai ch đi. Không lâu, Mary, cô gái giúp vic đã mang vào mt bó hoa hng thc ln. Nàng

hôi ngaïc nhieân…chaéc laø thaân nhaân cuûa naïn nhaân bieáu hoa caûm ôn veà vuï aùn. Naøng ñôõ laáy taám danh thieáp, môû ra xem, beân trong chæ laø moät chieác card thoâng thöôøng cuûa tieäm baùn hoa, nhöng coù theâm moät chöõ chuùc möøng vieát thaûo…nhöng laïi khoâng coù teân ngöôøi göûi.

    Taùm giôø toái, Ken ñoùn Jennifer tröôùc theàm khaùch san Hilton. Phaûi noùi, Jennifer noåi baät giöõ haøng quan khaùch. Böõa tieäc ñoâng tôùi naêm traêm ngöôøi, vöøa laø ñaûng vieân, vöøa ñaïi ñieän chính quyeàn tieåu bang vaø ñòa phöông cuøng moät soá khaùch danh döï laø nhöõng ngöôøi ñaõ ñoùng goùp nhieàu cho quyõ cuûa ñaûng Daân Chuû, hoï laø nhöõng contributers maø baát cöù ñaûng naøo, muoán soáng coøn laø phaûi ñöôïc hoï giuùp ñôõ.

    Baøi dieãn thuyeát cuûa Jennifer ñöôïc quan khaùch voã tay taùn thöôûng. Luùc naøng trôû veà choã ngoài, vò ñaïi dieän ñaûng ôû ñòa phöông muoán ñöa naøng tôùi giôùi thieäu vôùi moät VIP cuûa böõa tieäc (very important person). Ngöôøi ñaøn baø AÙ chaâu, maùi toùc ñen möôït, moät thaân hình ñeïp nhö moät coâ kieåu maãu, vaø nhaát laø khuoân maët raát dieãm leä, maø Jennifer chöa töøng thaáy.

    – “Ñaây laø coâ Laura Vuu…vaø ñaây, chaéc coâ Vuu khoâng laï…moät töông lai cuûa ñaûng Daân Chuû cuûa chuùng ta…

    OÂng chuû tòch  trònh  troïng  giôùi  thieäu:  “Mong  hai  vò

thaân nhau…”

    Hai ngöôøi thaân maät baét tay nhau. Moät thoaùng nhö cöôøi trong khoùe maét, ngöôøi thieáu phuï AÙ-ñoâng kheõ noùi:

    – “Coâ vöøa thaéng moät vuï aùn raát noåi tieáng…toâi thöïc khaâm phuïc tính cöông tröïc cuûa quí vò bieän lyù…” Hôi nhíu maøy, naøng tieáp: “Chieàu nay, khoâng bieát ngöôøi ta ñaõ chuyeån boù hoa toâi göûi chuùc möøng coâ chöa?”.

    AØ ra coâ naøy taëng hoa ñaây, Jennifer haõnh dieän gaät ñaàu:

    – “Toâi ñaõ nhaän ñöôïc roài…boù hoa ñeïp heát söùc…caûm ôn loøng öu aùi cuûa coâ…”

    Laura gaät ñaàu:

    – “Khoâng coù chi…toâi mong hoâm naøo ñöôïc gaëp rieâng coâ ñeå taâm tình…”  Vöøa noùi, naøng vöøa laéc maïnh tay.

    – “Raát saün saøng” Jennifer cöôøi, gaät ñaàu nhìn Laura.

    Hai ngöôøi rôøi nhau trôû veà choã cuûa mình sau khi trao ñoåi soá ñieän thoaïi vôùi nhau.

    Suoát moät thaùng sau ñoù, hai ngöôøi ñeïp thöôøng goïi ñieän thoaïi cho nhau, nhöng vì ai cuõng baän vieäc rieâng neân hoï chöa gaëp laïi nhau laàn naøo. Tuy nhieân, vì cuøng lôùp töoåi, côûi môû, caâu chuyeän ngaøy moät trôû neân thaân maät. Jennifer laø coâ gaùi taây phöông, neùt haáp daãn saün coù, nhaát laø thaân hình ñaãy ñaø, kheâu gôïi. Nhöng naøng cuõng thaàm phuïc Laura veà veû haáp daãn cuûa naøng, nhaát laø nöôùc da naâu hoàng, khuoân maët dieãm leä, aên vaän sang nhö taøi töû ñieän aûnh. Cuoái cuøng, hoï heïn gaëp nhau taïi nhaø Jennifer nhaân ba ngaøy nghæ weekend baùc caàu töø thöù saùu sang ngaøy thöù hai. Jennifer troå taøi laøm moät moùn aên…Laura seõ mang röôïu tôùi.

    Baûy giôø toái, Jennifer ñoùn Laura, ngöôøi baïn môùi taïi cöûa tröôùc cöûa toøa bieät thöï cuûa mình.

    – “OÂ, baïn coøn taëng hoa nöõa? Raát caûm ôn.” Jennifer cöôøi töôi nhaän boù hoàng treân tay Laura.

    Laura cuõng cöôøi, nhöng nöûa mieäng, moät nuï cöôøi neáu nhaän xeùt kyõ seõ thaáy noù hôi coù veû bí maät.

    Hai ngöôøi ñöa nhau vaøo phoøng khaùch. Caên phoøng tuy nhoû, nhöng ñöôïc trang hoaøng raát ngheä thuaät vôùi neàn thaûm nhung maàu röôïu chaùt, nhöõng chieác keä goã naâu coù tröng caùc ñoà vaät kyû nieäm, treân töôøng, maáy böùc danh hoïa ñöôïc treo ñuùng choã, khieán khaùch phaûi khaâm phuïc chuû nhaân. Chieác loø söôûi baäp buøng ngoïn löûa nhieàu maàu saéc, taïo neân khoâng khí aám cuùng, thaân maät.

    Khi ngoài vaøo baøn aên vôùi moùn khoai nghieàn vaø thòt boø roast-beef, Laura boùc giaáy hoa bao chai röôïu maïnh nhoû ñeå ra baøn aên, moät chai röôïu gioáng nhö loaïi cuûa maáy tay ghieàn hay ñeå trong tuùi aùo veùt…khieán cho maét cuûa Jennifer boãng nhieân maùy ñoäng.

    Laura nhìn xeùo Jennifer:

    – “Jennifer uoáng ñöôïc moät chuùt chöù…röôïu naøy…mình bieát coù hôi maïnh…mình mua chai nhoû…vì hai ñöùa chuùng ta chöa chaéc ñaõ uoáng heát moät phaàn ba.” Naøng ñöa chai röôïu leân cao, laéc nheï, nheo maét ngaém nhöõng taêm röôïu xuûi leân trong chai…roài caån thaän xoaùy caùi naép ra, nghieâng chai, roùt ra moãi ly chöøng hai phaàn ba, roài tieáp:

    – “Uoáng ñi, Jennifer…ñeå möøng tình baïn môùi cuûa hai chuùng ta.” Roài naøng ñöa cao ly röôïu treân tay, mieäng noùi: “Cheer!”

    Moät thoaùng ngôõ ngaøng, Jennifer cuõng ñöa ly röôïu cuûa mình leân ngang maët, chaïm nheï vaøo ly cuûa khaùch, mieäng kheõ noùi:

    – “Cheer!”

    Jennifer caét thòt boø cho Laura, roài chuyeån baùt khoai nghieàn sang naøng:

    – “Laura, toâi raát ít khi laøm thöùc aên…neáu khoâng vöøa mieäng, thoâng caûm nheù.”

    – “Khoâng ñaâu…toâi bieát maø!” Laura cöôøi, gaät guø: “Coâ chæ coù theå laø moät bieän lyù gioûi thoâi.”

    – “Ñöøng ñuøa nöõa…ñaây ñaâu phaûi toøa aùn…” Jennifer ñaët ly röôïu xuoáng baøn, ñöa tay veùn cao maùi toùc: “Chuyeän loâi nhöõng teân toäi phaïm gôùm ghieác ra toøa, toáng chuùng vaøo nguïc ñeå ñeàn toäi laø sôû nguyeän cuûa toâi töø khi coøn ngoài treân gheá tröôøng trung hoïc…”

    Laura boãng hoûi:

    – “Tröôøng Columbo High phaûi khoâng?” Naøng lieác xeùo Jennifer.

    Jennifer hôi giaät mình, cöôøi, gaät ñaàu:

    – “Ñuùng, sao baïn bieát vaäy? Cuõng caû möôøi naêm veà tröôùc roài !” Jennifer buoät mieäng: “Thôøi ñoù, toâi cuõng coù moät coâ baïn goác AÙ-ñoâng.” Noùi ñeán ñaây, naøng chôït khöïng laïi, maét nhìn xuoáng ñóa aên.

    Laura maét röïc löûa:

 – “Vaø ngöôøi naøy…bò maát tích sau ñeâm ‘grad nite’ ôû baõi bieån.”

    Jennifer buoàn baõ, gaät ñaàu:

    – “Ñuùng…thôøi ñoù…baùo chí, caùc ñaøi TV noùi tôùi maáy ngaøy.” Jennifer hôi ngheïn lôøi: “Toâi thaät buoàn veà chuyeän naøy. Khoâng ngôø baïn cuõng ñeå taâm ñeán baây giôø…Coù baø con vôùi…Lanny aø?” Jennifer ngöôùc maét leân nhìn saâu vaøo maét Laura, nhöng baát chôït chaïm phaûi aùnh maét saéc nhö dao cuûa naøng, Jennifer voäi quay ñi.

    – “Jennifer, trong vuï naøy, coâ khoâng thaéc maéc gì sao?”

    Jennifer cau maøy ñònh laéc ñaàu, Laura noùi ngay:

    – “Toái hoâm ñoù…neáu coù ngöôøi ñaõ laøm haïi…ñôøi cuûa Lanny…maø coâ laøm bieän lyù…coâ seõ xöû trí vôùi noù nhö theá naøo…”

    – “Dó nhieân laø toâi seõ cho noù ngoài tuø…maõn ñôøi.”

– “Jennifer, cô nhìn cái chai rượu này…cô có mt n tượng gì đc bit không?” Laura đưa chai rượu mnh nh ra trước mt Jennifer khiến nàng hơi bi ri.

    Thc không ng…Jennifer là người tng chp cung bao nhiêu ti nhân…mà bây gi…nàng li như đang b người đàn bà Á-đông này…hch hi.

    – “Đêm hôm đó…bn cô my người…cũng đã ung mt chai rượu như thế này?” Laura ging rt nghiêm khi hi câu này, mt nàng nhìn Jennifer đăm đăm.

    Jennifer th dài:

    – “Đúng…chúng tôi sáu đa đã ung hết mt chai rượu nh này…nhưng cũng đ làm cho đa nào cũng choáng váng” Jennifer lc đu: “Thc là mt vic làm rt di dt.”

    Laura lc đu, gn ging nói:

    – “Chưa di dt bng nhng vic sau đó…Cô có nh không?”

    – “Sau đó…Cái đêm hôm đó…???” Jennifer thn th như t hi.

    Như tiếng gm g ca loài dã thú:

    – “Phi…sau đó…các người chia tay đi ng. Cô bn Á-đông ca cô lúc đó ng đâu…có gì xy ra cho nàng…đ hôm sau…nàng mt tích trên bin?”

    – “Biên bn cnh sát thi đó…nói Lanny t t”    Jennifer ging khô khan.

     Laura gn ging:

    – “Còn cô?” Tay nàng máy đng trên bàn ăn….Jennifer thoáng thy có ánh thép ca lưỡi dao co mt sc bén trên tay cô ta: “Bây gi cô phi…lun ti v này cho công bng…hay cô ch biết kết ti người…mà b quên ti ca mình? Đ đo đc gi!”

    – “Tôi…tôi…?” Jennifer run run.

    – “ Trong lúc Lanny b hai, ba đa đè ra hiếp trong lu ca Jose…nó có nghe thy tiếng cười…ca…cô…! Cô nói đi…chúng nó gm nhng đa nào?” Laura cht nm tay Jennifer kéo sát v phía mình, lưỡi dao sc bén k vào mch máu c tay, ging như quát:

    – “Nói!”

    Mt Jennifer hoa lên…ming lp bp…nói mt hơi dài…

    Mt tia máu vt ra, phun đày lên mt bàn….!

    Hôm sau, báo chí đu loan tin án mng ca bà bin lý Jennifer Killerfield, và đc bit là lưỡi ca Jennifer b ct đt. Người ta có đăng thêm hình ca Laura như là mt nghi can đang ti đào.

    Vào mt bui ti.

    Bác sĩ thm m Bob Wagner va tiếp bà thân ch lâu năm. Bà này c vài năm tr li mt ln đ sa sc đp. Và do tài xut chúng ca Bob, vi mt giá rt mc do bà này bng lòng tr…chàng đã có th thc hin nhng cuc gii phu đc bit. Nht là my năm gn đây, nh k thut tân tiến ca computer, ca tia laser, Bác sĩ Wagner đã có th to hình mt cách rt thn su. Chàng đã b ra my năm mit mài nghiên cu…say mê đến đ quên c ly v, ch đng nói chi đến nhng vic nh mn chung quanh. Mi khi bà này ti là mang theo bc v mt khuôn mt dim l và yêu cu…bác sĩ Wagner làm nàng ging ht hình v cho bng được. Và ti nay, trong h sơ ca Bob, đã có ti bn bc hình ca bà ta…vi bn b mt đu tuyt sc.

    Nhưng ln này, sau khi khám tng quát, Bob cho bà Liz biết là nàng ch có th sa thêm được ln này na thôi…vì da trên khp thân th ca bà đã bóc ra ti đa đ làm nên nhng khuôn mt trước đây ca bà ta ri. Thân hình ny n đó, nhưng da d đã cn ci…Mt cũng vy, theo thi gian, nó nhăn dúm li…Nhưng nh bác sĩ Wagner, mi khi t m vin này ra v…nàng đu tr nên hoàn toàn là mt người mi…vi khuôn mt đp, khác l và tr ra c mươi tui.

    – “Bác sĩ, không còn cách nào khác hơn…là đp da ca mình…?” Nàng va hi va nn li…b tóc gi trên đu.

    – “Cái gì cũng có gii hn ca nó. Ln này, có l là ln chót đó, bà s mang nhan sc mi này cho đến mãn cuc đi còn li” Bob hơi lc đu, nhưng vn say mê ngm khuôn mt người đàn bà trước mt như ngm mt tác phm ngh thut điêu khc.

    Người đàn bà lc đu:

    – “Thôi được. Bác sĩ cho cái hn đi.” Nàng kh th dài: “Tôi cũng không cn…thay b mt đó na.”

    Bob gt đu:

    – “Vy…th hai ti đi nhé”  Bob cúi xung ghi vào s hn: “Bà còn gì thc mc na không?” Bob g cp kính cn đt xung bàn, đ mt trn ngước nhìn lên.

    Nàng gt đu:

    – “Ông c theo như hp đng nhng kỳ trước…kín đáo vì tôi không mun người ta d nghi v khuân mt ca tôi và thc hin ging ht bc hình tôi s trao cho ông.” Nhìn đăm đăm vào Bob: “Tôi s tr theo giá ông n đnh.”

    Bob hiu rng vi b mt tr trung, kiu dim ca mt cô gái đôi mươi không th đ người ta biết được tui thc ca nàng đã ngoài bn chc. Đó là mt bí mt!

    – “Được, bà c yên tâm.”

    Cuc gii phu ca bác sĩ Wagner thành công m mãn. Ln này…là ln th năm…và cũng là ln cui cùng, đ được tr lâu, khuôn mt mi c tui teen thôi. Vì là mt người đàn bà Á-đông, thân th còn hp dn, vóc người li tm thước…nên nét mt tr trung cũng không đến ni làm cho bà ta kch cm…Nếu c ch…được nghiên cu…đ có dáng dp ngây thơ, nhí nhnh thì khó ai biết được cô gái đó đã gn bn mươi!

    Ngày người đàn bà xut vin, nàng có hn vi bác sĩ Wagner, ti hôm sau s ti thăm ông ta ti nhà riêng đ cm ơn và biếu ông món quà lưu nim như my kỳ trước. Bob biết nhng món quà này thường quí giá và hp vi ý chàng.

    Bui đó, trong lúc ch đi, Bob bng mun so sánh li nhng b mt mà chàng đã thc hin cho người đàn bà này. Nhng d kin này ngày nay đu được đ hết vào computer…Nhưng, trong khi m máy, Bob tình c vào h thng Internet v media, chàng cht thy hin lên trên màn nh v án mng va xy ra vài ba trước đây…ca mt nhà ha sĩ kiêm điêu khc gia…Jose Marinez…và hình người đàn bà b nghi là th phm trông hơi quen. Thc sng st vì Jose là bn hc ca Bob t thi trung hc…Màn nh internet còn chy li nhng v án tương t ca hai người đàn bà…và mt

nhng v án tương t ca hai người đàn bà…và mt người đàn ông trước đó my năm…kèm theo…hình các nghi can…mà cho đến ngày nay cnh sát và FBI cũng chưa tìm ra tông tích. Jennifer Killerfield, Margaret Smith, Louis Black…đu … Bob lt đt “load” nhng bc hình ca Jose tng v cho người n khách hàng ca chàng thy đu trùng hp vi hình ca các nghi can khiến chàng vô cùng hoang mang, s hãi…Mi bc có mt v đp khác thường…và thường là tr trung. Bc cui cùng chưa kp đăng báo…thì Jose đã b giết…M hôi rn trên trán khi Bob thy rng mi v án..tiếp theo vài ngày là cuc gii phu thm m chàng thc hin cho Liz. Nhưng, có mt chi tiết hết sc quan trong phn cui… là các n nn nhân thì đu b ct lưỡi…mà nam nn nhân li b mt phn “h b“, Bob chưa kp đc ti thì có chuông gi ca. Chàng lt đt tt máy, quay ra phòng khách.

    Người giúp vic đã đưa “cô” khách vào. Nàng va thy Bob, đã vui v đến ôm ly Bob, nghiêng má cho chàng hôn:

    – “Cm ơn bác sĩ.” Va nói, nàng va trao cho chàng mt gói nh bng bàn tay đàn ông, bc giy hoa rt xinh xn, tay kia xách my chiếc hp bìa mu hng nht: “Biết anh bn…em không dám…phin anh đưa đi ăn bên ngoài nên có mua ít đ ăn đến đây đ hai đa mình “vui” vi nhau.”

    Đôi mt nàng long lanh đưa tình.

    Dù biết dung nhan y ch là tác phm…do chàng tác to, nhưng khi tm thân ny n, khêu gi kia áp sát vào mình cũng làm cho Bob ngây ngt, bn lon…Chàng quên béng c câu chuyn va đc trên internet, ging cm đng:

    – “Liz mun ăn ti đây thc à…sao không nói sm đ anh lo liu ba tic?.” Bob thì thào trong hơi th ngt quãng…

    – “Không cn đâu…hai đa mình ăn có bao nhiêu.”   Nàng thân mt g nh vòng tay ca Bob, thân thiết kéo chàng vào phòng ăn.

     Như người v đm đang, Liz nhanh nhn ly đĩa trong t ra by my món ăn Tu làm sn, cho qua vào microway ít phút. Mùi đ ăn bc lên  thơm nc. Bob lăng xăng ly ly…và rượu. Nhưng Liz ngăn li, nói:

    – “Anh ngi xung đi đng lo…mình đã có chai rượu đc bit này ri.” Nàng đưa tay vi gói quà lúc mi vào đã đưa tng Bob đang nm trên bàn ăn, tiếp: “Ung chai này.”

    Liz xé giy gói, đó là mt chai rượu nh, dp bng bàn tay đàn ông, th my tay ghin hay b trong túi áo vét, ri đ li lên bàn, nhìn Bob cười hóm hnh:

    – “Mình không ghin…hai đa ung cũng chưa chc đã hết mt phn ba đâu.” Rót rượu ra hai ly, ri nàng cm mt chiếc nâng cao, ming nói: “Cheer.”

    Rượu sóng sánh, mu đ như…máu.

    Bob cũng làm theo, nhưng mt ng ngàng nhìn thân th hp dn ca Liz, lòng vô cùng khích đng vi nhng ham mun bc la.

   Người đàn bà gi Bob li:

    – “Bob nh đã tng ung loi rượu này ch?” Liz nghiêm mt nhìn Bob hi.

    Bob p úng:

    – “Không nh rõ” Bob lãng đãng như trong mơ…mt l đ không ri b ngc ca nàng.

    Liz gn ging:

    – “Không nh…ti cái đêm hôm đó…cũng ung chai rượu như thế này và cũng chính do Bob mang theo…”

    – “Không nh.” Ging Bob yếu đui.

    Ăn vài miếng, nhưng hai người đã mau chóng ung hết c chai rượu. Mt và c mt Bob đ hng…

    Liz đến bên anh chàng, vut ve:

    – “Bob…” Nàng va nói, va hôn chàng. Bob như ngây người ra vì sung sướng…Chàng được th, ôm nghiến ly nàng bế vi vào phòng ng.

    Liz ngoan ngoãn nm êm trong tay Bob. Bob đt nàng xung giung, bt ngn đèn ng, ri chm lên người nàng. Tay Bob lt đt ci nhng nút áo…dây nt trên người ca Liz. M hôi rn ra…hơi th như người chy b. Khi qun áo ca Bob va trút b…và hp tp rướn người lên thì Liz nm cht ly h b ca Bob, ngăn không cho xâm nhp vào người nàng, ging lnh như thép ngui:

    – “Bob…mày là thng sau cùng…phi không…tao nh tiếng th …ca mày…trước khi tao đau đn ngt đi…”

     Hn ôm cht ngang hông Liz:

    – “Thng nào…cưng nói gì, anh không hiu…”

    Ging Bob thu thào.

    – “Mày đi chút đi.”

    Liz ly ra mt tm nh chp sáu người, ba trai, ba gái trong đó đã có bn người b gch b…ch còn li hai…mà đa con trai li chính là Bob. Liz dí nó vào mt Bob, gn ging:

    – “Mày quên con Lanny này b bn mày hiếp ri à…Thng Louis, thng Jose…và mày, Bob, mày là thng chót…tao chết gic, chúng mày b mc thân này trn trung sut đêm…” Tiếng người đàn bà rít lên.

    – “Không…Lanny t t ri….không.” Bob th dc, c vùng thoát, nhưng b gi cht…đau điếng.

    – “Đúng tao t t…vì tao không th mang tm thân ô-nhc v vi m tao…bà ta s…giết tao không thương tiếc! Nhưng s chưa hết…tao được cu…được nuôi…và trúng s nên tao có tin mướn Jose và mày làm nhng vic tao cn làm.” Tiếng nói rít lên qua k răng nghiến cht.

    – “Tri…thì ra là vy…” Người Bob lnh toát như va b ném vào mt thùng nước đá, ging rn rĩ. Bng lưỡi dao sc t đâu vung lên, xt ngang, Bob thét lên thm thiết. Yên lng!

   Nhng ngày kế tiếp…, báo chí c nước đăng rùm beng tin bác sĩ Bob Wagner v thm sát bng nhng lát sao sc ct ri…phn h b. Bao chuyn ly kỳ được khai thác nhưng tiếc rng ln này…không có hình chp k b tình nghi.

                                                    (Trích từ tác phẩm cùng tên)

HUYỄN HOẶC ***

 

HỒ LINH

 

HUYỄN HOẶC

 

Michael Forest cẩn thân cài dây lưng khi có tiếng cô tiếp viên hàng không nhắc nhở lúc phi cơ vào không phận Đà Nẵng.

Qua khung cửa kính nhỏ, Micheal nhìn thấy từng phần khu vực là lính Mỹ ngày trước thường gọi là China Beach này nối tiếp hiện ra ở dưới. Từ những ô ruộng vườn xanh ngắt, trải rộng bên những núi đồi hùng vĩ tới những con sông ngoằn ngoèo, lấp lánh nắng chiều gợi lại biết bao kỷ niệm xa xưa của một thời chinh chiến mà chàng đã tham dự tại nơi này. Phi cơ nghiêng cánh quay mũi hướng về phía tây, mặt trời đỏ rực, chói lói, nhưng xa xa Micheal vẫn nhận ra vùng núi hiểm ác mà năm xưa, ngồi trên những trực thăng chiến đấu, với khẩu đại liên trong tay, chàng đã bắn vãi từng nhiều ngàn viên đạn xuống đó trong lúc trực thăng của bọn chàng đang vô cùng vất vả né tránh những lằn đạn dầy như mạng lưới do súng phòng không của địch từ dưới xối xả bắn lên. Và, một lần không may, trực thăng của chàng trúng đạn, bốc cháy dữ dội, rồi bổ nhào xuống đất. Trong cơn nguy cấp, Michael nhắm mắt nhảy đại ra khỏi phi cơ, bên tai nghe thấy tiếng gió rít…và cuối cùng tiếng nổ dữ dội của chiếc trực thăng lâm nạn…sau đó mê đi, không còn biết gì nữa.

Khi tỉnh dậy, Michael thấy mình nằm trên một lớp rơm, trong cái chòi lá tồi tàn, giữa cánh đồng bát ngát. Mình mẩy ê ẩm, nhưng hình như không bị thương tích gì nặng, ngoài cổ chân phải cử động thấy đau đớn và quần áo thì đẫm bùn đen. Chắc chàng đã may mắn rới xuống vũng ruộng nước nên thoát chết, sự việc sẩy ra như một phép lạ. Lúc đó, chừng đã xế chiều, nhưng trời mùa hạ ở xứ này vẫn nóng như thiêu, không kém gì bên Houston thuôïc tiểu bang Texas, quê hương của chàng.

Đang suy nghĩ miên man, không biết ai đã cứu chàng về đây…và khu vực này thuộc chính phủ Việt Nam Cộng Hòa hay vùng Việt Công chiếm cứ thì bỗng Michael nghe thấy tiếng chân người đi tới. Chàng sợ hãi, vội lết người, ngồi khuất vào một góc lều. Có bóng người đồ dài trên nền đất ngoài cửa lều khiến tim chàng đập mau, vô cùng lo âu. Bây giờ, chỉ cần một đứa con nít cũng có thể hại được chàng. Michael căng mắt nhìn ra cửa chờ đợi một bộ mặt xương xương, đen đủi…với một chiếc nón cối mầu xanh chàm, họng súng AK đen xì…hiện ra như một định mệnh an bài!

Nhưng không…không phải cái hình ảnh gớm ghiếc mà Michael đang lo lắng đợi chờ xuất hiện, mà trong cái nắng lung linh đó, một khuôn mặt thiếu nữ hiện ra. Trên tay nàng, một cái cà-mèn nhuôm sáng lấp lánh và một chiếc gậy bằng cây to chừng cổ tay trẻ em. Chỉ nhìn những thứ đó, Michael thừa thông minh để biết rằng mình đã may mắn gặp được cứu tinh.

– “Mister” Vừa gọi, nàng vừa cúi nhìn vào trong lều, rồi lại nhìn nhanh ra ngoài…như nghi ngờ chàng đã bỏ đi mất.

Ô hay, nàng nói được tiếng Anh. Michael lên tinh thần, không ngần ngại, lên tiếng:

– “Tôi đây…,” chàng lết ra giữa lều để thiếu nữ nhìn thấy mình.

Nụ cười tươi nở trên môi hồng, thực hồng, đôi chân luýnh quýnh, nàng khom người bước vào. Thiếu nữ, quần đen, áo bà ba trắng bình dị, tóc dài óng như mây, khuân mặt bầu bĩnh, rám nắng, mở to đôi mắt đen láy nhìn chàng. Michael chưa thấy một hình ảnh nào đẹp bằng hình ảnh ân nhân của chàng lúc đó. Chàng vô cùng cảm động.

– “Cảm ơn cô đã cứu tôi,” Tự nhiên nước mắt của chàng trào ra, lăn trên má.

Thiếu nữ ngạc nhiên nhìn những giọt nước mắt đang lăn trên má chàng trai ngoại quốc, ái ngại nói:

– “Tôi tên Lý…Tôi thấy ông ngoài ruộng…” Tiếng Anh của nàng rất hạn hẹp, lại phát âm sai, nhưng Michael nghe thấy thực êm ái hơn bất cứ giọng nói truyền cảm nào có trên đời này. Chàng muốn với lên, nắm lấy tay nàng…khiến cô gái vội lùi ra xa, làm Michael hiểu ngay cử chỉ đường đột, không đúng lúc của mình, nên chàng vội lên tiếng xin lỗi

-“Xin lỗi cô Lý…vì tôi mừng quá,” Chàng ngồi ngay ngắn lại, dùng thứ Anh ngữ giản dị nói với nàng.

Thấy cô gái đã bình tĩnh, Michael nói tiếp:

– “Đây là đâu vậy, cô? Có Việt Cộng không?” Giọng lo lắng.

Thiếu nữ ngồi ghé bên cửa lều, vừa dở đồ ăn trong cà-mẻn ra, vừa lắc đầu, đáp:

– “Ban ngày…không có Việt Công, nhưng ban đêm, thỉnh thoảng họ về,” Nàng đưa bát cơm có mùi trứng chiên cho Michael, nói tiếp: “Nhưng ông đừng sợ, tôi sẽ giúp ông về Đà Nẵng. Đây là cơm chiên…ông ăn đi.”

Lời nói của nàng có sức hấp dẫn lạ lùng khiến Michael rất yên tâm. Chàng khẽ nói: “Cám ơn”, rồi cầm lấy chén cơm ăn ngon lành, một chén cơm không có gì ngoài trứng, nhưng xưa nay, Michael chưa bao giờ được ăn một món nào ngon như thế.

Người con gái ngồi yên nhìn Michael ăn với ánh mắt dịu dàng, đầm ấm. Nàng lại lấy từ cà-men ra một hộp tròn đựng sữa trẻ em, đặt trước Michael, khẽ nói:

– “Nước cam”, rồi mỉm cười nhìn chàng.

Michael cảm động vì sự săn sóc đó, khẽ gật đầu…Michael đã từng được nghe nói các cô gái Việt thường rất chu đáo trong mọi việc, nhất là vấn đề nội trợ, săn sóc người khác. Và, trong lòng họ đầy áp tình “mẫu tử”, khiến họ luôn luôn quan tâm tới mọi người, nhất là với chồng con hoặc những người chàng trai được họ thương mến. Thì bây giờ, trước mặt Michael, Lý là hiện thân vô cùng sống động của đức tính cao quý đó. Không biết từ lúc nào, Michael nghĩ, nếu có được một người tình như Lý…thì đời chàng không còn một ước vọng gì nữa.

Michael ăn uống xong, Lý thu dọn sạch sẽ, rồi nói:

– “Ôâng yên tâm nghỉ tạm ở đây, đến tối, tôi sẽ đưa ông về nhà tôi. Đừng sợ Việt Công…lâu lâu chúng mới về vào ban đêm thôi. Nhưng mình cũng phải cẩn thận…”

Michael ngắt lời nàng:

– “Cô yên lòng. Và cảm ơn cô cho đồ ăn…ngon vô cùng. Cô nói tiếng Anh khá lắm.”

Lý cười, hơi lắc đầu:

– “Không, đây là lần đầu tiên tôi nói tiếng Anh với người ngoại quốc, mặc dầu tôi học mấy năm ở hội Việt Mỹ. Tôi vừa học hết lớp mười hai ở Đà Nẵng, bây giờ mùa hè…nên tôi về nhà cha mẹ tôi ở đây,” Nàng quay nhìn ra cửa lều, nói tiếp: “Buổi trưa, đi ngang qua khu ruộng này…chúng tôi thấy ông nằm ngất ở ngoài rạch…đoán là người từ chiếc trực thăng rớt vào buổi sáng…nên bí mật đưa ông về cái chòi này. Chính quyền Quốc Gia không ở gần đây nên tôi chưa kịp báo cho họ hay. Miền này người ta gọi là vùng “xôi, đậu”, nghĩa là hai bên lẫn lộn, không thuộc hẳn về bên nào. Nếu tôi đưa ông về nhà lúc này, tai mắt của bọn Việt Cộng biết được…chúng sẽ thanh toán cả ông lẫn chúng tôi ngay. Ông cảm phiền đợi tới tối, tôi sẽ trở lại.”

Michael cố gắng lắng nghe Lý diễn tả câu chuyện. Chàng thông cảm cái vị thế khó khăn của nàng. Vì thế, chàng luôn gật đầu khi nghe nàng nói, rồi mỉm cười:

– “Cô Lý yên tâm về đi…Tôi sẽ ngủ một giấc cho lại sức và chờ cô tối nay…” Chàng nói câu cuối cùng một cách hết sức tha thiết, nhưng không biết Lý có cảm được sự “tha thiết” đó không. Nhưng lúc nàng dợm đứng dậy, lại ngồi xuống, nhìn bên chân đang được hai tay Michael nâng lên để đổi thế ngồi, giọng lo lắng:

– “Chân ông bị thương có nặng lắm không?”

Michael cười, lắc đầu để nàng yên lòng:

– “Không đâu…tôi còn có thể đi được mà…”

Lý đứng lên, gật đầu:

– “Vậy thì tốt…tôi về đây.” Nhưng bỗng như quên một điều gì quan trọng, nàng xoay người nhìn quanh tìm kiếm. Lúc thấy chiếc gậy đang nằm nửa trong, nửa ngoài cửa lều, nàng nhặt lên, đưa tận tay Michael, nói:

– “Tôi mang chiếc gậy cho ông, nhưng để tối mới dùng. Ông đừng ra ngoài nhé.”

Lý nói xong, khom lưng ra khỏi lều, rồi nghiêng mặt nhìn về phía chàng, nói: “Bye…bye!”. Michael cũng đưa tay vẫy lại, miệng cũng đáp lại: “Bye…bye!”

Michael lắng nghe tiếng chân Lý mổi lúc một xa, rồi mỉm cười một mình. Vì được Lý cảnh giác, Michael cẩn thận nằm thu mình vào góc lều, để dù có người đi ngang qua cũng không thấy được chàng.

Michael cố dỗ giấc ngủ, nhưng chàng chỉ nhắm mắt được một chút rồi lại thức dậy, chong mắt chờ Lý, hồi hộp và thích thú như chờ đợi người yêu.

Buổi hoàng hôn trên đồng vắng thực đẹp.

Ánh chiều chiếu xiên vào tận góc lều tranh. Đồng lúa xanh, bây giờ nhuộm vàng một mầu, gợn sóng theo từng cơn gió lướt qua. Tiếng chim đồng xao xác bay ngang, tiếng ếch nhái đều đều vang vọng…như một cung đàn bất tận.

Cho đến khi bầu trời đầy sao sáng, Michael mới dám nhích người ra ngồi bên cửa lều, nhìn bao quát cánh đồng mờ mờ trong đêm, thoang thoảng gió mát. Cái chân bị thương, chắc trật khớp xương nên nếu không cử động mạnh thì cũng đỡ đau. Tuy nhiên, Michael cũng chưa dám thử chống gậy đi ra ngoài. Không biết trực thăng của chàng rớt nơi nào…còn ai được may mắn như chàng nữa không. Michael bùi ngùi nhớ tới mấy chiến hữu của mình…

Bỗng từ xa, mãi cuối con đường ngang qua túp lều, Michael thấy lóe lên ánh đèn bấm. Ai đây? Dù sao chàng cũng phải thận trọng. Nên lập tức, Michael lùi nhanh vào trong. Nhờ kinh nghiệm trong quân đội, Michael áp sát tai xuống đất, chàng nghe thấy tiếng chân mỗi lúc một gần. Lòng Michael hết sức hồi hộp, nửa mừng vì sắp được gặp lại Lý, nửa lo sợ…nếu chẳng may đó là bọn Việt Cộng tìm tới bắt chàng.

Có tiếng nói xì xèo ngoài cửa lều khiến Michael hoảng sợ. Có nhiều người tới! Lý hay VC đây. Chàng thu mình, ngồi sát vào góc lều, chăm chắm nhìn ra khoảng trời lấp lánh sao ngoài cửa. Chợt có ánh đèn bấm rực sáng chiếu thẳng vào chỗ chàng ngồi, cùng giọng nói trong trẻo của Lý:

– “Mister!” Ồ nàng chưa biết tên chàng. Michael vừa mừng, vừa tự trách mình sơ sót, nên vội lên tiếng:

– “Tôi đây…tôi tên Michael”. Chàng nói như reo vui.

Có tiếng trầm giọng của đàn ông khẽ nói gì với Lý, rồi nàng khum người nói vào trong:

 

– “Ông Michael có thể đi được không? Có ba tôi ra theo, nếu cần ba tôi sẽ giúp ông.”

Nghe Lý nói, Michael hết sức cảm động vì mối cảm tình của những người Việt này dành cho chàng, nên chàng nói ngay:

– “Cô làm ơn nói với ba cô là tôi xin cảm ơn…để tôi thử đi xem sao đã…”

– “O.K”

Michael cầm cây gậy bên mình, lấy đà thử đứng lên. Chân phải tuy đau điếng, nhưng chân trái không hề hấn gì, kể như chàng chống gậy có thể đi được, nên cười, nói:

– “A, được, tôi còn đi được” Chàng đi cà nhắc, chui ra khỏi lều. Khi nhìn thấy bóng hai người thấp thoáng trước mặt, Michael nói tiếp: “Xin dẫn đường.”

Lý cũng cười khẽ, nói gì với cha nàng, rồi quay sang Michael, nói:

– “Vậy ông đi cẩn thận nhé…Nếu có đau quá, cha tôi đỡ cho.”

Ánh đèn bấm bật sáng, lay động trên vùng đất phía trước. Ba người lặng lẽ nối theo nhau qua đoạn đường bờ ruộng khúc khuỷu. Đi được một quãng, Michael thấy cha Lý thì thầm với nàng, rồi hai người dừng bước bên chàng.

Lý giọng dịu dàng:

– “Thôi, ông đừng gắng nữa. Mình cần phải đi mau hơn…để ba tôi đở cho.”

Trong lúc Lý nói, cha nàng lại xốc một bên nách, tay kia đỡ ngang hông Michael khiến chàng đi dễ dàng và mau hơn.

Michael hai ba lần nói “Thank you…thank you”. Cha Lý không nói gì, chỉ khẽ cười.

Từ đêm đó, Michael được gia đình Lý bí mật nuôi trong nhà, và sau một tuần thì chàng có thể đi lại bình thường. Chân phải của Michael quả may mắn, không bị gẫy, mà chỉ trật khớp xương. Ông Bửu, cha của Lý, đã dùng gừng giã nhỏ trộn lẫn với rượu, bóp và lấy lại khớp xương một cách tài tình, khiến Michael bội phục. Cái chân này, nếu ở bên Mỹ, người ta có bó bột đàng hoàng cũng phải mất mấy tháng mới lành. Tại đây, miền đất mà Tây Phương cho là lạc hậu, lại có những “phép lạ” không thể ngờ được.

Trong thời gian ở tại tòa nhà rộng lớn với nhiều phòng ốc này, Michael được Lý chỉ cho biết những cửa, lối bí mật mà cha nàng đã thiết kế trong tòa nhà phòng khi có biến, họ phải trốn tránh kẻ thù. Bọn chúng có thể là quân ăn cướp hoặc lũ Việt Cộng tráo trở. Để an toàn, Michael được gia đình ông Bửu cho phép Lý nhường căn phòng của nàng cho chàng, nơi mà người lạ không được tự tiện ra vào. Cho nên, trong những ngày ở đây, Michael rất sung sướng vì hàng ngày được gặp người chàng vừa mang ơn, vừa yêu mến. Từ ánh mắt, tiếng cười cho đến giọng nói Anh Ngữ đều khiến cho Michael ngây ngất. Michael thường ngồi bên bàn phấn của Lý dậy nàng nói tiếng Anh sao cho trôi chảy, đúng giọng, hoặc ngắm nàng chải tóc…một hình ảnh rất nên thơ mà chàng giữ mãi mãi trong lòng. Ngược lại, Michael gọi Lý là Cô Giáo…để nàng dậy cho chàng nói mấy câu tiếng Việt thông thường. Gần bàn phấn là cái tủ áo được dùng để che một chiếc cửa đường hầm bí mật chạy ra ngoài mà một lần Lý đã dẫn chàng đi qua để phòng khi chẳng may có chuyện.

Những ngày hạnh phúc ấy của Michael rồi cũng tới lúc chấm dứt. Vào một buổi tối, Lý và một người nhà tên Dân đã đưa Michael về Đà Nẵng, nơi chỉ cách đây hơn mười cây số, bằng một chiếc xe lam mượn của người hàng xóm.

Chiến tranh mỗi ngày một lan rộng và khốc liệt. Trong thời gian còn ở Đà Nẵng, Michael cũng rất ít khi được gặp lại Lý, không những vì tình hình chiến sự, mà còn vì lễ giáo của người Việt ngăn trở. Mặc dầu gia đình Lý rất quý Michael, nhưng họ không thể chấp nhận cuộc hôn nhân giữa hai người. Michael được một người bạn Việt cho biết rằng, với họ, chỉ có các cô gái…bán bar hay đĩ điếm mới lấy lính Mỹ, dù người này là sĩ quan chăng nữa. Vì thế, mối tình của Michael với Lý coi như vô vọng.

Sau khi Michael được hồi hương, chàng vẫn giữ liên lạc với Lý bằng thư từ. Những thùng quà với các đồ dùng trong nhà như máy khâu, các loại máy làm bếp, vì chàng biết Lý rất thích việc nội trợ, cùng son phấn đắt tiền trong Maycy’s, được Michael trân trọng chọn lựa để gửi sang tặng nàng. Lý cũng rất cảm động về mối chân tình của Michael, và chỉ thế thôi, nàng không một lời hứa hẹn. Từ khi về nước tới tháng tư bảy lăm, Michael sang Việt Nam ba lần vào những dịp nghỉ phép, rất tiếc chàng chỉ được gặp Lý một lần duy nhất tại trường Văn Khoa Saigon. Khi miền Nam Việt Nam sụp đổ, Michael đã vội vã bay qua Đà Nẵng tìm gia đình Lý để đưa họ rời Việt Nam. Nhưng không may cho Michael, lúc đó, tình thế miền trung thay đổi quá mau, mọi nơi đã rơi vào tình trạng vô cùng hỗn loạn, Michael không thể đi xa hơn mấy phố chung quanh cơ quan hành chánh của chính phủ Miền Nam. Cuối cùng, chàng đành phải đáp chuyến phi cơ cuối cùng rời nơi này…trong lúc Việt Cộng đang tiến chiếm từng cứ điểm còn lại của chính phủ trong thành phối. Ngày ấy, ngồi trên phi cơ, nhìn những cột khói đen từ đó, đây, dưới thành phố bốc lên, Michael đã bật khóc, thương cho số phận của gia đình Lý, của người Việt Quốc-Gia đang lọt vào tay quân thù.

 

Tiếng bánh xe phi cơ chạm mặt đất khiến Michael bừng tỉnh những giây phút hồi tưởng. Nhà cửa, cây cối chạy vun vút ngoài cửa sổ. Michael thực náo nức khi nghĩ tới lúc chàng được gặp lại Lý, người mà chàng thầm yêu suốt gần hai mươi năm qua. Phi trường xơ xác hơn cả ngày Michael rời nơi đây năm bẩy lăm. Những hố bom vẫn còn y nguyên. Phi đạo xấu, máy bay lồng lên dù đang đi chậm lại để vào chỗ đậu.

Hàng rừng người chờ đón ngoài  cửa. Michael không ngạc nhiên về thái độ vồn vã của người Việt trong chế độ Cộng Sản Việt Nam ngày nay đối với người Mỹ. Thực ra, thù hận chỉ có nơi giới lãnh đạo thuộc đảng Cộng Sản Việt Nam. Nay do nền kinh tế càng ngày càng lụi bại trong mười mấy năm cầm quyền, bọn này đành áp dụng chính sách “cởi mở” để đonù những người tư bản tới để kiếm ngoại tệ. Thù hận vốn không có trong người dân, nên được dịp, họ “hồ hởi” đón tiếp khách nước ngoài tới. Vì vậy, chuyến đi này, Michael tin là an toàn  và chàng có thể đi đó đi đây, tìm kiếm gia đình Lý. Với hy vọng tình thế đã thay đổi, biết đâu họ sẽ chấp nhận lời cầu hôn của chàng. Trong những năm qua, Michael đã nhờ mấy người bạn Việt tị nạn tại Mỹ dậy chàng viết và nói thông thạo tiếng Việt.

Michael ngồi xe ven của hãng hàng không về khách sạn Hải Châu nằm gần đường đi tới nhà thờ chính tòa Đà Nẵng. Phố xá không buôn bán như trước đây nên trông buồn thiu. Michael nhớ lại những tháng ngày ở Đà Nẵng, chàng từng đi qua phố này mỗi sáng chủ nhật để tới nhà thờ thánh Phao-lô của nhà dòng Saint Paul xem lễ, và thường lưu lại tới chiều với các sơ để dậy Anh Văn cho mấy chị sắp được đi du học. Chàng nhớ dì quản lý Marie thường cho trái cây để chàng mang về trại với câu nói dí dỏm: “Michael mang về ăn…lấy sức để lần sau tới dạy học nữa.”

Buổi tối đầu tiên tại đây, Michael bận rộn nhiều với việc khai báo.  Ăn xong bữa cơm tối, chàng tắm rửa rồi đi nghỉ. Chàng định ngày mai, việc đầu tiên là thuê xa lái về làng của Lý để tìm nàng. Sau đó làm gì mới làm, đi đâu mới đi.

Ở đây, thành phố hoạt động rất sớm. Vừa bình minh, đã có nhiều xe chạy ngoài đường, bấm còi inh ỏi như một cố tật, không kiêng nể gì chung quanh còn có người đang nghỉ ngơi. Giờ giấc sáng tối khác biệt giữa Mỹ và Việt Nam, sự nôn nóng sắp được gặp lại người mà bao năm qua chàng hằng thương nhớ cũng khiến cho Micheal không ngủ được nhiều.

Micheal chong mắt, nằm trên giường chờ sáng.

Bữa điểm tâm đơn sơ và nhanh chóng. Mãi tới chín giờ, chiếc xe hơi do khách sạn mướn cho chàng mới tới đậu trước cửa. Michael mang ít đồ ra xe, rồi vội vã lái đi. Lẽ ra phải có tài xế  đưa đi, nhưng Michael muốn giữ tính cách riêng tư nên gắng lái xe lấy. Từ trung tâm thành phố, theo hướng tây bắc, xe đi mau chừng nữa giờ, Michael đã nhận ra những hình ảnh quen thuộc. Qua cánh đồng bên tay phải, nơi mà xưa kia, chàng đã nhảy từ trực thăng xuống, theo con đường lộ trải đá đi sâu vào trong làng chừng nửa cây số, chàng đã trông thấy nhà của Lý giữa lùm cây xanh ngắt. Xe đậu xế cửa tòa nhà. Trước đây mhà này được quét vôi trắng, cửa sơn mầu nâu đỏ. Nay, mầu trắng đã ngả sang mầu xám dơ bẩn, nhiều chỗ hồ áo đã vữa ra từng khoảng lớn, có dấu đạn bắn vào, trật cả lớp gạch bên trong. Các cánh cửa bạc phếch, có lẽ từ ngày ấy cũng chưa từng được sơn phết lại. Trên lầu, giây phơi quần áo giăng nhiều như màng nhện.

Michael đứng ít phút trước cửa nhà Lý, thấy những người lạ mặt lui tới, chàng đoán trong đó đã có nhiều thay đổi, nên chưa dám đường đột xông vào. Michael đành đợi bên ngoài, mong gặp một người trong gia đình Lý thì tiện hơn. Người qua đường, ai cũng lấm lét nhìn trộm người đàn ông ngoại quốc, với bộ râu quai nón mầu nâu đen. Có những người còn đứng từ xa chỉ chỏ thì thầm với nhau. Michael biết thế, cứ lờ đi, kiên nhẫn chờ đợi. Rất lâu, bỗng một người đàn ông mặt rỗ, áo sơ mi trắng bỏ ngoài quần tây vải kaki rộng thùng thình từ trong nhà đi ra. Michael nhận ra một vài nét quen quen,

 

nhất là khuôn mặt rỗ của người này, chàng vội đón đường anh ta, miệng hỏi:

– “Có phải anh Dân đó không?”

Người đàn ông quy lại, trố mắt nhìn “ông tây” trước mặt, ngạc nhiên:

– “Ông?”

Đúng Dân, người thanh niên khi xưa đã cùng Lý đưa Michael về Đà Nẵng bằng xe lam.

Michael vui vẻ đưa tay bắt, miệng nói:

– “Tôi là Michael đây…anh nhớ ngày đó…anh lái xe lam đưa tôi với cô Lý về Đà Nẵng…Tôi chờ ở đây cả tiếng rồi…cũng may được gặp anh.”

Dân nghe Michael nói, anh cũng nhận ra chàng dù bề ngoài, chàng đã thay đổi nhiều, nhất là bộ râu và nói tiếng Việt trơn tru. Anh kéo tay Michael về hàng hiên trước cửa nhà, giọng vui vẻ:

– “Tôi đâu có ngờ…trông ông khác xưa quá…nhất là lại để râu nữa.”

– “Hai cụ và cô Lý khỏe không?” Michael nói xong, hồi hộp chờ câu trả lời.

Dân bỗng xịu mặt xuống, trầm giọng buồn bã, nói:

– “Ôi, hai cụ tôi mất từ lâu rồi….còn cô Lý…”. Dân ngập ngừng như không dám nói hết câu.

– “Cô Lý sao rồi?” Michael hốt hoảng, hỏi dồn.

Dân lắc đầu, khẽ nói:

– “Chuyện hơi dài…Mời ông vào trong chơi đã…” Dân vừa nói, vừa ra dấu mời chàng vào nhà.

Michael gật đầu, lòng băn khoăn đi theo Dân. Dân quay lại hỏi:

– “Ông ở chơi lâu không?”

Michael nghĩ mình sẽ không ở lại đây lâu nếu chẳng được gặp Lý. Vì thế, chàng lưỡng lự đáp:

– “Không lâu đâu…chỉ muốn về thăm gia đình Lý thôi. Nếu không còn ai ở đây, tôi sẽ đi ngay.”

– “Thôi được.” Dân cười nhẹ: “Để sau hãy hay.”

Michael chưa hiểu ý Dân, nhưng cũng đáp xuôi:

– “Phải.”

Chàng theo Dân vào trong nhà.

Michael rất ngạc nhiên vì không ngờ tòa nhà đã được chia cho nhiều gia đình trú ngụ. Thấy có người ngoại quốc đi qua, từ trong các phòng, ai cũng nhìn ra. Gia đình Dân chỉ chiếm một gian rộng trên lầu. Dân cho hay hiện tòa nhà do công an khóm quản lý, anh ta chỉ được giao trách nhiệm bảo trì nó mà thôi.

Dân giới thiệu Michael với vợ và hai đứa con còn nhỏ. Ba mẹ con cứ nhìn ông Mỹ nói tiếng Việt, tủm tỉm cười với nhau. Sau đó, anh ta mời Michael ngồi vào một chiếc bàn bằng gỗ rẻ tiền có bốn chiếc ghế cũ kê quanh. Vừa rót nước mời khách, anh vừa nói:

– “Từ ngày đó đến nay đã gần hai mươi năm rồi, ông nhỉ.” Rồi anh thấp giọng, tiếp: “Bọn kia về giải phóng, áp dụng chính sách xã hội chủ nghĩa…nên nơi này có rất nhiều thay đổi…” Anh nhìn lên: “Kể cả việc hai cụ tôi mất…”

Michael nóng lòng muốn biết về số phận của Lý, nên vội ngắt lời:

– “Còn Lý? Bây giờ cô ấy ở đâu?”

Dân lắc đầu làm Michael choáng váng:

– “Không biết. Một đêm, cô ấy gặp nạn, nhưng chạy về được phòng riêng, rồi không biết trốn biệt đâu mất.”

Michael nghe thế, hơi mừng, lòng nhúm lên một chút hy vọng:Nàng chưa chết, chỉ mất tích thôi!

– “Thế không ai kiếm Lý sao?” Chàng nhíu mày: “Cả hai cụ cũng không quan tâm tới cô ấy?”

Dân lắc đầu:

– “Cụ ông sau đêm đó thì qua đời. Cụ bà đau yếu liên miên…rồi chúng tôi cũng không dò la thêm được tin tức gì…nhất là vừa nghèo, vừa bị công an theo dõi.”

Mắt Michael sáng lên:

– “Nếu bây giờ mình có tiền, không còn bị ai theo dõi thì có thể tìm kiếm được Lý không?”

Chàng nói xong, chờ đợi phản ứng của Dân.

Dân nhìn Michael suy nghĩ một lúc, rồi gật đầu:

– “Thú thực, tôi cũng không chắc lắm vì sự việc sẩy ra đã khá lâu với quá nhiều biến cố…nhưng ta cứ thử.” Dân gật gù: “Biết đâu số ông hên…Nhưng chắc ông phải ở lại đây ít ngày mới được.”

Michael phấn khởi, tươi nét mặt:

– “Được chứ. Mình có sẵn xe hơi…muốn đi đâu thì đi.”

Dân trầm ngâm suy nghĩ, rồi khẽ lắc đầu:

– “Không thể làm ồn ào. Mình chỉ thuê người bí mật dò la, vì nếu bọn công an biết được thì nguy to. Ông tin tôi đi.”

Tuy không hiểu hết ý của Dân, nhưng Michael công nhận sự thận trọng của anh ta là phải, vì ít ra, Dân là người địa phương, biết tình hình ở đây hơn người từ xa tới như chàng.

Tối hôm đó, nhờ có tiền đút lót công an khóm, Michael được phép ở lại mấy ngày. Gia đình Dân bốn người, sống trong một căn phòng nên không khỏi bề bộn. Khi biết Michael là khách của con ông chủ nhà khi xưa, vợ Dân tiếp đãi rất niềm nở, nhưng vì là đàn bà quê, chất phác, thấy khách lạ, lại là người Mỹ nên chị ta chỉ lo dọn dẹp, không dám ngồi nói chuyện.

Michael được Dân thết cơm Việt nam khiến chàng rất vui, coi như được hòa đồng với người Việt thân thương. Cơm nước xong, trời cũng đã tối, vợ Dân rất ý tứ, dọn cái giường “Hồng Kông” cũ kỹ, cái giường duy nhất của gia đình để Michael ngủ.

Thấy thế, Michael vội ngăn lại, nói:

– “Này chị Dân, cho tôi ngủ ngoài cái ngựa kia cũng được mà.”

Vợ Dân ngưng tay, nhìn chàng, lắc đầu:

– “Ông là người ngoại quốc…nằm phản đau lưng chết,” Rồi chị lại tiếp tục dọn giường.

Michael quay sang Dân:

– “Anh Dân…nói chị ấy đừng làm vậy, tôi không dám ở đây nữa đâu.” Nói thế chứ thực tình không ở đây, chàng cũng chẳng biết đi đâu bây giờ.

Cuối cùng, Dân đứng dậy, đến bên vợ, khẽ nói:

– “Thôi thế này…ông Michael nói vậy, mẹ nó đừng dọn nữa…” Anh hạ thấp giọng, tiếp: “Để tôi mở cái phòng kia, mời ông ngủ tạm một đêm…rồi mai sẽ tính.”

Chị vợ quay lại, nhíu mày nhìn chồng yên lặng. Dân gật gật đầu:

– “Đi, không sao đâu,” Anh nhìn quanh, tiếp: “Lấy màn và cái gối trong hòm ra đây…”

Chị Dân luc xục một lúc ở góc nhà, ôm ra một ôm màn, gối, để cả lên giường.

Dân ngập ngừng nói:

– “Bên này còn căn phòng nữa…mời ông sang ngủ tạm,” Anh vừa nói, vừa một tay cắp màn, gối, một tay cầm chiếc đèn cây đi ra cửa đứng chờ.

Michael thấy có gì khúc mắc, nhưng cũng lờ đi.

Sau khi giúp vợ Dân thắp ngọn đèn Hoa kỳ nhỏ khác, đặt ngay ngắn trên bàn, Michael mới bước theo Dân.

Dân đi bên Michael, giọng ngập ngừng:

– “Cái phòng của cô Lý ngày trước ấy mà…”

Michael xúc động khi nghe Dân nhắc tới căn phòng ấy. Chàng nhớ nó không lớn, nhưng đồ đạc đẹp và xinh xắn, đúng là căn phòng của một cô tiểu thư con nhà khá giả. Thời gian thần tiên bên người đẹp, trong căn phòng đó đã là những kỷ niệm không thể quên của chàng. Phải chăng vì tôn trọng nàng mà người ta không chiếm ngụ, dành riêng đơi nàng trở về? Nhưng, khi cửa phòng được mở ra, Michael thật ngỡ ngàng vì bên trong đã hoàn toàn thay đổi. Cái bàn phấn, kệ để hoa không còn nữa. Chiếc giường cẩm lai được thay bằng chiếc giường gỗ tạp rẻ tiền. Màn cửa sổ mầu hồng nhạt đã mất. Duy có cái tủ áo thì vẫn ở chỗ cũ. Michael khẽ thở dài luyến tiếc. Chàng bồi hồi, mường tượng lại hình ảnh người con gái thướt tha, đôi mắt đen láy, chiếc miệng xinh, mọng đỏ như đóa hồng…đã một thời ở trong phòng này. Hai chiếc ghế đan bằng mây rách tã, chỏng chơ ở giữa nhà càng làm cho căn phòng trở nên tồi tệ hơn.

Dân để màn, gối xuống giường, tiện tay đẩy mấy cái ghế mây về một góc nhà, miệng phân trần:

– “Lâu ngày không ai ở, bụi bậm quá thôi.”

Michael nhìn quanh, ngậm ngùi:

– “Anh Dân, đồ đạc của Lý đâu cả rồi?”

Dân lắc đầu, giọng chán nản:

– “Những kẻ có quyền thế đã dọn sạch từ lâu rồi, trừ cái tủ còn ít áo cũ của cô ấy…tôi phải bỏ tiền mua lại còn mới.”

Rồi anh nhìn Michael tiếp: “Chắc ông cũng hiểu tại sao rồi chứ?”

Michael bị hỏi bất ngờ, nhưng chàng đoán Dân cũng biết cái bí mật ở đàng sau cái tủ áo, chàng gật đầu:

– “Tôi hiểu.”

Chị Dân sang theo với cái chổi lông gà để phủi bụi bậm đóng trên đồ đạc trong phòng. Hai vợ chồng Dân làm luôn tay một lúc, căn phòng trông cũng tạm ổn, sạch sẽ. Chiếu được thay, màn được mắc lên tươm tất. Michael thơ thẩn đi quanh phòng, chàng tới chiếc cửa sổ nhìn ra ngoài, mắt như đụng vào thân cây phi lao già xừng xững. Bên dưới phố, thấp thoáng bóng người qua lại.

Khi vợ chồng Dân rời phòng, màn đã buông, ngọn đèn được vặn nhỏ lại, Michael mới cảm thấy vô cùng bâng khuâng. Chàng ngả lưng xuống giường, nhắm mắt…không thể tưởng tượng mình đang nằm trong căn phòng của người mình thương trong gần hai mươi năm qua. Trong màn đêm, tiếng muỗi vo ve, tiếng phi lao reo vi vu, tiếng dế nỉ non buồn bã…tiếng lao xao của người đi dưới đường là những âm thanh của ngày xa xưa…hầu như không thay đổi. Nằm nệm quen, bây giờ ngả lưng trêb chiếu, dưới là rỉ gỗ cứng đơ thực ê ẩm khó chịu, coi bộ chàng khó mà dỗ ngay được giấc ngủ.

 

…Chắc chừng mười giờ thôi mà như đã khuya lắc khuya lơ. Dưới đường đã vắng lặng. Bỗng Michael nghĩ không ra vì sao mọi phòng khác đều có người chiếm ngụ, mà căn phòng này lại bỏ trống? Chàng mỉm cười khi nghĩ…chẳng lẽ họ tiên tri ngày hôm nay mình trở về thăm Lý…nên dành sẵn cho chàng chăng.

Không biết trong bao lâu, Michael thiếp đi. Trong giấc ngủ chập chờn…bỗng chàng nghe có tiếng động lớn bên ngoài hành lang. Michael nghĩ ngay đến những kẻ làm liều, cướp bóc người nước ngoài tới, nên chàng hết hồn, vùng ngồi dậy, nhìn ra cửa đề phòng. Ngay lúc đó, một cô gái khỏa thân, trắng nồm nộp, tóc xõa rối bời, nhào vào phòng, miệng thét lên thảm thiết: “Cứu tôi với…!Trời ơi, ai cứu tôi với…”

Michael kinh hãi, nhưng không chậm trễ, nhảy vội ra khỏi giường, chạy vút lại phía cô gái vừa khi nàng xô tới bên chàng…khiến Michael bàng hoàng giật bắn người…và bừng tỉnh cơn ác mộng. Mồ hôi Michael toát ra, trống ngực đập thình thịch, nhất là chàng lại thấy mình đang đứng giữa căn phòng, dưới ánh đèn khuya mờ tỏ. Bốn bề vắng ngắt!

Michael run run lần về giường. Đã chui vào màn, nhưng mắt chàng vẫn mở chong chong…gợi nhớ lại hình ảnh trắng toát, tiếng kêu thất thanh đến rợn người của cô gái trong giấc mơ khiến chàng rùng mình, ớn lạnh đến độ phải chỗi dậy vặn to ngọn đèn. Biết là không tài nào ngủ ngay lại được, Michael ngồi xuống chiếc ghế mây dựa bên tủ áo để hút thuốc. Vô tình Michael đụng mạnh khuỷu tay vầo khiến cánh cửa tủ bung ra. Michael giật mình, quay lại nhìn. Chàng nhận ra trong tủ còn treo ít y phục phụ nữ. Michael đứng dậy, cầm đèn soi cho rõ hơn. Bất chợt, chàng thấy một tấm hình bán thân của một thiếu nữ tóc dài mượt, bằng nửa bàn tay, dán ở mặt sau cánh cửa tủ. Nhìn gần hơn, Michael vui mừng khi nhận ra đó là ảnh của Lý năm xưa. Chàng vội bóc tấm ảnh ra, nhẹ đặt môi lên hôn say đắm.

Michael bỏ tấm hình vào ví, áp lưng với tấm ảnh bán thân củ kỹ của mình: “Nếu không còn gặp Lý nữa thì chuyến đi này cũng đã có phần an ủi.” Michael vừa nghĩ thế, vừa thẫn thờ đi lại quanh căn phòng vắng lặng. Có lúc chàng mường tượng như Lý đang đứng ngồi đâu đây. Bất chợt chàng nghĩ tới giấc ác mộng vừa qua, tới cô gái lõa lồ chạy vào phòng này cùng tiếng kêu cứu thất thanh…không biết có liên hệ gì với Lý không? Trong giấc mơ, vì quá kinh hãi, chàng không còn tâm trí để ghi nhận nhân dáng của cô này. Thực đáng tiếc. Một ý nghĩ thóang qua, Michael trở lại giường, lên nằm ngay ngắn, cố dỗ giấc ngủ…biết đâu, cơn ác mộng sẽ trở về một lần nữa. Tuy có lúc chàng chợp mắt được một lúc, nhưng không có gì sảy ra cả.

Sáng ra, Dân sang mời Michael về bên anh ta ăn điểm tâm. Vừa gặp chàng, anh ta hỏi ngay:

– “Đêm rồi, lạ nhà, ông có ngủ được không?” Dân nhìn Michael như chờ đợi một câu trả lời…quan trọng.

Michael gật đầu:

– “Cũng ngủ được một chút,” Chàng vươn vai, hơi lắc đầu: “Rõ ngủ trong nhà…mà như ngủ nơi tha ma mộ địa.”

Dân phản ứng liền:

-“Ông nói sao? Nơi tha ma?!”

– “Nói đùa thôi…” Michael vừa cười nói, vừa mở cửa ra ngoài trước.

Hai người trở về tới phòng của gia đình Dân, đã thấy

chị vợ dọn ra bàn nước đĩa xôi đậu xanh còn bốc khói. Thấy khách về, chị bẽn lẽn nói:

-“Bố nó mời ông đi.”

Nói thế, nhưng chị ta lại hớt trước:

– “Mời ông xơi chút quà nhà quê. Ở đây, buổi sáng họ chỉ bán mấy thứ lặt vặt này thôi.” Chị ta lùi ra xa, nhường lối cho hai người.

Michael tự nhiên ngồi xuống ghế, nói:

– “Ô, thế mà ngon chị ạ. Ngày tôi còn ở Việt Nam, tôi cũng đã thử ăn thứ xôi này. Hơn hai mươi năm rồi đó!” Chàng nhìn quanh, cao giọng hỏi: “Các cháu đâu cả rồi?”

Dân ngồi xuống, đối diện với Michael, đáp:

– “Thưa, chúng nó đi học cả rồi. Mời ông.”

– “Cảm ơn anh chị.” Michael cầm thìa, xúc xôi vào bát của mình, khen: “Xôi còn nóng, trông ngon nhỉ.”

Vợ chồng Dân nhìn nhau, cười. Họ không ngờ có một người Mỹ gần gụi với người Việt như vậy.

Ăn được mấy miếng, Michael lựa lời hỏi dò:

– “Cái phòng cô Lý tôi ngủ đêm qua…sao lại bỏ không vậy anh chị?” Chàng nhìn kỹ phả ứng của vợ chồng Dân. Người vợ hơi bối rối, nhưng Dân hình như đã sẵn câu trả lời:

– “Ông cũng bỏ lỗi cho…hôm qua vì kẹt quá…mới phiền ông ngủ bên đó…” Anh ta bỏ lửng câu nói, nhìn Michael dò xét.

Michael không thể yên lặng được nữa, nhìn ra cửa, nói:

– “Nói thực nhé…đêm qua, tôi gặp một cơn ác mộng.

Một cô gái trần truồng tung cửa, chạy vào phòng, kêu cứu thất thanh. Khi giật mình dậy…thì không thấy gì…nhưng giấc mơ thì y như chuyện vừa sẩy ra. Sợ quá, cả đêm không sao ngủ lại được.” Chàng nhìn hai người, rồi chậm rải: “Có gì, anh chị cứ cho tôi biết đi…”

Vợ Dân đang định lên tiếng thì anh chồng ra dấu yên lặng, rồi nhìn Michael nói:

– “Đúng như vậy. Phòng đó để không từ lâu, không ai dám ở cũng chỉ vì cô gái hay hiện ra trong giấc mơ đó, ông ạ. Không phải là một giấc mơ hão huyền đâu…mà là chuyện thực sẩy ra cả mười mấy năm về trước, kể từ

đêm cô Lý trốn về đó…”

Anh ngưng lời, nhíu mày, đang định kể tiếp câu chuyện thì chị vợ nói xen vào:

– “Cô ấy là cô Lý con cụ chủ đấy, ông ạ.”

Michael giật thót người:

– “Thì ra Lý đã chết?”

Dân lắc đầu quầy quậy, gạt đi:

– “Mẹ mày biết gì.” Rồi quay sang Michael, anh tiếp: “Ông ạ, khi bên kia về ‘giải phóng’, Anh như lỡ lời, nhìn nhanh ra cửa…rồi hạ giọng vừa đủ cho mình Michael nghe: “Tên tỉnh ủy ra lệnh ai ở thuê trong nhà này đều phải đi hết, trừ chúng tôi và gia đình cô Lý. Ông cụ là chủ nhà thực, nhưng tên này vẫn coi như đã thi ân cho gia đình cụ. Vì thế, ngày ngày hắn lân la tới đây, gạ gẫm cô Lý làm vợ bé hắn ta. Riêng cô Lý, hắn vẫn dành căn phòng cũ để nàng ở. Hắn không chưa dám bắt nàng về nhà vì vợ hắn là một người rất ghen tương và hung dữ. Trong tình thế đó, hai cụ tôi, và nhất là cô Lý quyết liệt từ chối. Biết không thể thuyết phục được người ta, một đêm hắn đem lính tới vây cả khu quanh đây, rồi vào nhà này trói ông bà cụ lại, xong hắn xông đại vào, xé quần áo cô Lý ra, định làm ẩu…để coi như chuyện đã rồi. Nhưng, không biết sao, cô Lý lại bất ngờ thoát được khỏi tay hắn, chạy như bay về phòng riêng, miệng kêu cứu inh ỏi.. Tên này giận dữ, như hùm xổ chuồng, điên cuồng đuổi theo. Nhưng hết sức lạ lùng là chẳng biết tình hình trong phòng lúc ấy ra sao, mà sau đó, không ai nghe động tĩnh gì nữa. Chúng tôi theo lên tới nơi, chỉ thấy phòng vắng hoe. Cô Lý, tên tỉnh ủy kia đi đâu mất. Sau này có tin đồn…cô Lý nhảy lầu xuống đường tự tử, nên tên kia sợ tội, mang xác cô ấy đi, trốn biệt. Có người còn cho là hắn ta bắt được Lý, mang đi sống chung ở một nơi nào đó.”

Dân kể một hơi câu chuyện. Michael ngồi nghe, lòng cảm thương, vô cùng xót xa cho số phận của Lý.

Dân nghỉ một lúc, cao giọng, tiếp:

– “Từ ngày ấy, ai ngủ trong phòng cô Lý, đêm nào cũng gặp cơn ác mộng như ông. Cuối cùng, nguời ta đồn ra, làm ai cũng sợ. Vì thế, nó để không cho tới nay.” Dân thờ dài: “Hai cụ tôi cũng vì chuyện cô Lý, buồn quá mà lần luợt qua đời.”

Michael không ngờ chuyện của người yêu bi thương và éo le như vậy, chàng nhìn Dân, trầm giọng:

– “Anh Dân ạ, có lẽ tôi sẽ ở lại đây tới khi chúng ta tìm được tông tích của Lý, hoặc biết chắc cô ấy đã mất, tôi mới yên tâm về Mỹ.” Chàng suy nghĩ một chút, lấy từ ví ra hai trăm đô la, đưa cho vợ Dân, nói:

– “Chị cầm lấy để chi dùng trong lúc tôi ở đây. Tiền còn lại, tôi tặng các cháu mua sách vở.” Chàng quay sang Dân, thân mật: “Anh Dân, chúng ta khởi sự việc tìm kiếm Lý ngay từ hôm nay…phí tổn bao nhiêu cũng đừng lo.”

Vợ chồng Dân ngỡ ngàng trước số tiền quá lớn mà cả đời họ, chưa bao giờ dám mơ ước. Lời nói của Michael cho họ hiểu đây là cách tặng tiền tế nhị cho gia đình họ, chứ tiêu gì trong mấy ngày mà hết tới tiền triệu! Trong lúc chị vợ ngẩn người vì ngạc nhiên, thì Dân ra vẻ từ chối:

– “Ông Michael, ăn uống gì cả tiền triệu thế này? Một nửa chỗ này cũng đủ chán”.

Michael cười, thành thật:

– “Anh đừng lẩn thẩn…tiền còn dư, tôi tặng các cháu mà. Anh chị không nhận, tôi không yên lòng đâu. Chuyện tìm Lý còn nhiều khó nhọc, chỉ mong anh tận tình cộng tác với tôi…là quí rồi.”

Dân ra hiệu cho vợ cất tiền đi, rồi cũng thành khẩn nói với Michael:

– “Vậy cảm ơn ông. Đây cũng là dịp may cho chúng tôi…vì có thể điều tra hư thực về việc mất tích của cô Lý. Trước tới nay, trong lòng chúng tôi rất áy náy, thấy mình có lỗi với hai cụ. Quả thực, chúng tôi không đủ phương tiện để lo…ngày ngày kiếm miếng ăn nuôi các cháu đã vất vả lắm rồi…”

Michael gật đầu:

– “Hy vọng hai người mình họp lại làm việc sẽ có kết quả tốt, dù tốn kém, tôi cũng không tiếc. Chúng ta cứ cố gắng, nếu không tìm được nàng thì đó là số mệnh, ta đành chịu thôi.”

Dân nhìn Michael ấp úng:

– “Vậy tối nay…?”

– “Tôi vẫn ngủ bên đó.” Chàng khẽ cười: “Nếu là hồn ma cô Lý…tôi không có lý gì mà phải sợ.”

Ngày hôm đó, Michael cùng Dân sắp đặt, tìm gặp những người lanh lợi, hiểu chuyện để mướn họ đi tìm kiếm tin tức liên quan tới Lý.

Buổi tối, sau khi ăn cơm xong, Michael trở lại căn phòng của Lý. Chàng vặn to ngọn đèn dầu, ngồi hút thuốc cho qua thời giờ. Dân có sang một lần, định ngồi lại chơi với Michael cho bớt hiu quạnh, nhưng chàng từ chối, lấy cớ cần đi ngủ sớm…để chờ xem Lý có trở lại trong mộng nữa không. Dân hiểu ý, trờ về phòng mình.

Dân đi rồi, Michael sửa soạn giường chiếu, buông màn rồi vào nằm chờ đợi. Thời gian chầm chậm trôi. Ngoài trời hôm nay có gió to, cây phi lao bên cửa sổ reo vi vu, buồn bã. Cánh cửa sổ lâu ngày, ốc đã long, thỉnh thoảng bị gió thổi, đập vào tường keo lạch cạch. Tiếng lao xao của người đi dưới đường thưa dần, không gian trở nên quạnh quẽ. Tiếng côn trùng hòa lẫn với âm thanh của thiên nhiên…và gần hơn, tiếng vo ve của vài con muỗi còn vướng trong màn…nghe đều đều không dứt.

Michael đã có ý định từ trước. Chàng nằm nghiêng người, mặt quay về phía cửa ra vào. Qua cánh màn vải thưa, chàng có thể thấy rõ những gì sẩy ra bên ngoài.

Có lẽ đã tới nửa khuya, Michael rơi vào giấc ngủ lúc nào không hay. Và đúng như lời Dân, cơn ác mộng không thể không đến…Bắt đầu là tiếng chân khua động ngoài hành lang, tiếng đập cửa rầm rầm, tiếng la: “Cứu tối với…Trời ơi…ai cứu tôi với…!” Đồng thời bóng trắng xuất hiện…tiếng cài then cửa lách cách. Nàng chạy tới gần chỗ Michael nằm. Chàng cố giương mắt nhìn kỹ, thấy dáng dấp cô gái quả là giống Lý. Nàng chạy quanh phòng một cách hoảng hốt, hai tay đạp vào tủ áo thình thình, như cố xô nó ra, nhưng không được. Tiếng thở gấp, tiếng nắc lên từng cơn ghẹn ngào. Ngoài hành lang, tiếng phá cửa rầm rầm, tiếng gầm gừ như dã thú. Và cuối cùng, cửa phòng bật tung. Người con gái kinh hãi thét lên, lớn đến độ làm Michael bừng tỉnh cơn mê.

Michael dụi mất, vén màn nhìn ra ngoài. Căn phòng tuy vắng vẻ, nhưng cái không khí sôi động của cơn  ác mộng hình nư còn phảng phất…làm lung linh ngọn đèn dầu để trên kệ gần đầu giường. Michael chỗi dậy, ra khỏi giường. Điều làm chàng giật mình đến sửng sốt là cánh cửa phòng đã bị mở tung. Giữa mộng và thực…không hẳn hoàn toàn khác biệt…mà có để lại dấu vết.

Nhớ tới cảnh sợ hãi, cuống cuồng đến tuyệt vọng của cô gái giống như Lý trong cơn ác mộng khiến Michael vô cùng thương cảm. Nước mắt Michael tự nhiên trào ra, đầm đìa trên má. Cái bi đát của câu chuyện là, tuy đã sẩy ra hàng mười mấy năm rồi…thế mà sự tình kết lại bằng những thương đâu không thể tan biến đi được. Là người thân thiết của nàng, cảnh tượng đó còn khiến chàng kinh hồn, huống chi kẻ xa lạ.

 

Và, Michael thức trắng đêm hôm đó.

Sáng hôm sau, trong lúc uống trà, Michael thư thả kể lại mọi chi tiết cho vợ chồng Dân nghe. Chàng mang hết tâm sự, về mối tình sâu đậm của mình với Lý ra nói hết với họ bằng một giọng hết sức ngậm ngùi, rồi tiếp:

– “Anh chị thấy đó…trông Lý bị vây hãm, bị săn đuổi như vậy mà mình đành bó tay. Đêm hôm trước, trong mơ, tôi đã chỗi dậy, phóng người ra…thì hình bóng của nàng tan biến mất… tỉnh dậy, tôi thấy mình đang đứng giữa phòng. Đêm rồi, tôi chỉ nằm, định bụng để quan sát từ đầu chí cuối, nhưng lại bị tiếng thét của Lý đánh thức…nên hết thấy sự gì sẩy ra sau đó…và kết quả cuộc đuổi bắt ra sao, nhất là hai người cuối cùng đi về đâu…Lạ lùng ở chỗ là một cánh cửa phòng bị mở tung, đúng như trong giấc mơ!” Michael ngưng lại một chút, rồi bùi ngùi tiếp, như tự hỏi mình: “Không biết Lý…sống chết ra sao?”

Dân xoay lại thế ngồi, lắc đầu:

– “Chưa ai dám chắc là cô Lý đã mất. Nhưng không chết sao hồn cứ…hiện về ám ảnh người ta bằng cách diễn lại cảnh hãi hùng đêm xưa?”

Bỗng vợ Dân rụt rè nói:

– “Ông Michael, hay nhờ người xuống âm phủ…tìm cô Lý? Nếu cô ấy đã chết thì ắt phải gặp…” Chị ta nhíu mày: “Chúng tôi vẫn thấy người ta đánh đồng thiếp xuống cõi âm tìm người chết.”

Ý kiến thật lạ lùng đối với Michael. Bên Mỹ, người da đỏ cũng thường có những buổi tế thần, gọi hồn người chết, nhưng không thấy ai nói tới chuyện xuống âm phủ tìm thân nhân. Michael rất mong biết số phận của Lý ra sao…có bị tên tỉnh ủy bắt được hay đã nhảy lầu tự vẫn…”

– “Đánh đồng thiếp là thế nào, chị Dân?” Michael nhìn vợ Dân, chờ câu trả lời làm chị ta hơi lúng túng.

Dân gạt đi:

– “Ồ, ông đừng nghe chuyện mấy mụ nhà quê nói nhảm,” Anh quay sang vợ: “Mình chỉ vớ vẩn thôi. Người văn minh ai lại tin vào cái trò phù phép đó…”

Nhưng bất ngờ, Michael gạt ngay lời Dân:

– “Chị ấy có ý kiến hay đấy…” Chàng nhìn vợ  Dân gật đầu khuyến khích: “Chị có biết ai làm được chuyện đó không?” Vợ Dân đang định nói tiếp thì Dân giơ tay ra hiện ngưng.

Có lẽ Dân không tin Michael thực tâm, nghĩ là chàng lịch sự, chẳng muốn phật ý vợ mình, nên anh gắng gượng giải thích để Michael biết chuyện:

– “Ông Michael, đánh đồng thiếp là cái trò kiếm tiền của mấy tay thầy pháp, nói là phù phép để con đồng xuất hồn, xuống dưới chín từng địa ngục tìm các vong hồn. Ông chả nên tin mấy chuyện như thế.”

Michael quay sang Dân, cười:

– “Không, tôi muốn thử thực đấy. Anh cứ để chị ấy giúp tôi, chẳng sao đâu.” Chàng nói với vợ Dân: “Nào chị thử nghĩ xem có ông thầy nào giỏi công việc đó không”.

Vợ Dân thêm bạo dạn, nói:

– “Bên Đoài có ông thầy đánh đồng thiếp nghề lắm. Mấy tháng trước, chị phó Thông ngoài chợ có nhờ ông ta tìm thằng con biệt tích bên Cam Bốt. Bố nó ra hỏi chị ta…cho ông.”

Michael nhìn Dân gật gật đầu.

Dân đứng lên, khẽ thở dài, lắc đầu ra vẻ không mấy tin tưởng:

– “Thôi được, để tôi đi xem sao. Đêm rồi ông ngủ không được, nên làm một giấc đi, không lại đau thì hỏng.” Anh quay sang vợ: “Phủi giường chiếu để ông nghỉ đỡ ở đây…rồi lo bữa chiều thì vừa.”

Dân đứng lên như  sẵn sàng ra đi.

Michael ngắt lời Dân:

– “Thôi khỏi vất vả. Chị làm gì tôi ăn được hết. Tôi đang tập làm người Việt đây. Gía khi xưa, tôi không phải là lính Mỹ…mà được như anh Dân…không biết chừng đã cưới được Lý rồi, chứ đâu phải khổ như ngày nay. Anh đừng bận tâm, cứ đi lo chuyện đó đi.”

Vợ chồng Dân nghe Michael nói, nhìn nhau mỉm cười. Dân nhìn quanh, rồi nói:

– “Mẹ nó cứ làm theo ý ông đi. Tôi đi sớm một chút..cho xong chuyện…không ông chờ lâu, sốt ruột.”

Nói xong, Dân tất tả ra cửa.

 

Michael giật mình choàng dậy khi bị Dân đánh thức. Chàng ngồi lên, dụi mắt nhìn anh ta đang đứng bên giường.

– “Ông ngủ được chứ?” Dân thân mật hỏi.

Michael vươn vai:

– “Cảm ơn anh…mấy giờ rồi nhỉ?”

– “Hai giờ hơn. Tôi đã đưa cái ông thầy pháp về đây rồi.” Nhìn nhanh ra ngoài, anh tiếp: “Đang để ngồi chờ ông ở phòng bên ấy. Ông rửa mặt rồi mình sang nói chuyện.”

Michael gật đầu:

– “Tốt lắm.”

Michael xuống khỏi giường, theo Dân ra hàng hiên rửa mặt.

Dân đứng bên, hơi lắc đầu, cười nói:

– “Mời thì mời…chứ tôi không mấy tin tưởng, lại thêm tốn kém.”

– “Đừng lo. Mình cứ thử xem sao,” Michael vừa vắt khăn mặt lên dây phơi, vừa an ủi Dân: “Yên tâm. Ở bên Mỹ chúng tôi, anh đừng tưởng người văn minh mà hết tin dị đoan đâu. Trong Ngũ Giác Đài, cơ quan quân sự đầu não của nước tôi, mỗi năm họ bỏ ra hàng triêu đô la trả cho các  ông bà thầy bói, thầy tướng đấy, anh có tin không? Cho dù hôm nay anh em mình mất mấy trăm ngàn đồng Việt Nam cho ông ta thì có là bao.” Chàng vỗ vai Dân: “Nào, đừng thắc mắc nữa, mình sang gặp ông ta đi.”

Ông thầy pháp là một cụ già chừng trên dưới bảy mươi, tóc bạc trắng, cắt cao, vẻ người còn quắc thước, giản dị trong bộ bà ba đen. Thấy hai người vào, ông cụ vội đứng lên vái chào. Thấy Michael là người ngoại quốc ông cụ hơi khớp, tay chân lúng túng. Michael thấy điều đó, nên chàng chào hỏi thân mật:

– “Chào cụ, xin cụ đừng ngại gì cả. Cụ đã vui lòng đến đây giúp cho chúng tôi đã là quý lắm rồi.”

Nghe Michael nói tiếng Việt, ông thầy có vẻ thích thú nên tự nhiên hơn:

– “Thấy ông là người nước ngoài mà cũng tin vào phép thần linh của đạo cổ chúng tôi, tôi rất kính phục. Còn việc sang đây nào có đáng kể gì để ông bận tâm,” Cụ quay sang Dân, tiếp: “Anh Dân đây với chúng tôi cũng là chỗ quen biết mà…”

Sau mấy câu khách sáo, ba người ngồi quanh cái bàn nước nhỏ mà Dân mới mang sang.

Mọi người uống xong  tách trà,  Michael  mới  thư thả

mang câu chuyện của Lý ra trình bầy với ông thầy.

Thầy pháp ngồi lặng yên, chăm chú nghe, sau cùng, cụ hắng giọng, nói:

– “Căn buồng này, thoạt vào, tôi đã cảm thấy có nhiều khí âm, không ngờ câu chuyện lại sẩy ra đúng nơi này. Việc đưa người xuống cõi âm tìm oan hồn thì chẳng khó gì, chỉ có điều ông đã chọn ai đi chưa mà thôi.” Cụ liếc sang Dân, tiếp: “Anh Dân xem thế nào?”

Dân nghe nhắc đến mình, hơi ngẩn người ra, chưa biết trả lời sao, vì anh cũng chẳng rành chuyện này.

Michael nhìn nhanh hai người, nói:

– “Thưa thầy, tôi địmh đi một chuyến, được không?”

Ông thầy tròn mắt nhìn chàng, sau gật đầu:

– “Nếu ông định thế, cũng được,” Ông cụ hơi nhíu mày, tiếp: “Có vấn đề…là vía của ông cứng quá, khiến công việc của tôi sẽ khó khăn thôi. Thường thì chúng tôi có sẵn con đồng, chứ khách ít người dám tự mình đi…” Cụ gật đầu: “Cái khó nhất, không phải là đánh thiếp lúc đi, mà vào lúc chiêu hồn trở về. Nếu ông thầy không vững tay ấn, có thể làm người đó đi luôn…thì nguy lắm. Anh Dân đến mời, tôi chưa rõ chuyện nên không mang sẵn con đồng theo. Nếu ông đã quyết đi thì cũng tiện…”

Dân nghe nói, ái ngại nhìn sang Michael xem phản ứng chàng ra sao. Nhưng Michael lại thản nhiên, cười, nói:

– “Tôi tin ở cụ. Không sao đâu. Vậy bao giờ mình khởi sự?”

– “Giờ nào cũng được…”

Bỗng Michael nảy ra một ý nghĩ táo bạo, vội cắt lời thầy pháp:

– “Thế này…nếu cụ làm được…có lẽ tốt hơn chuyện đi tìm âm hồn.”

Ông thầy ngạc nhiên, hỏi:

– “Ông nói sao?”

Michael suy nghĩ một chút, rồi nói:

– “Thầy đã biết…đêm đêm những ai ngủ trong phòng này đều mơ thấy cảnh Lý bị tên kia đuổi bắt tới đây. Tôi đã thấy tới hai lần. Tiếng phá cửa rầm rầm, tiếng gầm gừ như mãnh thú, tiếng gào thét cầu cứu của Lý…rất là khủng khiếp. Nếu có thể được, xin cụ giúp…đưa hồn tôi về đúng cái đêm hôm đó…để tôi thực sự có mặt với Lý lúc nàng gặp nạn, có được không?”

Dân và ông thầy đều sửng sốt nhìn Michael. Nhưng chàng giải thích thêm:

– “Bên Tây phương, những người bị khủng hoảng tâm thần hoặc điên lọan vì những biến động tâm lý dữ dội do những biến cố trong quá khứ xa xưa, các bác sĩ phân tâm học dùng thuật thôi miên đưa họ về đúng vào lúc sự việc kia sẩy ra…để cởi mở những ám ảnh đã khiến cho họ lâm bệnh, nhờ đó, bệnh nhân được hồi phục.”  Chàng ngưng lại một lúc, rồi tiếp: “Chuyện của chúng ta hôm nay, cùng một cách đó, nếu tôi trở về đúng cái

 

đêm Lý bị nạn…biết đâu sẽ giúp được nàng trong lúc nguy nan…thì cái ám ảnh trong căn phòng này mới được tháo gỡ…và hy vọng người ở đây sau này không còn bị quấy nhiễu nữa. Cụ nghĩ sao?”

Ông thầy ngồi yên như tượng, mắt hơi nhắm lại. Michael biết cụ đang suy nghĩ, chàng lặng lẽ chờ đợi.

Mấy phút qua, cụ từ từ mở mắt ra, nhìn Michael chăm chăm, rồi nói:

– “Tôi đã hiểu ý ông. Thực chưa người nào nhờ tôi làm một việc như vậy. Nhưng ông đã muốn, tôi cũng xin gắng sức giúp ông.” Cụ quay sang Dân, nói: “Bây giờ anh Dân đi mua nhang đèn và đồ lễ dùm. Ông Michael về bên ấy nghỉ ngơi, cho tôi mượn căn phòng này đến tối. Chừng chín giờ, mời các ông sang đây với tôi.”

Michael nghĩ tới việc giải thoát Lý, vội hỏi:

– “Nếu cần phương tiện đi chuyển…xe hơi của tôi…?”

Thêm một rắc rối. Ông thầy lắc đầu, nói:

– “Vấn đề khó đấy…Tôi không thể đưa cái xe đó theo ông.”

Michael chợt nhìn Dân, hỏi:

– “Anh Dân…cái xe lam thời đó?”

Dân cau mày suy nghĩ, rồi ngập ngừng nói:

– “Phải…ngày đó…vẫn còn…sao?”

– “Anh theo tôi…đi mượn xe được không.” Chàng lo lắng nhìn sang ông thầy.

– “Ông không sợ…tôi đâu có hãi.” Quay sang ông cụ, anh hỏi: “Cháu cũng đi, cụ tính sao?”

Ông thầy pháp cười, lắc đầu chào thua:

– “Chịu mấy ông. Được, mình sẽ gắng ‘chơi’ một keo.” Vừa nói, cụ ta vừa bẻ mấy ngón tay kêu răng rắc.

Dân đưa ý kiến:

– “Mình sơi rượu đã chứ?” Anh nhìn khách chờ đợi.

Ông thầy gạt đi:

– “Cảm ơn anh, không cần đâu, lúc trưa ăn muộn, tôi chưa đói. Để xong việc rồi dùng bữa tốt hơn.”

Michael và Dân không nói thêm, làm đúng theo sự sắp đặt của ông thầy pháp, Michael nói xuôi:

– “Vậy cũng được.”

Chín giờ đêm, Dân mang tất cả những thứ cần thiết như nhang đèn, sấp giấy bản trắng, thêm nải chuối, vài cặp oản gói giấy bóng xanh đỏ, cùng Michael trở lại căn phòng của Lý. Lúc này, ông thầy pháp đang đi đi, lại lại, có ý chờ đợi. Thấy hai người tới, ông dừng bước, vui vẻ nói:

– “Ông Michael, yên tâm, không sao đâu.” Cụ cười nửa miệng, gật gù “Không ngờ ông nghĩ ra chuyện đó.”

Michael mừng rỡ khi thấy ông thầy đắc chí. Nhưng thấy Dân mặt trầm trầm suy nghĩ, chàng tới bên, khẽ vỗ vai, an ủi:

– “Dân, đừng lo.” Quay sang ông thầy, chàng hỏi: “Bao giờ khởi sự, thưa cụ?”

Ông thầy đang bầy đồ cúng lên khay gỗ, cắm nhang vào cái ly, trong có ít gạo để cây nhang đứng thẳng được. Nghe Michael hỏi, ngửng lên, đáp:

– “Ngay bây giờ.” Cụ lùi ra xa, ngắm Michael từ đầu tới chân, rồi tiếp: “Các ông ăn vận thế nào, sang bên kia cũng sẽ như thế.” Quay sang Dân, cụ tiếp: “Anh có dặn chị ấy tuyệt đối không được sang đây, không?”

– “Dạ, đã.”

– “Vậy là được.”

Michael nhìn ra ngoài cửa sổ, rồi ra hiệu cho Dân theo chàng ra đó: “Dân, tới lúc ấy, theo cây phi lao này xuống đường, đi lấy xe gấp, rồi đợi tôi ở sau nhà…chỗ lúc chiều anh em mình ra đó…”

Dân cũng nhìn ra ngoài quan sát, rồi gật đầu:

– “Dạ, ông yên lòng…tôi làm được.”

Michael không ra, chỉ đứng ngó theo.

Khi Dân quay vào, ông thầy gật đàu khen:

– “Ông tính vậy thực chu đáo…Anh Dân, ra đóng cửa lại đi.”

Trong khi Dân ra đóng cửa phòng, ông thầy đưa bàn cúng đặt bên đầu giường, đốt nhang và đèn cầy lên, ánh lửa chập chờn, khói bay nghi ngút, mùi hương thơm thoang thoảng khắp phòng. Cụ qùy một bên, hai tay nâng ba cây nhang trước trán, lâm râm khán vái. Cảnh tượng rất trang nghiêm.

Theo lời ông thầy, Michael và Dân lên nằm song song, ngay ngắn trên chiếc giường chật hẹp, nhưng không buông màn. Ông cụ kéo ghế, ngồi một bên. Một cái ly thứ hai được ông cụ để riêng, chỉ cắm một cây nhang, nhưng chưa đốt lên.

Đêm đã sâu, ông thầy mới lấy hai tờ giấy bản trắng phủ lên mặt hai người, giọng đều đều, nghe rất mơ hồ như vẳng tự nơi đâu đâu:

– “Bây giờ, hai ông cố để trí óc trống không, đừng suy nghĩ gì hết. Nhớ là hai người chỉ đi được một thời gian cháy hết cây nhang…thì phải về, dù lúc đó các ông đang ở đâu, làm việc gì…”

Michael và Dân làm theo lời ông thầy. Bên tai họ có tiếng đọc chú lâm râm…chen lẫn tiếng khánh nhỏ gõ đều đều…mùi hương ngây ngất, khiến tâm trí hai người lãng đãng, bâng khuâng.

Không biết tới bao lâu, Michael và Dân thiếp đi. Có tiếng gió thôi nhẹ bên tai…rồi âm thanh tựa sóng biển dạt dào, lúc mạnh như thác đổ, lúc êm nhẹ giống nước đang rút ra xa bãi cát. Bỗng nhiên có tiếng chân người từ đâu vang vọng lại…lớn dần…rầm rập…tiếng mở cửa tung ra như chạm vào vách tường, tiếng cài then lách cách…cùng với tiếng kêu cứu thất thanh…và rồi bóng trắng của Lý xuất hiện ở giữa phòng: “Cứu tôi với…Trời ơi, ai cứu tôi với!” Nàng chạy lồng lộn, luẩn quẩn trong phòng, tay đập vào cánh cửa tủ rầm rầm, như muốn xô nó ra mà không làm được. Bên ngoài có tiếng phá cửa gấp, tiếng chửi thề, tiếng gầm gừ của loài ác thú.

Dân phóng người qua cửa sổ. Michael cũng không chậm trễ, tiến mau lại gần cái tủ,. Lý thấy kẻ lạ, hoảng hốt lùi lại. Michael mở tủ, giật nhanh chỗ quần áo trên mắc, ném cho nàng, miệng khẽ la: “Mặc vào”. Vừa nói, chàng vừa lấy hết sức xô cái tủ sang một bên. Hành động này khiến Lý tin tưởng…nên mặc vội quàn áo vào. Michael nắm lấy tay Lý, lôi tuột vào trong hầm, rồi lập tức kéo cái tủ về chỗ cũ. Ngay lúc đó, có tiếng cánh cửa phòng bật tung, tên tỉnh ủy vào được trong, la hét dữ dội. Trong đường hầm tối mịt mùng, Michael cứ lôi Lý đi…càng xa càng mau càng tốt.

Như có linh tính gặp được quý nhân, Lý không nói gì, cứ chạy theo đà kéo của Michael. Dù chỉ qua đường hầm này một lần, Michael cũng không gặp khó khăn, đưa Lý ra khỏi tòa nhà để tới con hẻm hoang vắng ở phía sau. Lý mệt nhọc, thở dốc. Michael biết chắc tên kia không thể biết con hầm bí mật này để đuổi theo…có thể hắn nghĩ Lý nhảy qua cửa sổ xuống dưới con lộ đàng trước nhà. Vì thế, chàng yên tâm kéo Lý ngồi xuống bên đường nghỉ một lát.

Michael khẽ nói:

– “Mình ngồi nghỉ một chút đi.”

Thấy Michael nói tiếng Việt không mấy đúng giọng, vóc dáng cao lớn của một người ngoại quốc, Lý ngỡ ngàng, hỏi:

– “Sao ông biết mà tới cứu tôi? Lại rõ cả cái cửa hầm bí mật trong phòng tôi nữa?”

– “Ồ, tình cờ thôi” Michael biết lúc này không có thì giờ nói chi dài dòng, nhất là nàng khó có thể hiểu được chuyện tưởng như hoang đường của hai người.

Nàng thắc mắc:

– “Bây giờ ông đưa tôi đi đâu đây?”

-“Tôi biết có một nơi an toàn…cô cứ yên tâm…không sao nữa đâu.” Chàng cũng hơi lo nàng hỏi lôi thôi về mình. Nhưng không, Lý chỉ ngồi im. Chừng ít phút, Michael nghe hơi thở của nàng đã đều và nhẹ, chàng ghé một bên, dịu dàng nhắc:

– “Cô đỡ mệt rồi chứ? Mình đi thôi.”

Lý không nói gì, đứng vội lên. Michael nắm lấy bàn tay giá lạnh của Lý, dắt đi. Trời tối, hai người đi qua được một quãng con đường hẻm, hai bên cây cối rậm rạp, đã nghe thấy tiếng xe lam nổ…hai vệt đèn sáng trong đêm.

Michael mừng rỡ, kéo Lý đi mau tới bên xe đỡ nàng lên, nói nhanh với Dân: “Vọt lẹ!”

Lý sửng sốt khẽ la lên khi thấy Michael đưa mình vào một chiếc xe lam đậu đầu ngõ hẻm. Trong bóng đêm, nàng cũng không nhận ra ai ngồi bên tay lái.

– “Xe của mình…cô yên tâm. Anh Dân đưa chúng ta về…Đà Nẵng.”

Lý ngạc nhiên, hỏi:

– “Dân?”

– “Tôi đây.”

Nhận ra giọng Dân, Lý ngập ngừng, lời pha lẫn nước mắt:

– “Tên đó vô cùng dã man…Nó đánh ba tôi…lại muốn hại cả đời tôi nữa. Ông có thể cứu luôn ba má tôi

không?”

Tội nghiệp. Lúc khốn đốn mà nàng có nghĩ đến sự an nguy của cha me. Nhưng thì giờ có hạn, vả lại chuyện này không hề được xếp đặt với ông thầy nên Michael nghĩ không thể làm được, đành nói để nàng yên lòng:

– “Cô đừng lo…đã có anh Dân”.

Tuy lời nói của Michael mập mờ, nhưng vì có Dân

đi theo, nên Lý tin tương lời chàng, lẳng lặng ngồi thu mình trong vòng tay mở rộng của chàng. Xe lao đi thực mau. Hai ánh đèn pha quét dài trên đường trải đá gập ghênh. Dầu vậy. Michael vẫn thấy Dân lái xe chậm quá, vì bọn chàng đang phải chạy đua với thời gian. Trong lòng Michael đã bắt đầu bồn chồn, lo lắng mình

 

không đưa Lý về kịp thành phố. Lý chắc vì quá mệt sau cơn sóng gió vừa qua nên thiếp đi.

May thay, Đà Nẵng đã ở trước mặt. Ánh đèn điện rực sáng một góc trời. Đường đã dễ đi hơn, Dân đạp lút ga, tăng tốc độ xe, lao nhanh về trước. Đường vào thành phố, hai bên nhà cửa im lìm. Tiếng nổ của máy xe dội lại ù tai. Michael mừng rỡ khi tới được khúc quanh con đường đi ngang qua nhà thờ chính tòa.

Lý vùng dậy, hỏi:

– “Đây là đâu vậy?”

– “Về tới Đà Nẵng rồi.”

Thời gian làm lòng Micheal hồi hộp quá.

Bỗng trong âm thanh ù ù của máy xe, bên tai Michael nghe rõ tiếng thì thầm của ông thầy pháp: “Đã đến giờ phải về rồi…”. Tiếng đó đều đều nhắc đi nhắc lại khiến Michael cuống cuồng lên, nhô người về phía trước:

– “Gắng tới gần nhà dòng Saint Paul chút nữa đi…”

Tháp chuông xừng xững đã hiện ra trước mặt. Ánh đèn điện soi rõ cái cổng quét mầu vàng.

Michael nói mau:

– “Dân, ngừng xe.”

Xe thắng vội bên lề đường làm người Lý chúi hẳn vào lòng Michael. Chàng đỡ Lý xuống đất, ôn tồn nói:

– “Cô Lý…đã đến lúc chúng tôi phải về rồi…”

Chàng không nỡ rời nàng trong đêm vắng, nhưng biết làm sao hơn. Chợt chàng nhớ tới tấm ảnh chàng chụp hồi còn ở Việt Nam, đang nằm trong ví. Chàng lật đật lấy ra, nhét vội nó vào tay Lý, nói:

– “Bên kia là nhà dòng Saint Paul, cô biết chứ. Đưa hình này cho sơ Marie, nói người trong hình xin sơ cho Lý ở lại trong nhà dòng. Nhớ là đừng về nhà nữa…cho tới khi anh Dân tới đây tìm cô…nhé.” Michael đẩy nàng về phía trước…

Lý vừa quay nhìn sang bên kia đường, đúng lúc Michael bỗng cảm thấy mình như chơi vơi, bay bổng. Bên tai chàng thoáng nghe tiếng gọi thảng thốt của Lý: “Ông…”. Rồi gió lộng và lạnh lẽo vô cùng bao phủ quanh mình. Không gian thực tối tăm, mịt mùng. Rồi không lâu, có ánh sáng mờ mờ trước mặt…toàn thân Michael cảm thấy ấm áp dần dần…và cuối cùng, chàng tỉnh dậy…thấy mình nằm trên giường.

Chàng ngồi dậy nhìn ông thầy pháp chờ lời giải thích.

Lúc đó, ông thầy đang cầm ba thẻ hương cháy đỏ khua động chung quanh nơi Michael và Dân nằm. Cây nhang tính thời gian vừa cháy đến chân tre màu đỏ.

Thấy hai người tỉnh lại, ông thầy mừng rỡ, la lên:

– “Thành công rồi…”

Michael bàng hoàng ngồi nhỏm dậy. Thực không thể tưởng tưởng được. Chàng có cảm giác như vừa qua một giấc mơ…một giấc mơ vô cùng kỳ dị! Để kiểm chứng lại những gì đã sẩy ra, ba người đến bên tủ áo. Michael run run mở cái tủ, sửng sốt khi thấy quả nhiên trên mắc thiếu bộ quần áo chàng ném cho Lý. Xem đến tấm hình đã đưa cho nàng, nó không còn trong ngăn ví nữa. Michael mới tin sự việc quả đã sẩy ra…

– “Pháp thuật của thầy thực cao thâm…chúng tôi xin bái phục.” Michael vái ông thầy một vái thực dài.

Ông cụ cười, lắc đầu:

– “Đó là nhờ trí thông minh của ông chỉ vẽ cho tôi đấy thôi…”

– “Bên Mỹ người ta gọi một việc như thế là trở về quá khứ. Họ đã thực hiện nhiều cuốn phim hát bóng giả tưởng loại này, nhưng thực tế, chưa ai làm nổi. Cụ là nhất đấy!”

Dân buột miệng: “Cái cửa phòng.”

Nghe Dân nhắc, ông thầy và Michael quay nhìn ra, quả nhiên cánh cửa đã bị tên tỉnh ủy mở tung khiến mọi người ngẩn ngơ.

Michael kể lại sự việc cho ông thầy nghe, ông cụ gật gù, nói:

– “Tôi đã phòng xa, gọi các ông về sớm một chút…nên cũng may không có gì trở ngại.”

Sau đó, bữa cơm tối được dọn ra để đãi ông thầy. Ba người trò truyện đến gần sáng mới chia tay đi nghỉ.

Sáng hôm sau, Michael tạ ơn ông thầy hai trăm đô la và tiễn ông cụ tới tận đầu phố, mới chia tay.

Ông thầy cũng rất thỏa mãn, cám ơn mãi.

Trở lại nhà Dân, Michael chợt lóe một ý tưởng kỳ dị…và quan trọng. Tuy nhiên, chàng không thổ lộ gì với vợ chồng anh ta. Sau bữa cơm trưa, Michael thư thả nói với họ:

– “Cảm ơn anh chị mấy bữa nay. Mọi chuyện ở đây coi như đã xong. Bây giờ chào anh chị, tôi về Đà Nẵng.”

Vợ chồng Dân cũng không dám giữ chàng ở lại thêm.

Xế trưa, Michael thử rời nhà Dân bằng con đường hầm sau tủ áo phòng Lý để ra chỗ đậu xe, rồi lái về Đà Nẵng. Dù đêm qua đi lần mò trong đêm tối, lúc này chàng cũng nhận thấy hình như cảnh sắc có phần nào khác khi ấy, nhất là lúc xe tới con phố vào thành, sự khác biệt càng thấy rõ…Bây giờ nhà cửa hai bên lấn chiếm ra lề đường khiến đường chạy xe hẹp hẳn lại, không rộng thênh thang như hồi đêm. Michael bùi ngùi nhớ lại cảnh tượng lúc chàng bỏ nàng giữa đường, trong đêm vắng vẻ. Thực tội nghiệp. Hai mươi năm qua, không một lời hứa hẹn của nàng, nhưng chàng chưa hề lập gia đình. Biết đâu đây là số mệnh, nhờ phép mầu mà ngày hôm nay chàng sẽ may mắn gặp lại người xưa.

Khu nhà dòng Saint Paul không mấy thay đổi, duy ngọn tháp chuông bị hư hại một chút mái vì bom đạn thời chiến tranh, chưa được sửa chữa. Giàn bông giấy mầu tím nhạt vẫn nở rộ hoa như xưa, che lấp một bên cổng tu viện. Nghe tiến chuông gọi cửa, một bà dòng già nua ra đón khách. Sau khi Michael tự giới thiệu là anh lính Mỹ dạy Anh Văn ngày xưa, mới sang Việt nam, xin vào thăm nhà dòng, chàng được tiếp đón rất niềm nở.

Cả năm dì phước còn lại trong khu tu viện rộng lớn này đều ra tiếp Michael để nghe chàng kể chuyện nước ngoài. Các bà cứ nhìn bộ râu mầu nâu đậm của chàng tỉm tỉm cười với nhau, vì nó đã làm cho Michael ngày nay khác hẳn hình ảnh trẻ trung của chàng  trước kia, và hết bà này tới bà kia thay nhau khen ngợi giọng nói tiếng Việt khá lưu loát của chàng. Riêng dì Marie gìa đi nhiều. Miệng bà móm mém trông tội nghiệp. Michael để trong phong bì, biếu nhà dòng một ngàn đô la, khiến mọi người đều cảm động.

Sau chuyện hàn huyên, Michael xin phép gặp riêng dì Marie. Khi chỉ còn hai người, Michael nhắc lại chuyện người con gái tên Lý mà đêm…nào tìm tới đây xin cứu giúp. Phải, đêm nào đó…xa xưa đối với dì…và Lý, nhưng chỉ là…mới sẩy ra đêm qua đối với Michael!

Dì Marie gật đầu khiến Michael bàng hoàng, nhất là khi dì thân mật khể lể:

– “Gần hai mươi năm rồi…cô ấy sống ở đây, có giưa ăn giưa, có muối ăn muối…thực là tội nghiệp.” Dì lắc đầu, tim Michael đập mạnh và mau, như muốn phá lồng ngực, trong khi dì Marie vô tình, kể lể: “Đêm đó cô ấy đưa tấm ảnh của Michael ra, sơ biết là ‘ông giáo sư’ nhờ cậy…vả lại người ta đang gặp hoạn nạn…nên sơ rất vui lòng để Lý ở lại.”

Sự vui mừng làm Michael luống cuống, chàng lắp bắp:

– “Bây giờ…con có thể gặp Lý được không?” Chàng lo lắng nhìn dì Marie…

– “Được chứ”, Michael ù tai…vì câu trả lời của dì . Dì mỉm cười, đứng dậy nói: “Ngồi chơi chờ sơ tìm cô ấy ra. Chắc là Lý đang bận với mớ quần áo may gấp cho mấy người trên phố…”

Michael ngẩn ngơ nhìn dì Marie đi vào trong. Thực sự đã sẩy ra như thế ư? Chàng hồi hộp chờ đợi giây phút giáp mặt với ‘người trong mộng” thực sự là người trong mộng!

Lòng Michael vô cùng bồn chồn…

Không lâu, dì Marie đi ra với một phụ nữ nhỏ nhắn, phục sức đen tuyền, nhã nhặn. Michael sững sờ nhìn nàng. Những nét thân thương còn nguyên vẹn trên khuôn mặt nhu hiền của nàng. Ba mươi mấy tuổi rồi còn gì…trẻ trung được như vậy là may lắm!

Gặp Michael, Lý cũng kinh ngạc đến không thốt nên lời. Những việc sẩy ra trong hoàn cảnh càng khích động, người ta càng nhớ rõ và lâu bền. Vì thế, hình ảnh vị ân nhân đêm xưa như đã khắc sâu trong tâm trí của Lý. Người ấy đang đứng trước mặt nàng đây. Rồi khi được cho biết ông Mỹ này nhận là Michael…Lý trở nên vô cùng bối rối. Nàng cau mày, đưa tay chỉ chàng rồi lại vội buông xuống, miệng ấp úng:

– “Là Michael đây?” Nàng lắc đầu, quay mặt đi, thều

thào than: “Chúa ơi, làm sao tôi hiểu nổi…!”

Dì Marie hơi cau mày khi nghe Lý than.

Michael biết có nói ra câu chuyện kỳ diệu của chàng với nàng lúc này, chắc chẳng ai tin nổi. Chàng đang băn khoăn không biết làm thế nào để Lý yên tâm đã nhận không lầm người, Michael bỗng nhớ tới tấm ảnh đêm trước chàng đã đưa cho nàng:

– “Lý, còn giữ tấm hình tôi đưa đêm hôm đó không?” Quả thực, chuyện này chỉ có hai người biết.

Lý trố mắt nhìn chàng, gật đầu: “Ảnh của…?”

– “Của tôi…của Michael đó.”

Tay Lý run run mở ví, lấy tấm ảnh ngày trước đưa ra cho Michael làm chàng vừa mừng, vừa cảm động…Nàng đã giữ nó bên người, như một báu vật. Dì Marie ghé mắt xem tấm ảnh, rồi gật đầu, nói chen vào:

– “Đúng tấm ảnh hôm Lý tới đây đưa cho sơ…nhận ra ‘ông giáo sư’ nên sơ mới cho Lý ở lại đây” Quay sang Lý, bà cười lớn: “Michael đây chứ ai…mà chị không nhận ra à? Bộ chị tưởng Michael phải là một thanh niên hăm mốt, hăm hai như cách đây gần hai mươi năm sao?” Dì không hiểu chuyện giữa hai người…nên trách thế.

Trong lúc đó, Michael cũng lấy tấm hình của Lý mà chàng đã gỡ từ cánh cửa tủ áo ra, đưa cho nàng xem, rồi nói:

– “Tấm ảnh này…tôi lấy từ cánh tủ áo của Lý…Lý còn nhớ ra nó không?”

– “Nhớ chứ…”Nàng dịu dàng nhìn chàng: “Lý chụp vào cái thời…đó mà.”

Dì Marie bỏ đi lúc nào, chỉ còn lại hai người, Michael mới chậm rải:

– “Lý đừng thắc mắc về chuyện đêm hôm xưa…Lý được cứu vào đây…nữa, nói ra dài dòng lắm…không có thì giờ. Để thủng thẳng tôi sẽ giải thích cho Lý hiểu sau…nhất là tôi muốn Lý đi gặp một người…”

Lý ngắt lời:

– “Ai?”

– “Anh Dân.”

Lý gật đầu chấp nhận lời nói của ‘ân nhân’, dù nàng vẫn còn đôi chút hoang mang. Vì thế, nàng run run để cho Michael nắm nhẹ tay mình, bên tai nghe lời chàng thoảng qua:

– “Lý tin lời tôi chứ?”

Mắt nàng sáng lên:

– “Từ trước tới nay…anh nói gì…Lý chả tin!”

Nói xong, nàng bẽn lẽ quay đi tránh ánh mắt chàng.

Michael gật đầu vừa ý, nhìn vào trong, rồi nói:

– “Vậy là được…mình xin phép các dì ra phố chơi một chút, được không? Tôi nhớ bát cơm chiên với trứng ngày xưa…vô cùng. Phải, nhớ vô cùng.”

– “Anh lại diễu Lý rồi…”

Nói thế, nhưng lòng nàng rộn lên niềm hạnh phúc ngọt ngào. Tuy vẫn còn ngẩn ngơ vì sự xuất hiện đột ngột của Michael, người nàng đã cứu…và cũng đã cứu mạng nàng, người mà nàng biết rất yêu thương nàng…nhưng nàng đã phải làm ngơ mối tình chân thật đó vì quan niệm hẹp hòi của gia đình trước đây. Bây giờ, nghe chàng nhắc tới những kỷ niệm ngày xưa khiến nàng thêm tin tưởng, nên mỉm cười thích thú.

Vừa lúc đó, dì Marie từ trong đi ra, nói:

– “Michael có thì giờ đưa Lý ra phố chơi không?”

Bà nhìn hai người với ánh mắt chứa chan cảm tình, tiếp: “Không ngờ có ngày gặp lại nhau, phải không? Hãy cảm ơn Chúa!”

Michael nói xa xôi cho dì yên lòng:

– “Dạ, thực không ngờ… Suốt mười mấy năm qua…con vẫn sống độc thân đó…sơ thấy có tội nghiệp con không cơ chứ?”

Michael vừa nói, vừa liếc xéo Liên.

Dì lắc đầu, cười, đáp lại cho vui câu chuyện:

– “Thế mà ông giáo sư còn than…chẳng bù trong thời gian đó, chúng tôi bị giam hãm, coi cút, nghèo khổ ở trong này…”

– “Thực khổ cho các dì. Chúng con cũng cảm ơn nhà dòng đã cứu giúp Lý…nuôi Lý trong những ngày khó khăn đó” Chàng cười, nhìn Lý: “Bây giờ xin phép nhà dòng cho con đưa Lý ra phố…Chiều, chúng con sẽ về.”

 

– “Được, anh chị đi đi…không cũng muộn rồi.”

Lý xin phép vào trong thay áo. Còn lại một mình với Michael, dì Marie gật đầu, khen:

– “Michael tinh mắt đấy…Lý được lắm…ngoan ngoãn, chịu khó…và lương thiện như một nữ tu.”

– “Cảm ơn sơ đã giúp đỡ Lý bấy lâu” Michael nhìn sơ, nói xa xôi: “Sơ cho phép Lý ở đây thêm một thời gian nữa…để con lo giấy tờ bảo lãnh cho cô ấy…”

Dì Marie hiểu ý, gật đầu:

-“Được, không trở ngại gì hết.”

– “Không lâu đâu dì…nhưng cũng còn tùy ở Lý nữa.”

Lúc đó, Lý bẽn lẽn với chiếc áo dài mầu xanh nhạt vừa từ trong đi ra khiến cả hai quay lại nhìn nàng trìu mến.

Michael tiến đến bên, thân mật nắm lấy tay nàng, mỉm cười:

– “Mình đi được rồi chứ, cô giáo?”

Lý giật mình, cảm động về từ ‘cô giáo’ mà ngày xưa Michael thường dùng gọi nàng để tỏ sự thân thương. Nhưng, khi nghe Michael gọi nàng như thế, dì Marie ngạc nhiên, tròn đôi mắt nhìn theo…cho tới khi hai người khuất sau giàn bông giấy ngoài cổng tu viện.

Trích trong tác phẩm Nhan Sắc Mấy Độ

 

Y SAO : Rập khuôn con người

HỒ LINH

                             Y  SAO

             

             “Rập khuôn một con NGƯỜI giống hệt như TA, chỉ khác … “

      Andrew Lee tỉnh lại ngay khi người ta tìm được cậu trong một vũng nước cạn. Nhờ nịt chặt người trên ghế ngồi, và không bị rớt xuống mặt đất cứng nên Andrew thoát chết, nhưng thương tích cũng khá trầm trọng. Andrew là một trong số mười hai hành khách may mắn sống sót trên chuyến phi cơ Boeing 747  lâm nạn với 348 hành khách tử thương, bao gồm cả cha mẹ và chị của Andrew.

Khi ông Holly, luật sư của gia đình, vào thăm Andrew với cái tin chẳng lành về những người thân của cậu, Andrew vô cùng đau đớn, buồn bã. Hiện tại, tình hình sức khỏe của Andrew còn đang trong vòng chờ đợi các kết quả chụp quang tuyến X và thử nghiệm, nhất là bộ óc, có dấu hiệu bị chấn thương. Tuy mới mười lăm tuổi, nhưng Andrew là đứa trẻ thông minh từ nhỏ nên cậu đã tốt nghiệp trung học và sửa soạn vào trường MIT học ngành điện toán. Vả lại, cha của Andrew cũng là một thiên tài về máy vi tính, hãng của ông ta dù mới hoạt động chưa tới mười lăm năm mà sản nghiệp đã lên tới hàng tỷ đô la.

Bộ “nhớ” của máy vi tính do công ty Lee and Son LTD sản xuất đã ứng dụng nguyên tử hydrogen thay thế cho chất dẻo silicon. Vị trí thẳng đứng và đảo ngược lại ứng cho hai số 0 và 1 trong hệ thống binary, thí dụ trong bộ óc điều hành trung ương CPU của máy vi tính. Do  tính đàn hồi lớn, tránh được nhiều ma sát khi chuyển vận, lại năng động với dòng điện thấp nên các phần cương liệu của máy không cần bộ phận giải nhiệt nên rất bền, khả tín lại vừa túi tiền của mọi khách hàng, dễ dàng đè bẹp những bộ nhớ của các hãng “cổ điển” trên thị trường điện toán, kể cả Intel. Nếu tính cả tiền bồi thường cho gia đình Andrew và sản nghiệp sẵn có, Andrew sẽ là một người trẻ tuổi có gia tài lớn nhất thế giới. Nhưng, hừ, có ích gì…khi mạng sống cậu ta còn đang trong tình trạng rất mong manh. Vết thương trên đầu có triệu chứng rỉ máu trong não. Nếu máu không ngưng, tiếp tục tăng thể tích, ép lên một phần não, thì phải giải phẫu để hàn mạch máu bị đứt và lấy phần máu bầm ra, tình trạng sẽ rất nguy kịch.  Trong lúc này, Anhdrew còn có thể nghĩ tới tòa nhà đồ sộ của gia đình trên núi Hamilton, tới cái cơ sở to lớn của hãng Lee and Son LTD, nên lòng thực chán nản. Tiền rừng, bạc bể nhiều khi cũng không đổi được mạng sống…Trường hợp Andrew chết đi…sản nghiệp này sẽ rơi vào tay những người họ hàng gần nhất của gia đình Lee là mấy thằng anh em họ bất tài, lười biếng của cậu ta. Ồ, không thể thế được!

Buổi chiều trong bệnh viện thực vắng vẻ. Bác sĩ ca cuối cùng cũng đã tới thăm. Ánh sáng trong phòng giữ mức tối thiểu để bệnh nhân dễ chịu hơn. Vài tia nắng chiều cuối cùng len lén qua màn cửa, kéo một vệt dài trên bức tường mầu xanh nhạt như một chứng tích của cái sinh khí còn rơi rớt lại của một ngày sắp tất. Thực ảm đạm.

Bỗng một ý nghĩ kỳ dị tựa làn chớp lóe lên trong óc, Andrew như muốn ngồi nhỏm dậy, nhưng đầu băng kín, cổ kiềng ngay đơ, tứ chi bó bột, khiến toàn thân Andrew trở nên cứng ngắc như cây gỗ, không thể cử động. Andrew muốn ông Holly ghé sát bên cậu ta để trò truyện cho kín đáo.

Ông luật sư khẽ gật đầu, đang định đứng lên thì Andrew gọi giật lại:

– Ấy, khoan đã. Còn ông, liên lạc ngay  với W.B.C.R

lấy một cái hẹn càng sớm càng tốt. Sau đó, mời ông vào đây liền, vì tôi có chuyện quan trọng muốn thảo luận.

Luật sư Holly hơi ngẩn ra…vì chưa biết W.B.C.R là gì, ở đâu thì Andew đã tiếp:

– Số bên đó là WBCRRRR. Bây giờ ông về nghỉ đi, mai ta nói chuyện

– Vâng.

Ông Holly là một luật sư không xuất sắc, nhưng trung hậu và có thể tin tưởng được. Vì thế, ông đã làm cố vấn pháp luật cho công ty từ ngày lập hãng tới này, nên ông coi quyền lợi của thân chủ như chính quyền lợi của ông vậy. Andrew nhớ cha cậu đã từng nhắc nhở: “Có chuyện gì khó khăn, cứ giao phó cho ông Holly là có thể yên tâm.”

Thế nhưng lần này, sau khi ông luật sư ra về, Andrew điên lên vì những quyết định đang dấy lên trong đầu.  “Đó là phương pháp duy nhất…có thể cứu vãn được tình thế…nếu chẳng may…ta không qua được nạn này, và cái sản nghiệp kia cũng sẽ không bị rơi vào tay mấy tên họ hàng khốn nạn kia”. Thật là bất công khi cả cuộc đời của cha mẹ Andrew làm ăn vất vả, rồi cả bốn mạng sống tiêu tùng để nhận thêm một số tiền bồi thường to lớn, mà lại để cho những tên hèn hạ, bất tài, không chịu làm việc…hưởng thụ. Chúng vừa được của, lại vừa cười vui trên nỗi bất hạnh của gia đình nhà Lee.

Cuối cùng, Andrew dặn ông:

– Ông về, làm ơn bảo Steve vào gặp tôi ngay nhé.

Steve là một thanh niên ngoài ba mươi, dẫn đầu toán kỹ sư nghiên cứu nòng cốt của hãng. Tuy ít tuổi, nhưng Steve là một chuyên viên tài giỏi về computer, lại rất lanh lợi, nên được cha của Andrew quý mến và trọng dụng.

Bên ngoài trời tối lúc nào không hay. Andrew vận dụng hết sự sáng suốt còn sót lại lúc này để sắp đặt cho công việc của mình. Tiếng bíp bíp phát ra từ mấy cái dụng cụ trợ y như một thôi thúc khiến Andrew có lúc sợ hãi vì không biết thời gian có còn đủ để cậu thi hành kế hoạch. Nhất là nhiều khi Andrew nghe thấy như có cái gì rục rịch trong óc…Một mạch máu não vừa đứt thêm…hay những tia máu cũ…đang lan dần…đè bẹp não bộ…để đến một giây phút nào đó…cậu sẽ rơi vào hôn mê…rồi đi luôn? Mổ óc? Có nên không? Chưa ai giải thích tình trạng sức khỏe của Andrew cho cậu ta nghe, nhưng với trí thông minh, với vết thương trên đầu, Andrew thừa biết những gì xấu nhất…có thể xẩy ra cho mình. Vì thế, thời gian…là một vấn đề rất quan trọng lúc này.

Sao lâu quá vậy kìa. Steve đâu??? Andrew nóng lòng chờ đợi tiếng chân của anh ta…vì cậu không thể quay mặt nhìn ra cửa được.

Andrew nhớ lại những cuộc nghiên cứu gần đây nhất của hãng nhà. Mặc dầu cậu không được tham gia, nhưng mọi chi tiết đều được cha cậu mang ra để hai người thảo luận…vì ông ta nghĩ…Andrew cần phải được huấn luyện và thông suốt mọi hoạt động quan trọng trong hãng. Tuổi của Andrew cũng là một vấn đề, nhưng người cha biết khả năng của đứa con trai của mình và tin là cậu ta có thể hấp thụ được những gì ông ta trình bày.

Cuối cùng, Steve cũng vào tới nơi. Andrew mừng rỡ, nói như reo lên:

– Steve tới rồi…anh mang ghế lại ngồi gần đây.

Steve ăn vận xuềnh xoàng như một người technician, quần jean bạc, áo sơ mi mùa hè bỏ ngoài quần.

Anh ngồi xuống bên Anrew,  kéo  chăn  đắp  lại  cho

“ông chủ nhỏ”, vui vẻ hỏi:

– Andrew, cậu trông khá rồi…sáng nay tôi ngồi cả buổi…nhưng cậu cũng chưa tỉnh. Nghe ông Holly bảo cậu gọi…tôi mừng quá.  Nhưng nhiều việc phải làm nên bây giờ mới tới được.

Tuy Andrew không có thể tỏ ra một dấu hiệu nào vì hai tay bó bột, cổ bị giữ ngay, nhưng giọng cậu khiến Steve hiểu được câu chuyện rất quan trọng:

– Steve…đừng nhắc tới cái bệnh tình của tôi bây giờ…Anh nghe rõ đây…chương trình bộ nhớ vi sinh STM của hãng tới giai đoạn cuối chưa?

Steve ngạc nhiên, khẽ nói:

– Sao? Andrew cũng biết chương trình STM à? Có thể nói…đã tới gian đoạn ứng dụng…rồi. Nhưng tiếc rằng gia đình ông chủ gặp nạn…không biết nay mai sẽ tiến hành như thế nào…vì…

Andrew hỏi ngay:

– Vì sao?

– Dự án còn tốn kém nhiều triệu nữa để thực hiện những cái test. …Sản phẩm này…chưa biết ứng dụng trong phạm vi nào…vì vậy thị trường sẽ là một vấn đề gai góc.

Andrew gạt ngang:

– Steve, bỏ luôn cái thị trường của anh đi. Nghe đây…bằng bất cứ giá nào, anh phải sửa soạn gấp để đưa một bộ nhớ vi sinh STM đó vào…não của tôi…càng sớm, càng tốt.

Steve lắp bắp:

– “Andrew, chúng ta chưa qua giai đoạn test để chắc chắn nó có hoạt động đúng mức tiên liệu không.”

Steve lắc đầu, tiếp:

– Chẳng lẽ…cái test đầu tiên lại làm ngay trong óc của …cậu…Andrew ơi sao lại phải như vậy chứ?

Steve thở dài, cố gắng lung lạc ý định của “ông chủ nhỏ”:

– Thôi được, trước khi thực hành việc cậu muốn, tôi xin trình bầy sơ qua cho Andrew hiểu về chương trình vi sinh STM tức Super Tiny Memory. Vì đã dùng được nguyên tử hydrogene trong các CPU của máy vi tính, ông chủ ra lệnh nghiên cứu luôn việc thực hiện máy vi sinh SMT với một số khả năng đặc biệt, có thể tự hoạt động trong một môi trường sinh học với một dòng nhân điện rất yếu. Nhờ phương pháp y khoa tiến bộ hiện nay, ta sẽ đưa máy vi tính này vào vị trí “G” trong não bộ con người. Bằng sự kích thích tâm linh, tất cả ký ức của người này được khơi dậy…và từ từ được “save” vào máy vi sinh STM. Sau đó nó sẽ được lấy ra khỏi não bộ…và…

Steve yên lặng một chút, tiếp:

– Hai vấn đề gai góc hiện nay là…làm thế nào để có thể thuê các người chịu để mình làm test…một cách hợp pháp, hai là rồi khi đã hoàn thành…thì sản phẩm này…không có thị trường. Cậu biết đó, chúng ta là một cơ sở thương mại…chứ không phải là một viện nghiên cứu khoa học có nguồn tài trợ. Bây giờ..tại sao cậu lại nghĩ đến nó chứ?

Steve nhìn Andrew như chờ đợi…một câu trả lời.

Andrew không cần suy nghĩ , nói ngay:

– Steve…không phải là chúng ta không có thị trường mà vì sản phẩm của ta hoàn thành quá sớm khi nhu cầu còn đang trong vòng thử nghiệm. Một ngày kia, lúc cung- cầu gặp nhau, chúng ta sẽ thu vào tiền triệu…

Steve kinh ngạc, nói qua hơi thở:

– Andrew, cậu nói tới một thị trường tương lai…nào đó?

Andrew khẽ cười:

– Thị trường “cloning”.

Steve thực sự không ngờ Andrew biết điều đó.

Nhưng Andrew tiết lộ:

– Tất cả, cha con chúng tôi đã bàn thảo…

Khoa sinh học từ rất lâu đã cho biết mọi sinh vật đều được cấu tạo bởi những phần tử rất nhỏ gọi là cell tức tế bào. Ngoài phần màng, tế bào có hai phần quan trọng là  sinh chất và một cái nhân ở giữa. Nhân có một màng hữu cơ chung quanh, ở trong chứa một ít protein và một chất đặc biệt DNA là vật liệu cấu thành các nhiễm sắc thể. Các nhiễm sắc thể hình que, đi thành cặp song song. Dọc theo những dây nhiễm sắc thể này có nhiều điển rất đặc biệt gọi là gene có chức năng quyết định một hay nhiều đặc điểm của cơ thể. Mỗi giống có số cặp nhiễm sác thể khác nhau, tế bào con người có 23 cặp. Các tế bào phát triển bằng cách tự cắt…một sinh hai, hai sinh bốn…vân vân. Quá trình chia cắt như sau: Mỗi nhiễm sắc thể chẻ dọc thành hai sợi giống nhau, biến  23 cặp thành hai bộ( cũng có 23 cặp) giống nhau. Trong khi đó, màng của nhân tan biến, mỗi bộ nhiễm sắc, dời đến một chỗ cuối tế bào đối nhau. Sau đó, tế bào thắt lại theo đường xích đạo cho đến khi nó chia làm hai tế bào mới và tách rời nhau. Tiếp đó là quá trình tương dị hóa tức differentiation, các tế bào phân cắt tạo những hình dạng khác nhau, sắp xếp theo những hình thức đặc biệt để tạo thành những cơ quan của sinh vật như tim, gan, phổi, não bộ v.v. để cấu tạo nên một sinh vật mới. Tất cả tiến trình tạo lập này đều do các gene điều khiển. Tuy nhiên, một sinh vật được tạo thành, khởi đầu bằng một tế bào đặc biệt,  độc nhất, hay nói khác đi nó là một cá nhân, vì có đầy đủ mọi cái để có thể phát triển thành một cá nhân với những đặc điểm về mầu da, mầu tóc, mầu mắt, tính tình, năng khiếu, và nó được gọi là zygote. Zygote được tạo thành do hai tế bào có cách phân cắt đặc biệt. Thay vì các nhiễm sắc thể chẻ đôi, ở đây trong tế bào tiên khởi, 23 cặp chia làm hai, mỗi phần chỉ có 23 nhiễm sắc thể “độc thân” và trôi về hai phía cuối đối diện của tế bào và chịu tiến trình phân cắt tại thành những tế bào đặc biệt gọi là gamete. Loại gamete do tế bào tiên khởi chia cắt thành một nhỏ không phát triển, tế bào kia phát triển phần phụ thuộc thành một trứng của sinh vật mẹ. Loại gamete phân cắt từ tế bào tiên khởi thành 2 tế bào bằng nhau, đó là hai sinh tử của sinh vật cha. Khi hai gamete, một thuộc cha, một thuộc mẹ (tinh tử và trứng) kết hợp để cho một tế bào  với 23 nhiễm sắc thể của tinh tử hợp với 23 nhiễm sắc thể của trứng cho ta một zygote với 23 cặp nhiễm sắc thể, tức 46 chiếc. Các tế bào này phân cắt, phát triển để cho một phôi thai (embryo). Trong số 23 cặp nhiễm sắc thể của tế bào tiên khởi bên mẹ hay bên cha, có 22 cặp có hệ thống DNA và gene như nhau, còn cặp thứ 23 của hai bên khác nhau. Bên mẹ, hai nhiễm sắc thể đó giống nhau và thuộc loại gọi là X; bên cha, cặp này lại khác nhau, một thuộc loại X (giống bên mẹ), một loại khác, gọi là loại Y. Vì thế ở giai đoạn phân cắt thành hai gamete đầu tiên, hai tế bào trứng của mẹ giống nhau, tức 22 nhiễm sắc thể “độc thân” thường và một nhiễm sắc thể X. Bên cha, khi sản xuất gamete (tức tinh trùng) từ tế bào tiên khởi sẽ cho một gamete có 22 nhiễm sắc thể “độc thân” thường và một nhiễm sắc thể X hay một nhiễm sắc thể Y. Nếu tinh trùng có loại X kết hợp với trứng để cho một zygote có đôi nhiễm sắc thế thứ 23 là XX thì phôi thai là gái; nếu tinh trùng có loại Y, khi kết hợp với trứng (có X), ta sẽ được một tế bào zygote có cặp nhiễm sắc thể thứ 23 mang hai loại XY, phôi thai là trai. Trong tiến trình kết hợp giữa trứng và tinh trùng trên, nơi dạ con của người mẹ, nếu hai tinh trùng của người cha cùng một lúc xâm nhập vào một cái trứng và cái trứng đó thụ thai sẽ phát triển thành hai phôi thai, và cho ta hai con người giống hệt nhau. Hai trẻ sinh đôi sẽ trước sau lần lượt được sinh ra.

Phương pháp “cloning” mà ta tạm gọi là “y sao”, tức tạo dựng một sinh vật giống hệt sinh vật trước, nhưng lại ở hai thời điểm khác nhau, xa hay gần tùy ý. Phát minh khoa sinh học này trước đây đã bị các chính phủ nhân danh luân lý và đạo đức, ngăn cấm dùng công quỹ để hổ trợ cho các khoa học gia sinh học theo đuổi tiếp công trình nghiên cứu, thí nghiệm để đẩy tới khả năng cloning được con người, nhất là sau thời gian một vài nơi như ở thành phố Edinburgh ở xứ Escosse do bác sĩ Ian Wilmut thực nghiêm và trình làng con cừu cloning tên Dolly được tám tháng hay những cuộc thí nghiệm cùng mục đích ở thành phố Seatle của Mỹ, cloning bò ở Melbourn thuộc Úc Đại Lợi… Ngày 12-3-97, Nghị Viện Âu Châu ở thành phố Strasbourg, với đại biểu của 40 quốc gia hội viên đã thông qua một nghị quyết cấm việc cấy nhân tế bào tức cloning, để sản xuất những người giống hệt nhau. Họ cũng lên tiếng kêu gọi công đồng thế giới nghiêm cấm những cuộc thí nghiệm cấy người như vậy. Tòa thánh La Mã và tất cả các tôn giáo lớn trên thế giới như Hồi Giáo, Tin Lành, Do Thái Giáo… đều minh thị tuyên bố kết án việc thực hiện phương pháp cloning để tạo ra con người. Ngay như việc thụ thai trong ống nghiệm là phương pháp mà sự vô luân không trầm trọng bằng cloning, thực tế cho thấy đã tạo ra những đức trẻ cơ thể chậm phát triển,  đầu óc lệch lạc, khó khăn hội nhập, có các vấn đề tâm lý như khó học, gặp những vấn đề về nhân cách, không có ý niệm thế nào là một gia đình tốt đẹp với những thắc mắc ai là cha mẹ thực sự của chúng. Nhưng, trong thực tế, có những tổ chức tư nhân giầu có, đặc biệt là bọn làm ăn ngoài vòng pháp luật, các tay trùm bạch phiến chẳng hạn, lén lút tài trợ cho những nhóm khoa học gia vốn say mê nghiên cứu và khám phá, không lý tới hậu quả của việc mình làm, lập nên những phòng thí nghiệm tối tân, với điều kiện sau này dùng phương pháp cloning giúp các tay tổ này trở nên bất tử…. Căn bản phương pháp cloning này là dùng một cái tế bào khỏe mạnh của sinh vật “bản chính”, chỉ lấy cái nhân của nó với 23 cặp nhiễm sắc thể, trong đó cặp thứ hai mươi ba có thể là hai nhiễm sắc thể giống nhau XX hoăc khác nhau XY, vất đi phần vỏ ngoài, sau đó, thay thế cái nhân này vào nhân của một cái trứng của sinh vật cái đồng loại, tức không có nhiễm sắc thể nào cả. Cái zygote ( tức cái trứng ) này được nuôi trong một dung dịch đặc biệt. Khi nó đã phát triển tới giai đoạn phân cắt, người ta cấy vào tử cung của một sinh vật cái. Phôi thai (embryo) này phát triển thành cái gọi là “clone”, sẽ được sinh ra sau đó, có tất cả những đặïc tính sinh vật lý của sinh vật “bản chính”. Cloning tức y sao được bí mật tiếp tục tích cực nghiên cứu, và rồi cuối cùng, họ cũng đã đạt tới trình độ cloning con người. Khác với sự sinh đôi thông thường, hai trẻ giống nhau, nhưng đều được tạo đựng do một nữa nhiễm sắc thể của mẹ, một nửa của cha. Cloning lại khác hẳn, tạo nên một con người từ một tế bào lấy từ người “bản chính”, nghiã là các nhiễm sắc thể với hệ thống chất DNA và gene hoàn toàn của “bảnh chính”.  Do đó, con người y sao giống như khuôn con người bản chính từ hình dáng, tâm tính, trí tuệ, nhưng không cùng tuổi như cặp song sinh. Có một khó khăn trước mặt là ký ức của người “bảnh chính”, thì…không y sao được. Cái “clone” là trai hay gái là do cái nhân của tế bào của người “bản chính” được đặt vào cái vỏ trứng lúc khởi đầu tiến trình cloning.

Đó là điều Andrew muốn đặt vấn đề với Steve:

– Steve nhớ là người ta không thể cloning “ký ức”. Vì thế…những tên clone tức y sao sau này…rất cần tới bộ vi sinh STM của chúng ta, nghĩa là sau khi bộ vi sinh đã đầy ắp ký ức, kể cả phần tri thức và học thức,  của người “bản chính”, sẽ được đưa sang não của người “y sao” của anh ta…thế là hai người hoàn toàn là một…nghĩa là anh “bản chính” được tái sinh tại một thời gian khác. Tới lúc đó…ta giầu to…

Nói đến đây, Andrew khẽ thở dài…

Steve giật mình vì lời nói của Andrew, anh lắc đầu:

– Nhưng điều tôi không hiểu là tại sao bỗng nhiên cậu…muốn test bộ vi sinh STM của mình?

Anhdrew không giấu được lo lắng, khẽ nói:

– Steve, tôi sợ…tôi không qua khỏi cái nạn này…Vì thế, tôi muốn “save” ký ức của tôi trước, sau đó, tôi…phải “cloning’ chính tôi…để sau này, với bộ nhớ vi sinh STM có sẵn ký ức của tôi…sẽ “save” vào não bộ của…người y sao của tôi…Tôi không muốn ra đi…mà không còn một hy vọng gì cho tương lai, gia sản của gia đình tôi bị rơi vào tay kẻ khác…Tôi cần phải được tái sinh…Bob nghe rõ chưa…dù tôi có chết bây giờ…mươi mười lăm năm nữa, tôi sẽ trở lại…điều khiển hãng mình…Lúc đó…Bob cũng chưa tới năm mươi, nhỉ!

Andrew cười thích thú.

Steve chưa hết bàng hoàng, Andrew hỏi:

– Steve, anh đâu có muốn nhận những thằng Henry, Michael làm chủ của mình chứ?

Steve hiểu ngay vấn đề, gật đầu:

– Dĩ nhiên không. Thôi được, cậu đã quyết định như vậy, tôi sẽ thi hành lệnh này. Còn về vấn đề cloning?

Andrew nói ngay:

– Chuyện này tôi sẽ giao cho ông luật sư nhà mình điều đình với World Bio-Cloned Research.

cứu ngay công việc đi. càng sớm càng tốt và cho thực an toàn.

Steve cười:

– Tôi biết việc mà…chuyện cũng không đến nỗi…phiêu lưu lắm đâu, nhưng vấn đề là…

Andrew rất thông minh, hiểu ngay:

– Tôi biết anh muốn nói gì…Hãy tới bác sỉ Thomas của tôi…trình bầy vấn đề để ông ta dàn xếp một cái hợp đồng với bệnh viện này.

Steve đứng lên:

– Cậu còn điều gì cần dặn tôi nữa không? Tôi muốn về để sớm bắt tay vào công việc vì nó rất hấp dẫn tôi…

Andrew vui vẻ:

– Đủ rồi. Tôi mong mọi diễn tiến đều thuận lợi…

– Chúc cậu ngủ ngon. Bye

– Bye.

Sáng sớm hôm sau, ông luật sư  Holly đã đứng cong lưng bên giường Andrew với một thắc mắc to lớn:

– Andrew, cậu bảo tôi lấy hẹn với cái “tổ quỉ” đó làm gì vậy?

Andrew từ từ mở mắt ra, nhìn đôi mắt trợn trừng của ông ta, mỉm cười, khẽ nói:

-“Ông ngồi xuống đi…chúng ta có chuyện phải bàn…

Ông Holly kéo vội ghế, ngồi xuống:

-“Tôi chờ nghe đây, cậu cứ nói đi.”

Andrew hạ thấp giọng:

– Xin ông nghe tôi nói đây…chuyện này rất đứng đắn, và  được  suy nghĩ chính chắn, ông đừng nghĩ đó là ý tưởng điên rồ của một thằng teen.

Ông luật sư  như thấy được vấn đề quan trọng:

– Được, cậu cứ nói đi.

Andrew khẽ cười:

– Ông tới đó…thương thảo một…vụ cloning cho tôi…cho chính tôi.

Ông Holly há hốc miệng vì kinh ngạc. Andrew kịp chặn họng ông ta lại:

– Đừng làm ồn…tôi muốn giữ  kín chuyện này.

Cậu ta bình tĩnh tiếp:

– Tôi vừa được bác sĩ cho biết là tôi sẽ phải mổ óc…để lấy cục máu bầm bên màng não bộ ra…Cuộc giải phẫu thành công hay không…chưa biết chắc được. Tôi có thể “đi luôn” như không. Vì thế, tôi cần phải làm một cái “clone” cho chính tôi. Cái khó nhất là cloning  ký ức…thì chúng tôi đã có phương pháp giải quyết…

Ông Holly khẽ lắc đầu luôn mấy cái, thở dài:

– Thôi được…tôi sẽ điều đình với bọn đó…

Andrew liệu việc như một người trưởng thành có nhiều kinh nghiệm:

– Nhưng…vẫn còn có chỗ…khó khăn…

Ông Holly cau mặt:

– Sao?

– Vấn đề pháp lý của “cái clone” của tôi.

Lúc này ông luật sư  ngẩn  ra  như  một  người chưa từng bao giờ đụng tới luật pháp:

– Vấn đề pháp lý…tôi không hiểu.

– Nghĩa là…trong trường hợp chẳng may con người này của tôi chết đi…thì  luật  pháp  phải  công nhận cái “clone” của tôi là chính tôi vậy.

Ông Holly hừ thành tiếng:

– Cậu nên nhớ…vấn đề cloning con người chưa từng được luật pháp công nhận.

Andrew cười khẽ:

– Ông Holly, ông là một luật sư đại tài mà. Bao năm nay ba tôi tín nhiệm nơi ông…Chính vì nó chưa có căn bản pháp lý, tôi mới cần ông đưa vụ của mình ra trước pháp luật…để hợp thức hoá một vấn đề đã có trong thực tại. Được như vậy … mặc dầu cái “clone” của tôi chưa trưởng thành, nhưng nó sẽ có đủ tư cách như chính tôi trong dạng bào thai…và…tất cả gia sản của tôi sẽ không thể lọt vào tay kẻ khác. Ông nghe rõ không? Tôi không muốn một đứa khốn nạn nào…có quyền thừa hưởng gia tài mà ông gật gù:

– Tôi hiểu…tôi hiểu. Yên tâm, vấn đề cloning cho tới nay chỉ bị ngăn cản bằng việc không cho dùng công khố để phát triển chứ không cấm đoán bằng một…đạo luật khả thi. Nhiều phòng thí nghiệm đã từng ứng dụng nó trong việc ghép mầm sống người sơ sinh, cũng như chưa ai kiểm soát được những thai nhi do cloning mà ra.

– Thế cái “key” của vấn đề?

Ông Holly bật miệng, như tự hỏi:

– Yếu tố DNA?

Andrew reo lên:

– A, trúng phoóc… pháp luật hiện hành bác khước thế nào được…khi cái clone giống người bản chính 100% , kể cả ký ức, dấu  tay  và DNA nữa, ở bất cứ một giai  đoạn nào mà người gọi là “bản chính” đã từng sống qua?

Ông Holly gật đầu lập luận thêm:

– Phải, nếu luật pháp phủ nhận…thì cả hệ thống pháp lý xác quyết nhân thân một người dựa trên dấu tay…và yếu tố DNA từ trước tới nay sẽ sụp đổ hoàn toàn. Điều đó không thể sảy ra được…loạn ngay. Cái clone không phải là một đứa con vì hai cha con cũng không giống nhau về yếu tố DNA và dấu tay… Đây là một vấn đề pháp lý cực kỳ quan trọng, sẽ bùng nổ những cuộc tranh luận vô cùng gây cấn trên toàn thế giới trong tương lai.

Cả hai đang hứng chí thì một cô y tá vào lấy nhiệt độ cho Andrew. Ông Holly lui ra gần cửa sổ, nhìn ra ngoài, hai bàn tay cứ đan vào nhau, bứt rứt. Ông vốn là con người từng trải, thận trọng trong mọi công việc, nhất là vụ lớn như thế này, ảnh hưởng tới sự sống còn của nhà Lee.  Vì thế, khi cô y tá vừa ra khỏi phòng, ông khẽ hắng giọng, rồi ghé sát bên Andrew, nói:

– Cậu Andrew, không phải tôi mang tinh thần tiêu cực trong vụ tranh đấu này. Nhưng để thực sự bảo toàn cho gia sản của cậu, tôi đề nghị thêm một giải pháp phụ… một giải pháp “cổ điển” để phòng hờ.

Andrew lặng yên suy nghĩ, rồi nói:

– Được, xin cho ý kiến.

– Tôi đề nghị là song song với việc cloning, cậu nên làm gấp một thai nhi trong ống nghiệm…Nếu mình chưa thắng…trong vụ tìm tính cách pháp lý cho cái clone…thì ít nhất, tài sản vẫn nằm trong tay…thai nhi thừa kế của cậu.

Ông ta cười thành tiếng:

– Và sau đó…hai “cha con”  cậu vẫn có thể chung sống…để cùng điều hành cơ sở của gia đình Lee…dù…con cậu có thể… lớn tuổi hơn cậu nữa.

Andrew cũng cười theo khi nghĩ điều ông Holly dự đoán nếu xẩy ra:

– Ông muốn nói tới cái “clone” của tôi và thai nhi trong ống nghiệm ấy à? Hừ…con lớn hơn cha! Thực “fantasy”. Nhưng không sao…

Ông Holly đã hiểu câu chuyện và nhiệm vụ của mình một cách bình tĩnh và sáng suốt. Tuy nhiên, khi nhìn con người bị băng bó đầy mình, nằm gọn trong chiếc giường rộng thênh thang…ông không ngờ đó là đứa trẻ vừa bàn luận với mình một câu chuyện lạ lùng nhất từ trước đến nay.

Tiếng Andrew như vang lên từ đâu đâu:

– Ông Holly, ông thông suốt vấn đề rồi chứ…thôi mình chia tay…

Ông luật sư hơi ngỡ ngàng vì hai tiếng “chia tay”, nhưng cũng nói:

– Tôi rất hiểu, cậu cứ yên tâm dưỡng bệnh…Bye!

Andrew không nói thêm gì nữa vì chỉ cần ông ta biết tới đó.

– “Vậy tôi đi đây.” Ông Holly vội vã đi ra.

Andrew nhìn theo, thở  phào nhe nhõm.

Qua hôm sau, tất cả mọi kế hoạch mà ba người toan tính đều tiến triển tốt đẹp, từ chuyện đưa bộ nhớ vi sinh STM vào não bộ của Andrew, sau đó lấy ra, giao cho Steve giữ , tới việc tạo thai nhi trong ống nghiệm và nhất là tiến trình cloning thực sự được bắt đầu. Nhưng giữa khuya hôm kế tiếp, người ta đưa Andrew lên bàn mổ. Trước sự lo lắng của toán bác sĩ điều trị lẫn giải phẫu, Andrew bình tĩnh một cách lạ lùng vì cậu nghĩ tới kế hoạch vẹn toàn của mình.  Dù các toan tính của ba người có được thực hiện toàn hảo dưới những tiến bộ khoa học rất hiện đại, nhưng Andrew đã quên một điều…hết sức quan trọng là…còn một yếu tố quyết định chung cuộc để được gọi là “tái sinh” mà “chẳng ai” có thể cloning tức y sao được…đó là cái “personality tức cái tôi” Andrew!

Nhưng có một điều “cái tôi” rất khó mà kiểm chứng. Nếu “clone” của tôi cứ nhận “là tôi” thì cũng chẳng có ai có thể nói “nó không phải là tôi” vì chỉ có “tôi” mới biết “tôi” có phải là “tôi” hay không. Đó cũng là một điểm pháp lý khác nữa sẽ gây nhiều bão táp!!!

Hai mươi năm sau.

Ngày đó, Andrew thoát chết trong đường tơ kẽ tóc khi qua một cuộc giải phẫu óc.

Sau một thời gian tĩnh dưỡng trong bệnh viện, khi biết chắc chắn mình đã qua khỏi hiểm nguy, Andrew gọi riêng từng người lại, Luật sư  Holly và Steve để ra lệnh phá hủy ngay những gì mà Andrew đã hoạch định trong trường hợp chàng qua đời. Ông Holly phải hủy bào thai trong ống nghiệm và Steve hủy cái phôi thai cloning của Andew. Có điều quan trọng là cả hai đều dối gạt ông chủ. Steve thì đã dấu cái clone tại một nơi bí mật để nghiên cứu thêm, còn ông Holly muốn cứu cái bào thai, mà theo niềm tin của một người Công Giáo thuần thành, việc giết một thai nhi có trọng tội không khác một vụ giết người, nên báo cáo chuyện lấy tinh trùng của Andrew đã không thực hiện kịp trước khi đưa chàng lên bàn mổ. Nhưng thực ra ông đã kịp thời can thiệp bắt họ phải thực hiện trước lúc cuộc giải phẫu bắt đầu mấy phút. Lúc đó, Steeve thực hiện việc thu hồi ký ức của Andrew vào bộ nhớ STM.

Sau khi hoàn toàn bình phục, Andrew ra hãng để thay cha lo mọi việc. Tuy nhiên, những ngày tháng đầu, chàng vẫn phải dựa vào Steve về kỹ thuật và ông Holly về ngoại giao và pháp lý.

Cho tới khi Andrew ngoài ba mươi tuổi, chàng đã điều hành công ty một cách vững vàng và rất thành công trên thương trường. Những bộ nhớ vi sinh STM tuy chưa mở rộng được thị trường, nhưng, nếu có khách mua, thường do những nhà triệu phú hoặc bọn Mafia quốc tế, nên giá bán ra rất cao.

Andrew đã có một luật sư  trẻ lo việc trong sở, nhưng ông Holly vẫn là vị cố vấn đáng tin cậy của Andrew.

Steve thì càng ngày càng bớt quyền hạn theo thời gian lớn lên của Andew…tuy nhiên anh ta cũng được hưởng một số cổ phần quan trọng của công ty. Nhưng không nói ra, Steve càng ngày càng muốn bảo thủ quyền lợi của mình trong hãng…vì nghĩ rằng công lao của mình đóng góp vào sự lớn mạnh của hãng nhiều hơn cả của ông chủ nhỏ. Vì thế, anh ta đã qua mặt Andrew, dùng tiền và thế lực để kéo bè kết cánh được một số nhân viên quan trọng trong hãng. Tuy nhiên Steve rất không khéo trong mối tương quan của anh ta với Andrew bằng cách vâng phục sự chỉ huy của chàng.

Một buổi sáng, Steve mời Andrew đi ăn với anh tại một nhà hàng Sizzler. Trong lúc vui câu chuyện, Steve gợi ý:  headquater

– Andrew à, hãng mình mỗi lúc một bành trướng, tôi nghĩ Andrew phải có một nhân dáng oai vệ bằng cách cậu nên để một bộ râu. Tôi thấy hàm cậu cạo sạch như thế, trông có vẻ trẻ trung quá, so với địa vị ông chủ của hãng mình.

Andrew nghe Steve đề nghị, ngẫm nghĩ cũng thấy lạ tai, nên cười khoái trá:

– Thực thế à Steve. Không sao, mình bắt đầu thử xem sao.

– Mình phải chụp hình treo trong phòng khách,  phòng meeting để khách mình ngắm chơi. Tôi thấy cậu…sống hơi già trước tuổi…

Andrew đã tin tưởng người phụ tá, bây giờ là phó giám đốc của công ty, nên chàng nghĩ tốt về đề nghị của anh ta dù thấy có gì mâu thuẫn trong đó.

Khi bức hình đầu tiên của ông Tổng Giám Đốc được treo lên tường, cả hãng xì xầm bàn tán, ai cũng cho chuyện này là một chuyện nên làm. Trước đây vì mặïc cảm quá trẻ, Andrew ít xuất hiện trong các cuộc ngoại giao kinh doanh, và thường Steve thay chàng. Nay với khuôn mặt, từ bộ râu, mái tóc, thêm cặp kính trắng gọng vàng được săn sóc cẩn thận khiến khi nhìn mình trong gương, Andrew rất vừa ý.  Nhưng  chàng  đâu biết

Mình đang rơi vào cạm bẫy.

Kinh tế Mỹ lúc sau này bị trì trệ do sự cạnh tranh của các quốc gia đang phát triển, nhất là những nước ở Phi Châu, nơi hầu như  không bị đánh thuế và nhất là giá nhân công rất rẻ, rẻ hơn cả các quốc gia trong vùng Á Châu. Ngược lại, giá nhà đất và các phương tiện hạ từng ở vùng này quá cao so với, không những các nước đang phát triển mà ngay cả với một số lớn các tiểu bang của Hoa Kỳ. Vì thế, các hãng xưởng lớn của địa phương tiếp tục di chuyển một phần quan trọng hệ thống sản xuất của hãng tới những vùng nhân công dư thừa, địa ốc rẻ, thuế không có hoặc rất nhẹ để giá thành của sản phẩm hạ thấp mới có thể sống còn.

Vì thế, trong một phiên họp nội bộ, Steve đã đề nghị một kế hoạch đi chuyển hầu hết phần bộ sản xuất của hãng sang La Honda City, một thành phố mới mở của các nhà tài phiệt Nhật Bản bên Mexico, để cắt giảm giá thành của sản phẩm. Andrew thấy chuyện này cũng không có gì mới lạ để phải bàn cãi vì ngay cả các hãng lâu đời như IBM, Intel, Sun họ cũng đã và đang làm chuyện tái phối trí này. Vì thế, một kế hoạch di chuyển được giao cho Steve nghiên cứu và thi hành. Theo đó, chỉ một phần có tính cách hành chánh còn ở lại, hầu như toàn bộ cơ sở đều nằm trong chương trình tái phối trí.

Ngày ra mắt ban giám đốc tại cơ sở mới được tổ chức rất chu đao, vừa để cho nhân viên toàn hãng lên tinh thần, vừa muốn lôi cuốn các cổ đông bỏ thêm tiền vào công ty, và nhất là hấp dẫn các tay tài phiệt trên thế giới khiến giá cổ phần của công ty tăng trên thị trường chứng khoán.

Andrew đã định ngày dùng phi cơ riêng để sang dự ngày khai mạc cơ sở mới. Steve đã sang bên đó từ nhiều ngày trước để chuẩn bị mọi chuyện với ban tham mưu của anh ta.

Trong chương trình phân công, ông Holly sẽ ở lại hãng để thay Andrew trông nom cơ sở chỉ còn là những văn phòng có tính cách hành chánh của cơ sở trong những ngày chàng đi vắng

Andrew đã sẵn sàng để di chuyển. Nhưng đêm trước ngày chàng lên máy bay, Andrew chợt nghĩ đến ông Holly, đến công lao ông đã đóng góp cho hãng và nhất là cho cá nhân chàng, Andrew bỗng thấy không nên để ông “thủ thành” trong dịp cả hãng có chuyện vui. Ông đi vài ngày cũng chẳng có sao, nhất là chàng vừa muốn làm một ngạc nhiên cho ông bằng một buổi tuyên dương công lao của ông đối với công ty cùng “thiên hạ”, trước khi ông sẽ về hưu vào cuối năm. Đây chỉ là ý nghĩ vừa nẩy ra trong trí Andrew về người cộng tác viên mà cha chàng đã nối lại cho chàng, nhất là ông Holly cũng rất xứng đáng để nhận lãnh cái vinh dự đó. Vì thế, dù trời đã khuya, nhưng Andrew vẫn điện thoại cho ông:

– Allô, xin lỗi ông Holly…đã quấy rầy giấc ngủ của ông.

Người già chắc ít ngủ, nên ông Holly trả lời rất nhanh nhẩu:

– Cậu Andew hả, tôi đã ngủ đâu. Có chuyện gì thế?

Andrew cao giọng:

– Tôi nghĩ ở đây cũng chẳng có chuyện gì quan trọng, nếu ông sang bên đó với tôi…vài bữa.

Ông Holly cười:

– Mai tôi chưa đi được đâu. Cậu cứ đi trước đi…còn tới cả tuần nữa mới tới ngày khai mạc cơ mà. Tôi có chuyện cần phải làm vào mấy ngày sắp tới…xong chuyện, tôi sẽ sang đó trước hôm khai mạc, có thể là chuyến buổi chiều. Chúc cậu đi vui vẻ nhé.

Andrew ngập ngừng, giọng khẩn khoản:

– Tôi muốn dành một sự ngạc nhiên cho ông ở bên đó…thế nào ông cũng sang nhé.

Ông Holly cũng vui, cười:

– Vâng, cậu cứ đi trước, tôi hứa sẽ sang sau.

Thế là sáng sớm hôm sau, Andrew lên chiếc máy bay riêng, rời phi trường quốc tế San Jose lúc sáu giờ sáng, mùa đông ngày ngắn đêm dài, nên trời còn mờ sương, thấp thoáng ánh đèn vàng đậm…chạy dài trên những con đường còn vắng vẻ.

Ông Holly thường giữ đúng lời hứa. Ông có mặt trên chuyến phi cơ hạ cánh xuống La Honda City vào đúng bảy giờ mười lăm phút.

Rời máy bay, đến khu lấy hành lý, luật sư  Holly không thấy ai ra đón mình. Đợi cả giờ tại phi trường, cuối cùng ông gọi taxi để về trụ sở của hãng. Ông nghĩ chắc Andew quá bận việc sửa soạn cho ngày ra mắt nên quên cả lời hứa của ông. Khu cơ xưởng của hãng chiếm cả một “bloc” phố. Kiến trúc lớn nhỏ nằm san sát bên nhau, dưới những cột đèn sáng rực rỡ.

Sự xuất hiện của ông Holly khiến Steve hơi lúng túng. Anh ta đón ông bằng một cái bắt tay, với ánh mắt đầy thắc mắc:

– Có việc khẩn cấp à, ông luật sư?

Không thấy Andrew trong phòng khách, ông Holly ngạc nhiên vì sự có mặt của ông không được Andrew thông báo cho Steve, nên dĩ  nhiên chẳng có ai ra đón  ông  ngoài phi trường.

Nhìn đôi mắt của Steve, ông Holly ngập ngừng, đáp:

– Ồ không có gì quan trọng hết…tôi muốn có mặt để chúc mừng Andrew thôi. Cậu ấy đâu rồi Steve nhỉ?

Mắt Steve rời ông Holly, nhìn ra xa, hơi cau mày:

– Cậu ấy có việc ra ngoài…Ông có thể về nhà nghỉ, mai mình sẽ gặp Andrew nhé.

Trước khi được đưa về tòa nhà chung cư của hãng, ông Holly được người Phó Giám Đốc đưa thăm sơ qua các khu của cơ sở. Thực ngăn nắp, được thiết kế và trang bị rất tốn kém. Nhân viên đi lại tấp nập, nhưng phần đông đều là những người mới tuyển, nên ông chỉ gặp được vài người quen cũ mà thôi.

Sau một bữa ăn nhẹ với Steve, ông Holly được xe hãng đưa về một ngôi biệt thự để nghỉ ngơi.

Người quản gia đưa ông về phòng riêng. Ông Holly có cho anh một chút tiền, rồi hỏi:

– Ông Tổng Giám Đốc ở phòng nào nhỉ?

Anh ta nhanh miệng, lắc đầu:

– Thưa, đây là nhà ông Phó Giám Đốc. Ông Tổng Giám Đốc ở nhà khác, cách đây chừng vài dậm.

Ông Holly gật đầu:

– Thế đó.

Như  vậy, tối nay, ông không có dịp gặp Andrew.

Sau khi người quản gia ra ngoài, nhẹ tay khép cửa phòng, ông Holly dọn dẹp loanh quanh, treo quần áo vào tủ, lấy khăn và quần áo lót vào phòng tắm. Ông thấy không còn chuyện gì khác phải làm hơn việc lên giường đi ngủ.

Không biết đêm qua, Steve về nhà lúc nào. Nhưng sáng hôm sau, chưa tới bẩy giờ luật sư Holly đã bị đánh thực và mời ăn điểm tâm với hai vị Tổng, Phó Giám Đốc tại câu lạc bộ của hãng.

Tám giờ, ông Holly bước vào phòng đại sảnh của câu lạc bộ đã thấy người ra kẻ vào tấp nập.

Trong một căn phòng đặc biệt dành cho các VIP, tức những nhân vật rất quan trọng, ông Holly được mọi người đón tiếp niềm nở.

Andew ngồi đầu bàn bên kia, trong khi ông Holly ngồi gần đầu bàn này, bên cạnh Steve. Vì thế, chỉ một cái bắt tay và trao đổi một vài câu xã giao, ông Holly đã được hướng dẫn tới chỗ ngồi. Trong bàn ăn, không quá mười người, đều là những nhân rất quan trọng của công ty.

Suốt trong bữa ăn, luật sư Holly thắc mắc về ánh mắt ngỡ ngàng qua chiếc kính gọng vàng của Andew, cái bắt tay hời hợt, không giống như trước đây, Andrew thường nắm tay người rất chặt, lắc ít nhất ba cái với nụ cuời trên môi. Andew có vẻ bị bệnh. Có thể lắm, vì những ngày này, ở địa vị của cậu ta, mệt là cái chắc thôi.

Trái lại, Steve chủ động mọi chuyện. Anh ta trình bầy trước ban tham mưu ngày ra mắt của công ty vào chiều nay, kể ra một lô các khách danh dự, từ ông Tổng trưởng Công Nghệ của chính phủ địa phương, bà Mayor của  thành phố, đại diện các  công  ty, những  hãng  bảo hiểm cỡ lớn của Mỹ.

Sau bữa ăn sáng, luật sư  Holly không được coi như một thành viên của công ty, nhưng như một khách quý trong số quan khách phương xa, tham gia cuộc đi thăm các danh lam, thắng cảnh quanh vùng. Vì thế, ông không có dịp gặp riêng với Andrew cho tới lúc khai mạc đại hội.

Luật sư Holly ngồi trong hàng ghế quan khách, ông không vui, nhưng lại nghĩ có lẽ đây là cách đối xử đặc biệt của Andew mà cậu ta đã nói là dành cho ông một sự ngạc nhiên chăng. Quả thực ông Holly ngạc nhiên, nhưng ông không nghĩ đó là một ân huệ mà ông mong muốn. Và, theo ông, trong bao năm qua, Andrew cũng chẳng bao giờ đối xử với ông như người ngoài, và cậu ta cũng biết điều đó rất vừa lòng ông. Thế sao bây giờ lại xảy ra cớ sự này?

Cho đến khi Andew lên đọc diễn văn chào mừng quan khách thì ông Holly sửng sốt và cảm thấy vô cùng lo lắng. Giọng của Andew cao hơn mọi khi, lại chậm rải, buồn tẻ. Trước đây,  Andrew khác hẳn. Dù cậu còn trẻ so với địa vị của mình, nhưng Andrew rất tự tin trong mọi trường hợp nên, dành chủ động trong mọi hoàn cảnh, luôn luôn tạo nên sinh khí mỗi khi có sự hiện diện của cậu ta. Vì thế, khi thấy sự thay đổi vừa đột ngột, vừa không tốt khiến cho ông Holly ái ngại cho Andew. Ông nghĩ tới những chuyện con người bị khống chế bởi tay chân bằng cách bị cho uống những thứ  độc dược để mất hết tự chủ và bị người khác sai khiến. Nỗi sợ hãi càng tăng khi ông Holly thấy trong suốt buổi lễ, ông đã không có một sự ngạc nhiên nào như Andew nói dành cho ông vào đêm trước ngày cậu ta sang đây, ngược lại, hầu như  Andrew không hề để ý cả đến sự có mặt của ông nữa.

Cuộc tiếp tân rất thành công, nhưng người nổi nhất đêm nay không phải là Andrew mà là Steve. Andrew về phòng làm việc để tiếp mấy nhân vật quan trọng địa phương, trong khi Steve hội họp với các tay đại tư bản và kỹ thuật cao trong phòng họp sang trọng.

Ông Holly đã từng yêu cầu được gặp Andrew, nhưng bị từ chối, lý do vì sự có mặt của ông ở đây quá đột ngột, thời khóa biểu tiếp quan khách của ông Tổng Giám đốc đã định từ nhiều ngày trước, nên không thể thay đổi được. Một số nhân viên cũ bên Cali sang cũng không có thì giờ tiếp chuyện ông, vì ngay cả ở bên nhà, ông cũng không mấy gần gũi với họ. Cuối cùng, ông luật sư thấy mình vừa dư thừa, vừa lẻ loi, chưa muốn nói là hơi bẽ bàng, nên chẳng còn muốn ở lại đây lâu hơn. Một cố gắng cuối cùng, ông nhờ nhân viên tiếp tân thông báo việc ra về của ông với Andrew. Ông hy vọng lời chào từ biệt của ông khiến Andrew sẽ thu xếp để hai người gặp nhau, vì cậu ta không thể…đối xử với ông lạnh nhạt đến như thế. Nhưng ông Holly đã lên máy bay với nỗi tuyệt vọng vì Andrw không làm như ông nghĩ, mà cậu ta chỉ gửi lời chúc ông ra về bình an mà thôi.

Với kinh nghiệm của hơn ba mươi năm trong nghề, ông Holly tin chắc sự việc xảy ra bên La Honda City đã có gì bất thường, nhất là sự bất thường này tai hại cho sự nghiệp và cơ đồ của Andew. Và người đang gây thanh thế để khuynh loát địa vị của Andew không ai khác hơn  là Steve.

Người ra phi trường đón luật sư  Holly là một thanh niên. Vóc dáng cậu này mảnh khảnh, nhưng lại có đôi mắt thực sáng, tỏa ra vẻ thông minh xuất chúng, không khác người tuổi trẻ tài cao Tổng Giám Đốc của đại công ty Lee & Son LTD.

Khi vừa nhìn thấy thanh niên, ông Holly bàng hoàng tới rịn mồ hôi trán. Có thể nào như thế? Vì nếu ông có thể bí mật giữ lại được cái bào thai trong ống nghiệm của Andrew, nuôi lớn lên thành một thanh niên tuấn tú như thế thì ai ngăn cấm Steve qua mặt mọi người, giữ lại cái “clone” của Andew? Và biết đâu, Andew đang sinh hoạt tại cơ sở của hãng bên La Honda City lại chẳng phải là Andrew mà chỉ là cái “clone” của cậu ta dưới bàn tay điều khiển của Steve? Ông Holly liên tưởng tới cái kế hoạch của Steve về việc để râu của Andrew trước đây…Nhờ bộ râu này, người ta khó phân biệt được sự già trẻ giữa hai khuôn mặt của Andrew và cái clone của cậu ta. Vậy…Andew hiện tại ở đâu? Như vậy số phận của người Tổng Giám Đốc công ty Lee & Sang LTD đang lâm nguy…! Vì nếu không có mặt của Andrew mà mọi người đều tin cái “clone” của Andrew chính là cậu ta thì cuộc tranh chấp cũng rất gay go. Chỉ còn một yếu tố duy nhất để lật tẩy cái “clone” này là số tuổi của hai người. Muốn thế, ông Holly phải đưa nội vụ ra trước tòa,  nhưng ông sẽ gặp khó khăn về thủ tục là vì không có quyền lợi gì để hành xử cái quyền đó. Cuối cùng, chỉ có hai giải pháp. Một là khám phá ra vụ Andrew bị hãm hại, tức là cậu ta bị bọn Steve thủ tiêu trên đường tới La Honda City, và chính Andrew Lee Jr ra mặt tố cáo. Vì Steve không hề biết Andrew có một đứa con trong ống nghiệm, và chính yếu tố này khiến anh ta ỷ y vào sự khôn ngoan của mình mà để lộ ra nhiều sơ hở khiến ông Holly có thể ra tay.

Cho đến khi thông báo nội bộ của công ty nói Andrew sẽ đưa Headquarter của hãng về bên La Honda City và cậu ta không trở về làm việc bên Cali nữa. Một phó giám đốc thứ hai bên cạnh Steve sẽ về điều khiển cơ quan hành chánh của hãng ở Cali, thì ông Holly tin chắc sự nghi ngờ của mình đã là sự thực. Ông âm thầm mướn thám tử sang bên La Honda City điều tra.

Ông Holly tự hứa là ở bất cứ hoàn cảnh nào, ông cũng sẽ ra sức bảo vệ Andrew, và không thể để công ty của nhà Lee mất vào tay kẻ khác, nhất là Steve. Điều quan trọng hàng đầu bây giờ là số phận của Andrew.

Những điều tra viên được cử sang La Honda City đều là các người có có khả năng nghề nghiệp rất cao. Vì thế, không lâu, ông Holly đã rất bàng hoàng khi được báo cáo, dù ông đã từng nghĩ tới một sự bất hạnh nhất này, là Andrew đã không không hề bước chân xuống phi trường thành phố này, dù chuyến phi cơ tư nhân của hãng đã tới đây đúng giờ. Vậy Andrew đã thực sự mất tích. Andrew hiện tại không phải là Andrew.

Ông Holly biết con người đó chính là cái clone tức bản y-sao của Andrew, với tất cả những tính chất “sinh học” tuyệt đối giống hệt Andrew, kể cả hình dáng cùng ba yếu tố căn bản của con người là DNA, dấu tay và ký ức, riêng ký ức chính là những gì đã được thu lại từ khối óc của Andrw bằng cái chíp STM do chính hãng nhà sản xuất, mà người đứng đầu chương trình nghiên cứu này chính là Steve. Cái sơ hở duy nhất của Steve là hắn đã không thu lại những ký ức trong những ngày cuối cùng của Andrew ở lại Cali, nhất là cuộc nói chuyện của Andrew với ông một đêm trước khi Andrew sang bên đó. Điều này ông Holly đã hiểu và làm sáng tỏ về thái độ lạnh nhạt và không hề biết đến lời hứa của Andrew với ông vào đêm trước ngày Andrew lên đường.   Tuy trên Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ cho tới nay chưa có một phán quyết nào xác định Y- sao và người được y-sao là một trên phương diện pháp lý. Nhưng tại các tòa dưới, đã có những bản án ở một số tiểu bang cấp tiến đã công nhận điều này, hoặc ít nhất các “clone” là một thừa kế viên đứng trước cả con ruột của người được y-sao. Ông Holly lúc nào cũng vô cùng lo lắng cho số phận của ông chủ nhỏ của ông.

Với tình thế này, nếu có sự tranh chấp giữa Andew Jr và Andrw y-sao, phần thắng có thể sẽ nghiêng về bọn Steve, và cơ nghiệp của dòng họ Lee sẽ lần lượt sang tay kẻ khác nếu.

Và hai việc quan trọng nhất mà ông Holly phải làm tức khắc là hợp thức hóa tình trạng nhân thân của Andrew Lee Jr bằng một bản án xác nhận tại tòa và chứng minh sự mất tích của Andrew để dồn bọn Steve vào thế bị cáo một cuộc thủ tiêu. Nếu sự thực phải làm như vậy, tuy tài sản của nhà Lee không rơi vào tay kẻ gian, nhưng một sự mất mát to lớn là Andrew, một ông chủ nhỏ, một người bạn thiết của ông không còn nữa.

Que sera sera? Điều này đã khiến…những sợi tóc đen cuối cùng của ông Holly đã trở thành trắng hết, chỉ nội trong một đêm.

Hồ Linh

(Trích từ tác phẩm Nhan Sắc Mấy Độ)

TẤM THẺ BÀI KHÔNG TÊN***

HỒ LINH

 

TẤM THẺ BÀI KHÔNG TÊN

 

Người đàn ông tay mân mê hai tấm thẻ bài làm chúng cọ sát với nhau kêu lách cách, mắt nhìn ra xa ngoài biển, đêm tối chập chùng. Ngay dưới chân, sóng vỗ vô bờ đá rì rào bất tận, bọt nước bắn tung lên tới gần mỏm đá, nơi chúng tôi đang ngồi.

Đàng sau là trại tỵ nạn. Trong những căn lều thô sơ, chỉ đủ che nắng, che mưa, lúc này mọi người đang say sưa ngủ với cái mộng trời mới, đất mới. Mỗi người ra đi, đều bỏ lại sau lưng tất cả những gì mình đã sẵn có, lớn, nhỏ khác nhau, nhưng nếu so sánh với hiện tại, thì đó vẫn là một sản nghiệp đáng giá. Có ở trong hoàn cảnh khốn khó như thế, người ta mới thấm thía hai chữ Tự Do!

Riêng người đàn ông này, tôi biết rõ là ông ta đã đổi cảnh thiếu thốn này bằng một gia tài khiến bất cứ ai biết cũng phải thèm thuồng. Tòa villa sang trọng trên đường Duy Tân, chiếc xe du lịch Toyota đi chưa quá một năm…với đặc quyền đặc lợi của một sĩ quan cao cấp trong quân đội nhân dân!

Từ lúc xuống tầu cho đến khi vào được trại tị nạn, hầu như không ai biết lý lịch của ông ta và gia đình một vợ hai con. Ông ta đã trả giá cho mỗi người để được xuống tầu bằng năm cây, không một tiếng mặc cả.

Khi ra đến ngoài khơi, gia đình ông có lẽ chưa một lần đi biển, nên cả bốn người đều bị say sóng, nôn mửa, nằm vật nằm vã. Tôi là lính hải quân, nên hơn mười ngày lên đênh trên biển, vẫn tỉnh queo. Vì thế, thấy mấy tay nải của ông ta, thiếu sự trông coi, có thể bị mất, nên tôi đã gìn giữ giùm cho đến lúc tất cả mọi người đến được đất liền.

Rồi không lâu, có người phát giác ra ông ta là một sĩ quan của “quân đội nhân dân”, ai cũng xa lánh và nghi ngờ ông được bọn Cộng sản gài để ra nước ngoài hoạt động cho chúng. Riêng tôi, ra đi một thân một mình…ba mẹ tôi đã qua đời, anh em không có nên rất ao ước được sống cái cảnh gia đình xum họp. Vì thế, thấy mấy người nhà ông ta bị nghi kỵ, tôi bỗng thương hại, nên đỡ đần việc nọ, việc kia. Nhờ đó, tôi nhận ra họ cũng…có tình người, chứ không hẳn bị Cộng sản uốn nắn đễ trở nên một cái máy bất nhân. Tình thân nảy sinh từ đó và không lâu, chúng tôi trở nên đôi bạn vong niên. Nhưng phải đợi tới đêm nay, ông mới kể cho nghe chuyện tấm thẻ bài không tên mà ông thường đeo ở cổ.

Quả thực một sĩ quan quân đội Cộng sản đeo chiếc thẻ bài…của lính “ngụy” thì thực là một chuyện lạ.

Tiếng gió u u, tiếng sóng biển dạt dào làm giọng ông vốn đã trầm, nên càng khó nghe hơn.

– Tôi biết cậu rất thắc mắc về tấm thẻ bài này, nhưng…tôi chưa có dịp ngồi tâm sự với cậu…như đêm nay…tôi nhớ, chính một đêm không trăng như  thế này cách đây đúng năm năm…

Phải là chuyện quan trọng người ta mới có thể nhớ ngày tháng tường tận như thế. Ông ngưng lại một chút, rồi thở dài, tiếp:

– Ngày chúng tôi vào tiếp thu Saigon của…cậu, trên những trục lộ chính, quân đội nhân dân được người của thủ đô miền Nam đón tiếp rất là nồng hậu. Lúc đó, chúng tôi nghĩ rằng, việc tiến chiếm miền Nam đúng là một …chiến công vĩ đại, đúng là kịp thời giải phóng nhân dân miền Nam khỏi ách thống trị ác độc của bọn Mỹ-Ngụy.

Ông ngừng lại, rồi nhìn tôi, tiếp:

– Tođi thi hành nghĩa vú quađn sự cũng vào thời baỉng tuoơi caơu bađy giờ. Hêt ở núi đoăi Vieơt Baĩc, tới rừng già Ai Lao, roăi U Minh, từ câp baơc nhỏ tới chư huy những đơn vị lớn, suôt đời binh nghieơp chư biêt tuađn leơnh tređn, nghe những ođng chính ụy tác đoơng tinh thaăn…đeơ chiên đaẫu tôt cho sự nghieơp cách máng cụa nhađn dađn. Vì thê, tuy thây sự trù phú cụa Saigon cũng lây làm lá vì có cái gì đó khác với những đieău mình được biêt. Nhưng khi thây đoăng bào đón tiêp, tođi cũng nghĩ là mình đã đem lái hánh phúc thực sự cho đoăng bào. Roăi tới những chiên dịch chưnh trang thành phô, chiên dịch dép

bỏ những nghĩa trang, nhất là nghĩa trang của lính ngụy trên đường xa lộ Saigon-Biên hòa. Đơn vị của tôi đã thanh toán mục tiêu không tới một tuần lễ. Cái tượng lính ngụy ngồi “gác” ở cổng nghĩa địa, cũng bị chúng tôi kéo xuống. Có những anh em bộ đội vì muốn trả thù cho dù với một bức tượng vô tri, nên đã dùng búa tạ, cưa điện cắt xẻ…chân, tay tên lính đó nữa.

Trời về khuya, gió biển đã bắt đầu lạnh. Ông ngưng kể, lấy thuốc lá đưa tôi một điếu, rồi bật quẹt mồi lửa cho cả hai. Sau một hơi thuốc hãm khói, thở ra đàng mũi, rồi khẽ lắc đầu, ông tiếp:

– Hết chiến tranh, chúng tôi được thư thả với một đời sống sung sướng hơn lúc trước rất nhiều. Tôi được đưa vợ con từ Bắc vào sống tại Saigon, được chia một trong những nhà của Ngụy quân để lại. Đơn vị tôi chỉ huy làm vòng đai an ninh cho phi trường Biên Hòa nên tôi thường về nhà vào những ngày thứ bẩy, tối chủ nhật trở lại đơn vị.

Nhưng, sau thời gian hứng khởi vì chiến thắng, lúc bắt đầu cuộc sống bình thường, tôi mới khám phá ra một điều…là nhân dân miền Nam không ưa chúng tôi như  chúng tôi đã tưởng. Công cuộc giải phóng miền Nam đã từng làm chúng tôi hãnh diện, hình như biến thành nỗi bất hạnh của họ. Và, một điều buồn hơn hết là nhân dân miền Nam đã không quí mến quân đội nhân dân…bằng những tên lính ngụy thời trước. Trong câu chuyện, nhiều khi vô tình, họ hay khoe “các ông ấy thế này…các ông ấy thế kia” với một giọng rất là thân thương. Nhiều đêm, tôi suy nghĩ không hiểu vì sao những tên “lính ngụy ác ôn” kia lại được họ thương mến như vậy. Những khi hỏi họ về tội ác của Mỹ- Ngụy, họ kể ra vanh vách, không khác gì các chính trị viên của đơn vị nói với anh em quân đội. Hỏi có thù lính ngụy không thì họ vẫn trả lời là rất thù hận,

nhưng tình cảm của họ tuy không nói ra lại dành cho những bọn thù địch đó rất sâu đậm.”

Ông ngưng kể, hít liên tiếp mấy hơi thưốc, rồi búng mẩu thuốc giở ra xa. Đầu đỏ của điếu thuốc mất hút trong bóng đêm chập chùng. Ông đốt tiếp điếu khác, lại “rít” một hơi dài, rồi tiếp:

– Cho đến…một đêm kia.

Ông ta hỏi một câu chẳng dính dáng gì tới câu chuyện đang kể:

– Cậu có đạo không?

– Cháu theo Công giáo.

Ông gật gật đầu:

-“Đêm thứ bẩy đó, như  thường lệ, tôi từ Biên Hòa về Saigon, nhưng thay vì dùng xe díp như mọi khi, lần này tôi lái chiếc xe Honda mới mua của một người quen trên Biên Hòa, đem về cho đứa con gái…mới lên lớp mười. Nhưng không may, mới vào xa lộ được dăm phút thì trời đổ mưa. Hừ mưa Saigon, cậu biết rồi chứ gì, đến như  anh du kích công đồn. Trời mưa tối đen như mực, thỉnh thoảng mới có một chiếc xe đi ngược chiều, chiếu đèn chói cả mặt.”

– Sao bác không “đụn” ở đâu đợi hết mưa hãy đi?

Ông lắc đầu:

– Hai bên xa lộ lúc đó đâu có nhà cửa gì. Tôi cũng cố giương mắt nhìn hai bên đường nhưng không  thấy

cố giương mắt nhìn hai bên đường nhưng không thấy một ánh đèn nào của một khu xóm.

Ông ngưng lại, hơi rùng mình:

– Không thấy nhà nhưng lại thấy mình đang đi qua…

– …?

Ông gật đầu như nói một mình:

– “Tôi vừa nhận thấy mình đang đi qua cái nghĩa trang của bọn “lính ngụy’. Nhớ lại chính mình đã tham gia vào cái chiến dịch triệt hạ…những cái mả này…thì bất chợt xe tôi cán vào một vật gì đó khiến xe trượt bánh, quay mấy vòng…hất tôi xuống đường một cái như trời giáng. Tay phải tôi gẫy quặt khi đập xuống mặt đường. Tôi như ngất đi…mấy giây, thấy máu từ cánh tay, từ trán chảy ra âm ấm ngấm vào người. Mưa vẫn to, tôi cố gượng dậy, nhưng không nổi. Lúc đó, tôi nghĩ…nếu cứ nằm ở đây, vết thương tuy không chí tử, nhưng không cầm được máu thì cũng sẽ chết vì mất máu thôi.”

Ông im lặng một chút, như muốn câu chuyện thấm vào người nghe, rồi tiếp:

– “Giữa lúc đó, bất chợt  bên kia đường lấp ló ánh đèn. Rồi không lâu, ánh đèn đó chập chờn, lắc lư tiến ra xa lộ. Tôi bừng lên hy vọng được cứu sống.  Đúng như mong ước, càng lúc, ánh đèn càng tới gần. Tay trái nắm chặt cánh tay phải, tôi ngước đầu lên nhìn sang bên kia đường, nhận ra một người đang xách trên tay…một cái đèn chai. Khi người đó đến vừa tầm mắt, tôi mới nghĩ ra tại sao ánh đèn chao đảo nhiều như vậy. Hóa ra vì người tới cứu tôi là một người tàng tật. Nửa thân dưới được chiếu sáng, tôi nhận ra ông ta mặc chiếc quần nhà binh, cụt một chân nên phải đi nạng, một ống quần thõng xuống dài tới sát đất. Dù gì đi nữa, nếu ông ta không cứu được tôi thì cũng có thể kiếm người lại giúp.

Lòng tôi thực hồi hộp.

Tiếng nạng gỗ gõ xuống mặt đường, tôi nghe rất rõ. Rồi cuối cùng, người đó cũng đến sát bên tôi. Không nói một lời, ông ta móc cái đèn chai vào thang cái nạng, rồi quì một gối xuống, một tay luồn ngang ngực tôi, nhấc bổng người tôi lên một cách rất nhẹ nhàng. Không một hơi thở mệt nhọc, người đó thoăn thoắt đưa tôi qua xa lộ, rồi đi vào một con đường mòn. Không bao xa, tôi thấy được đưa vào một nơi không còn mưa rơi. Trong lòng tôi cũng yên tâm và nghĩ rằng chắc mình đang được một người nghèo khó cứu về nơi tạm trú của anh ta vì lòng nhân từ  thường chỉ có ở những con người thanh bạch, họ là tuyệt đại quần chúng thuộc gia đình cách mạng, khác với bọn trọc phú hoặc ngụy quân ngụy quyền chỉ quen ức hiếp bóc lột nhân dân.

“Đang nghĩ lan man thì tôi được đặt nằm trên một cái ổ…không bằng rơm mà bằng lá khô. Tôi ngửi thấy mùi khuynh diệp là loại cây lớn được trồng trong cái nghĩa trang của “lính ngụy”. Bên ngoài, tiếng mưa rơi vẫn còn nặng hạt, nghe rào rào chung quanh.”

“Từ đầu đến giờ, người cứu tôi không hé miệng, nhưng tôi không thể không nói lời cảm ơn, nên khẽ nói:

– Cám ơn…đồng chí…đã cứu…

Lúc nói, tôi ráng nhìn lên, để thấy người đó cho rõ,

nhưng tôi chưa nói hết câu thì một giọng  khàn  khàn, như gió thoảng bên tai:

– Tôi hổng có phải là đồng chí của anh.

Tiếng cười khẽ rít trong miệng:

– Nhưng đã thấy anh cái ngày anh dẫn các đồng chí tới đây.

Tôi đang phân vân vì câu nói ấy, thì ông ta tiếp:

– Nhưng…tôi vẫn giúp anh.

Câu nói càng khó hiểu. Lúc đó tôi nghĩ cứ được cứu đã, còn những gì về sau sẽ tính.

“Tôi vẫn không nhìn rõ mặt, nhưng một khám phá nữa làm tôi ngạc nhiên vì khi lau vết thương cho tôi, tôi thấy tay đặt lên nạng bị cụt tới gần khuỷu. Tuy nhiên, không phải vì thế mà ông ta không làm được việc.

“Vết thương trên đầu đã được băng lại. Tới cái tay gẫy, ông ta dùng giây, buộc chặt cánh tay gần nách để máu đỡ chảy, rồi nói:

– Anh phải chịu đau một chút vì cánh tay này đã bị trật xương rồi, tôi lấy lại, rồi mới băng được.

“Nói xong, một chân ông ta giữ bên trên khuỷu tay, tay kia cầm cổ tay tôi kéo thực mạnh. Trời, đau không thể tả được. Tôi bắt phải hét lên…rồi ngất đi.

…Lúc trời sáng”

Ông ngưng lại vì đã nói một mạch câu chuyện. Tay ông giữ tấm thẻ bài đong đưa trước mặt, như đang ngắm một báu vật, rồi hất mạnh, chụp nó trong tay, quay sang tôi, nói:

– Cậu có thể tưởng tượng lúc tỉnh dậy, tôi thấy mình ở đâu không?

Tôi thấy lờ mờ ý ông ta nhưng chưa kịp đáp thì ông đã tiếp:

– Hừ, thực không thể ngờ, vì tôi thấy mình đang nằm bên một vật như là một tảng xi măng trơn và lạnh, và được che bằng một tấm mộ bia phải, tấm mộ bia của ngụy quân.

“Tôi chỗi dậy, người không đến nỗi đau lắm, chui ra khỏi nơi trú ẩn. Nắng đã lên, cảnh hoang tàn của những mộ phần bị khai quật còn ngổn ngang gạch đá chung quang đấy, chiếc xe Honda của tôi còn nguyên như chưa hề bị té. Và lạ lùng nhất làø cái vật như tảng xi-măng đó chính là bức tượng người “lính ngụy” khi trước được dựng trước cổng  nghĩa trang, đã bị chúng tôi lôi xuống, cưa một chân, đập vỡ một tay…không khác những khuyết tật của người ân nhân của tôi đêm qua!”

Nghe đến đây, tôi giật mình

– Bác nói…bức tượng Tiếc Thương?

Ông lắc đầu:

– Tôi không biết…nhưng chắc như vậy. Tôi sờ lên đầu, viết thương tuy không băng bó gì nhưng gần như không còn đau. Đến cái tay mới kỳ diệu, vết thương như đã ăn da non và không còn cảm thấy là bị trật xương gì cả và…

Tôi lắng tai để nghe một cái gì đó…mà người kể chuyện hơi ngưng lại để gây sự chú ý hơn của người nghe.

Đúng như thế, ông khẽ thở dài:

– Và cậu biết không cái dây cột tay tôi đêm qua để cầm máu chính là dây đeo của cái thẻ bài này!

Tôi buột miệng:

– Của ai?

Tôi hỏi thế vì mỗi thẻ bài có khắc tên của người đeo nó. Nếu chẳng may người lính bị tử trận, nhờ đó người ta mới biết được danh tính.

Ông ta không trả lời ngay, chìa tấm thẻ bài ra, đưa cho tôi, rồi nói:

– Cậu sờ xem có đọc được tên người đó không.

Trong đêm, tôi cũng biết chắc ông đang nhìn tôi đăm đăm.

Tôi đặt tay lên miếng kim loại âm ấm vì nằm trong lòng tay ông ta, thấy cả hai mặt nhẵn thín, không khắc tên. Cuối cùng tôi nói:

– Không có tên…chắc là một cái thẻ bán ngoài chợ.

Nhưng ông ta lắc đầu:

– Tại cậu không biết  đó thôi, tôi tin chắc là tấm thẻ bài này là của bức..tượng đó, bức tượng đã hiện ra…để cứu mạng tôi đêm trước!

Ông đốt thêm điếu thuốc trong khi lòng tôi phân vân vì lời ông vừa nói.

Sau mấy hơi thuốc liên tiếp, ông yên lặng, hơi cúi đầu, như ngắm cái thẻ bài trong đêm, rồi khẽ nói:

– Tôi tin như thế. Nhưng điều quan trọng là từ ngày đó, tôi đã hiểu và hết thắc mắc vì sao…người dân miền Nam đã hết lòng thương tiếc những người lính Cộng Hòa của họ. Những người lính nàyï rất khác chúng tôi…ở lòng độ lượng và nhân lành. Tôi đã được cứu cũng nhờ cái tinh thần bác ái đó.

Ông rít thêm một hơi dài nữa trước khi vất mẩu thuốc xuống biển:

– Đó là lý do khiến tôi quyết định đưa gia đình tôi ra đi…!

Sóng vỗ, gió biển ào ào cũng không át nổi tiếng của ông ta và tôi đã nghe được tới lời cuối cùng của câu chuyện cái thẻ bài không tên đó.

HỒ LINH

KHÉP MẮT BÌNH MINH-Ch1-13

  HỒ LINH

                        KHÉP MẮT BÌNH MINH       

     Đôi lời trần tình:

    Tác phm Khép Mt Bình Minh xut bn cách nay gn 15 năm (1998), không còn trên th trường sách báo. Vì thế, mt s rt đông người Vit ti nn ri khi Vit Nam sau này chưa đc tác phm. Chúng tôi thiết nghĩ, vn đ mà tác phm đưa ra t thi đó đến nay hu như vn còn đó. Mun tái bn, sách giy tn kém cho đc giả, vì ít ra, cũng phi bán ti 18, 20 M Kim mt cun. Tuy nhiên, chúng tôi mun tác phm có cơ may ti được đi chúng, nên không ngn ngi đưa lên mạng  nhà đ mi người đc không phi tn phí. Nhưng trước khi Chương Th Nht xut hin, xin mi quí đc gi đc trước bài góp ý ca bình lun gia lão thành Sao Bin dưới đây.

San Jose ngày 14/09/2013

Hồ Linh

CHƯƠNG I

      Trời mưa như trút nước.

    Dẫy hành lang nhà quàn vắng vẻ. Một nhạc khúc cổ điển Requiem của Beethoven từ những chiếc loa gắn trên tường nhè nhẹ vang lên trong thinh lặng. Gần cửa nhà nguyện một vài người đi lại. Thỉnh thoảng họ trao đổi với nhau vài câu khe khẽ. Bên trong, hai chiếc quan tài đặt nằm song song dưới bức tượng thánh giá lớn được treo trên tường mầu xanh đậm. Tượng Chúa Giê-su đội mão gai, mặt đẫm máu, thiểu não, gục nhìn xuống, như muốn chia xẻ nỗi đớn đau với hai xác người bất động.

Phía trước quan tài, một chiếc bàn thấp, trên bầy hai bức ảnh bán thân của hai thanh niên, mắt sáng long lanh. Ở giữa bàn, một bát nhang với ít chiếc chân nhang mầu đỏ, dăm cây còn cháy, khói bay nghi ngút. Sát hai bên tường, mấy vòng hoa phúng viếng đặt trên giá gỗ, xếp hàng ngang hai bên. Những chiếc băng mầu tím với hàng chữ nổi bật chạy ngang các vòng hoa. Hương hoa lẫn khói nhang tạo nên một mùi thơm đặc biệt bay khắp nhà nguyện rộng lớn với hai hàng ghế  gỗ nâu sậm chạy dài tới cửa ra vào. Người nhà hiếu, áo trắng khăn tang ngồi chưa hết băng ghế đầu cùng. Đầu ghế bên kia, một vị linh mục mặc lễ phục mầu trắng, giây stola tím quàng trên cổ, chạy hai hàng trước ngực. Trong vắng lặng, ngài đang đọc những trang sách được mở hững hờ trên tay.

Người đàn ông trung niên mặc bộ đồ mầu xám, đầu chít khăn tang trắng, đang lăng xăng quanh đấy. Từ ngoài, có tiếng nói khẽ, nhưng rõ ràng:

– Thầy tới.

Người đàn ông lật đật đi ra.

Cửa đàng trước mở, mưa gió tạt vào tới nửa hành lang làm ướt một khoảng thảm mầu vàng chết. Từ ngoài, một bóng áo vàng xuất hiện bên thềm. Chiếc ô sũng nước được gấp lại.

– Thầy!

Vị hòa thượng, đầu đội mũ lên nâu vừa dựng chiếc ô bên tường, vừa hớt hải nói:

– Mấy giờ động quan? Thầy đến có muộn không?

Người đàn ông hai tay nắm lấy tay phải lạnh ngắt của vị hòa thượng:

– Bạch thầy, đúng ngọ là giờ lành. Còn tới gần một tiếng nữa. Mời thầy vào trong này.

Người đàn ông hướng dẫn vị hòa thương vào nhà nguyện. Hai người tiến tới bên vị linh mục.

Người đàn ông đến bên, khẽ nói:

– Thưa cha…Thầy…

Chưa nói hết câu, linh mục đứng bật dậy, đưa tay bắt tay vị hòa thương:

– Chào thầy.

Vị hòa thượng cũng nắm chặt tay linh mục:

– Thưa cha.

Rồi ngài quay lại nhìn hai chiếc quan tài, khẽ nói:

– Xin phép cha…

Ngài tiến đến trước bàn thờ có di ảnh của hai người chết, đốt ba nén hương, đứng nghiêm trang vái ba vái, rồi cắm chúng vào chiếc bát nhang. Mỗi vái của khách, trong hàng ghế đầu, người trong nhà hiếu cũng vái trả lại. Trước khi rời gót,  hòa thượng hướng về phía nhà hiếu, vái thêm một vái dài. Sau đó, ngài tới ngồi xuống bên vị linh mục. Hai người thì thầm nói chuyện.

Mưa vẫn tầm tã rơi như không muốn dứt. Mới có vài người vào nhà nguyện. Họ đều lặng lẽ tới thắp hương lễ di ảnh hai người quá cố, rồi không đợi ai mời, tự tìm chỗ ngồi trong hai hàng ghế dài rộng thênh thang.

Gần đến giờ di quan, người dự tang lễ vẫn chưa ngồi hết hai băng ghế, khiến nhà nguyện đã rộng, càng trở nên trống vắng hơn. Không một tiếng khóc, nhưng sự thương tiếc hằn in trên mặt của từng người khách. Trong một lúc nào đó, một người thanh niên từ ngoài vào, trên tay một lá quốc kỳ mầu vàng, ba sọc đỏ, không lớn hơn mặt bàn, cán dài, tiến lên tận chỗ để quan tài, tìm nơi cắm để lá cờ có thể rủ xuống để ai cũng nhận ra.

Mười hai giờ đúng, vị linh mục và hòa thương rời chỗ ngồi. Có tiếng động ghế của tất cả khách trong nhà nguyện khi đều đứng lên.

Người làm của hãng chung sự từ ngoài vào. Họ đền mặc đồ đen có viền nẹp thắng, đầu đội mũ vành rộng, tiến lên vây quanh hai chếc quan tài. Linh mục và hòa thượng lại bên hai quan tài. Vị linh mục khẽ đọc một đoạn sách, rồi vẩy lên quan tài nước phép từ trong một chiếc lọ bằng ni-lông. Trong khi đó, vị hòa thượng miện hương, rồi xông khói lên trên quan tài.

Sau đó, hai vị lùi ra, nhường chỗ cho đám người lo chung sự. Bằng những động tác mau lẹ, họ đậy áo quan lại, gài khóa, đóng thêm mấy chiếc đinh nữa trên nắp quan tài. Tiếng búa nện vang trong không gian khiến những người hiện diện không khỏi rùng mình…

Cửa bên hông mở, mỗi quan tài có sáu người khiêng ra hai chiếc xe tang đã đậu bên đường.

Bầu trời xám ngắt, gió vẫn lồng lộng, mưa không ngớt.

Một xe chất lèo tèo mấy vòng hoa, đi đầu với lá cờ vàng ba sọc đỏ, tiếp theo là xe tang và hai vị tu hành.

Những người trong nhà nguyện lần lượt dời chỗ. Các xe lăn bánh, hướng về phía ngọn đồi thấp trước mặt. Số người đưa ma chầm chậm đi theo hai xe tang, không đủ để tạo thành một hàng, mà chỉ bám theo đuôi hai xe. Ba bốn cái dù chao chao, như muốn bứng đi theo từng cơn gió giật.

Mưa vẫn rơi, xe tang không thể không đi…vì đây là giờ lành. Vì thế, người đưa đám phải đội mưa, che gió đi theo quan tài dọc con đường dài chưa tới một mile, nhưng cảm thấy xa, tưởng  như không bao giờ tới.

CHƯƠNG II

  Hùng ngả lưng trên ghế, mắt nhìn vào màn ảnh TV nhưng chẳng biết trên đó chiếu chương trình gì, vì đầu óc ông đang đầy những câu hỏi về sự về nhà quá chậm trễ của đứa con gái lớn.

Lẽ ra, theo giờ giấc thông thường thì Thúy đã phải ở nhà vào khoảng mười giờ rưỡi tới mười một giờ đêm. Thúy làm việc trong văn phòng của một vị dân biểu tiểu bang. Sắp tới mùa bầu cử, nên đôi khi có những việc bất thường, nhân viên phải ở lại làm thêm giờ. Nhưng lúc mười giờ rưỡi, Hùng có gọi vào nơi Thúy làm việc, thì không ai bắt điện thoại nữa, văn phòng đã đóng cửa!

Hùng kiên nhẫn quay điện thoại một lần nữa. Vô ích.

Tuyết ngồi bên cạnh, thỉnh thoảng nhìn đồng hồ, rồi rít lên:

– Con đĩ, lê lết nhà đứa nào thì mười hai giờ, một giờ cũng phải về cho người ta nghỉ ngơi chứ.

Nghe những lời đay nghiến của vợ, Hùng không khỏi bất nhẫn trong lòng. Nhưng cũng không trách bà ấy được vì nỗi lo lắng thực sự đã làm cho hai vợ chồng không thể lên giường nhắm mắt.

Quá một giờ khuya, Tuyết đứng dậy, nói:

– Phải đến chỗ nó làm xem sao…

Hùng ngần ngại, nói:

– Gọi điện thoại vào, có còn ai ở đó đâu.

– Không, cứ đi thử xem sao.

Hùng uể oải đứng lên lấy chìa khóa xe. Tuyết gọi thằng con trai, em Thúy, dặn:

– Bố mẹ đến sở làm của con Thúy, mày ở nhà để ý điện thoại…có thể nó gọi về.

Suốt dọc đường, hai người chong mắt nhìn những chiếc xe chạy ngược chiều xem có cái nào giống xe của đứa con gái không.

Hùng nhắc nhở vợ, nhưng cũng như tự nói với mình:

– Để ý xem có cái xe nào chết đường không.

Phố đã vắng, khu downtown càng vắng vẻ hơn. Xe ngưng lại trước khung cửa sắt đóng kín. Hia người đúng ngoài nhìn vào cái hành lang tối om, lòng vô cùng thắc mắc.

Tuyết quay ra xe, vừa hỏi:

– Anh có biết nó thường đậu xe ở đâu không?

Hùng thấy Tuyết có lý. Biết đâu vì hư xe, Thúy phải về nhờ xe của người bạn nào đó, và còn ở lại chơi với người ta để đợi họ chở về. Hùng nói nhanh:

– Ở đàng này…

Hùng lên xe, lái quẹo vào phố có bãi đậu xe cách đó một ngã tư. Nhưng từ xa, hai người đã thất vọng vì ở đó đều vắng vẻ trống không.

“Bây giờ đi đâu?” Câu hỏi hình như xuất hiện cùng một lượt trong đầu óc của cả hai người khiến chân ga của Hùng hơi buông ra. Xe chạy chầm chậm như vô định hướng.

Một xe cảnh sát xuất hiện trong kính hậu, Hùng vội cho xe táp lề đường. Anh mở cửa xe, đưa tay vầy. Biết có người muốn nói gì, chiếc xe đen bóng loáng của hai người cảnh sát ngưng lại bên Hùng, một người nhìn qua cửa sổ xe, hỏi:

– Anh cần gì vậy?

Hùng cố gắng giải thích:

– Con gái tôi đi làm, đã không về nhà đúng giờ. Tôi có ghé qua sở của nó, nhưng không còn ai ở đó…

– Bao lâu rồi?

– Lẽ ra, nó về nhà chừng mười giờ ba mươi.

Người cảnh sát nói nhanh:

– Sau hai mươi bốn giờ, nếu không có tin tức gì…thì anh kêu số điện thoại này.

Vừa nói, anh ta vừa đưa cho Hùng một cái card mầu đỏ, lớn bằng bàn tay, rồi định rồ máy đi. Hùng gọi giật lại:

– Cho tôi hỏi…từ tối đến giờ…có tai nạn nào xảy ra ở vùng này không?

Tuy biết câu này hơi thừa…vì nếu Thúy bị nạn, chắc chắn cảnh sát đã báo về cho thân nhân rồi. Biết thế, nhưng Hùng vẫn hỏi. Người cảnh sát lắc đầu, trả lời ngắn gọi “Không” trước khi rồ máy đi thẳng.

Hùng trở vào xe, nói với Tuyết:

– Sau hai mươi bốn giờ mới được báo cáo với trung tâm tìm người mất tích. Tối nay…không có tai nạn nào ở vùng này…

Hùng khẽ lắc đầu nhìn theo hai đóm đỏ của đèn sau chiếc xe cảnh sát vừa khuất khi quẹo sang con đường khác nơi ngã tư trước mặt. Cảnh sát nào cũng thế, họ có cái lạnh lùng của một ông bác sĩ trước sự nguy kịch của con bệnh! Hùng nhớ tới vụ mà trước đây báo chí Mỹ gọi là A race against time. Trong vụ này, một cô gái giang hồ tên Lydia đang đêm là nạn nhân của một vụ hỏa hoạt của một tòa bulding, ôm đứa con gái nhỏ cùng cô em chạy tới xin lánh nạn tại một motel trong tỉnh. Vài hôm sau, tại một khu buôn bán trong xóm, cô này và thằng chồng lãng tử và một thằng bạn khác bắt cóc Sarah, cô con gái thứ ba của ông bà Porter, chủ motel mà cô ta vừa mới rời đi, và bắt cô gái dùng xe của mình đưa bộ ba này rời thành phố. Giữa đường, Sarah tìm cách bỏ xe, chạy trốn trong một khu xây cất. Hai tên lãng tử đuổi theo cướp lại chìa khóa xe và xô cô xuống vực thẳm. Ngày hôm sau, cha mẹ và hai chị của Sarah báo cho cảnh sát biết sự mất tích của cô. Nhưng, cảnh sát đã lạnh lùng cho họ biết là chưa đủ thời gian vắng mặt để họ mở cuộc điều tra. Qua ngày hôm sau, cảnh sát vẫn từ chối giúp đỡ, dù người cha đã cho biết là tìm được cái xe của Sarah. Người chị của Sarah cầu cứu tơi giới truyền thông, cũng bị thừ chối loan tin. Mãi cho tới ngày thứ ba, sau khi năn nỉ mãi, giám đốc đài mới bằng lòng loan tin. Tuy nhiên, gia đình Sarah đã không ngồi chờ trức sư lâm nguy của con mình, tự đi điều tra, tìm kiếm bằng những phương tiện riêng. Nhờ cô Danielle em của Lydia, là người lương thiện đã liên lạc với cha của Sarah nên sau một phen chiến đấu sinh tử với bọn bắt cóc, gia đình Sarah đã tìm thấy cô đang nằm bất tỉnh dưới vực sâu trước sự ngỡ ngàng của cảnh sát.

Tuyết thêm một cố gắng:

– Đi vòng vòng khu này…xem có xe nó không…rồi có về thì về theo xa lộ…biết đâu nó chết xe ở đấy.

Hùng biết nếu có chuyện đó thì…từ khúc đường xa lộ này tới nhà ông, đi bộ cũng không lâu quá một giờ…Tuy nhiên, ông không bác bỏ ý kiến của vợ. Xe lướt mau qua những khu phố vắng vẻ…Những chiếc xe mầu đỏ, loại nhỏ đều được hai người chú ý. Nhưng cuối cùng cũng không thấy xe của Thúy. Ngồi trên xe, nỗi thất vọng và niềm lo lắng tràn ngập trong lòng hai người. Ở đất nước này, không có sự gì mà không có thể xảy ra. Nạn nhân bị bắt cóc có thể là bất cứ ở lớp tuổi nào, và đa số là con nít…và các thiếu nữ! Với người như Thúy, không thuộc gia đình người bản xứ tiếng tăm hay giầu có…thì mục đích chúng bắt cóc chỉ là…để hiếp dâm. Nghĩ tới đó, lòng Hùng nhói đau…tâm thần trở nên hoang mang…

– Kia có cái xe đỏ…

Lời Tuyết la khẽ…làm tay chân Hùng luống cuống. ông lật đật đạp thắng khiến Tuyết nhồi người về phía trước. Bà ta la lớn hớn:

– Anh lái xe gì kỳ vậy…đàng kia kìa…đã tới đâu.

Hùng cầm trí cho xe đi vào đường trong cùng, rồi từ từ đậu lại sau chiếc xe đỗ bên lề cỏ. Pha đèn chiếu

sáng phần sau của cái xe đó…giúp cả hai nhận thấy không phải xe của con mình. Hùng lặng lẽ cho xe trở ra xa lộ để về nhà.

– May ra…trong thời gia mình đi, con nhỏ đã về nhà…

Một hy vọng mong manh Hùng chia xẻ với vợ. Tuyết vừa lo…lại vừa giận con gái, giọng hậm hực:

– Nó ở đâu…thì cũng phải liên lạc về nhà chứ…Đây là Mỹ chứ có phải là ở Ba-mê-thuật đâu…Nó coi mình không ra gì…Mặc mẹ con đĩ…

Nói thế, nhưng lòng Tuyết vẫn nóng như lửa đốt!

Trước cửa nhà trống trơn…Hùng thất vọng quá, thở dài:

– Thực không biết nó ở đâu đây…

Câu than quá thừa…

Thằng Duy ra mở cửa với cái ngáp dài.

– Nó có gọi về không?

Duy yên lặng lắc đầu. Hùng thở dài. Tuyết rít lên:

– Con khốn nạn…

Ba giờ sáng! Tuyết ngồi thừ. Hùng bật TV như một thói quen. Một đài nào đó đang chiếu một phim đen trắng cũ rích. Anh không cần biết phim hay hay dở…mà chỉ cần trong nhà…có tiếng động…để cho bầu không khí đỡ nặng nề.

– Em đi ngủ đi…để anh ngồi chờ nó.

– Hừ chờ…

Nói thế, nhưng Tuyết không đứng lên để vào phòng ngủ.

– Con gái thối thây…đi đêm đi hôm như vậy…người ngoài người ta biết…thì đẹp mặt cả lũ.

Hùng biết Tuyết đang cơn nóng giận…nhưng ông cũng cố gắng giải thích:

– Nó cũng hăm mấy rồi…biết đâu vì việc nọ, việc kia..nó không thể về được thì sao?

– Cái điện thoại ở đây dùng làm gì? Nó ngu lắm sao…chỉ là nó không muốn hoặc bị thằng nào nó kẹp cứng mất rồi…

– Em chỉ nói quá cho nó…Con mình cũng đâu đến nỗi nào.

– Hừ…để ễng bụng ra đó rồi mới hay sao…Cũng tại anh thôi…

Hùng thấy câu chuyện sắp sửa sang một chỗ rẽ…nên nén bụng ngồi yên, mắt thao láo nhìn lên màn ảnh TV.

Tuyết không thấy Hùng ra lời, nàng bồi thêm một câu:

– Cứ nghe lời…của nó…Giá anh cứng rắn ngay từ đầu thì đâu đến nỗ!

Từ đầu…là từ lúc nào đây. Ông cũng dạy dỗ con cái từ khi chúng còn nhỏ dại. Nhưng…càng lớn lên…ông càng cảm thấy có sự khác biệt rõ rệt trong lối suy nghĩ của các con. Những sinh hoạt trong trường hình như có những gì không đồng điệu với nếp sống của gia đình.

Thời mới sang Mỹ, làm trong một trung tâm lo việc cho người tỵ nạn, Hùng đã từng giúp những cha mẹ Việt nam…khi họ gặp những trở ngại không ngờ được vì không thấu hiểu luật pháp và nhất là văn hóa nơi này. Một ông đang đêm dựng anh dạy…vì đuổi đánh thằng con đi chơi tới hai ba giờ sáng mới về…bị thằng con phản pháo gọi 911 can thiệp…khiến ông bố bị lôi thôi. Lại một bà mẹ “dám” mở thư của một thằng con trai nào đó gửi cho con gái ra đọc, con nhỏ giận mang chuyện này phàn nàn với bà giáo…khiến bà mẹ bị nhà trường mời tới “làm việc” với một hội đồng kỷ luật nhà trường có cả sự tham dự của một cán sự xã hội. Một ông bố khác bị con tố cáo với nhà trường là khóa cửa không cho nó vào nhà…vì nó thường bỏ đi chơi sau mỗi buổi đi học về. Với vai trò một “cố vấn” cho người tỵ nạn, Hùng đã từng binh vực cho những người làm cha, làm mẹ Việt Nam bị rắc rối do sự khác biệt văn hóa quá sâu đậm giữa hai bên. Thời đó, con cái của anh còn quá nhỏ, anh nghĩ mình cố gắng giáo dục bọn chúng từ đầu…sẽ có thể tránh được những điều đó. Nhưng, càng về sau, Hùng càng nhận ra ảnh hưởng của học đường Mỹ, với một khoảng thời gian đáng kể trong ngày mà bọn trẻ sống, chúng đã tiêm nhiễm vào lúc nào không hay. Thời còn nhỏ, chúng không dám có những phản ứng tích cực, nhưng càng lớn lên, sự bày tỏ thái độ càng  trở nên rõ ràng và mãnh liệt. Những câu chống đối nhẹ nhàng như  “Chúng con lớn rồi…” “Mình ở đây chứ đâu phải ở Việt Nam…” để không thi hành những kỷ luật hay lề thói của một gia đình Việt Nam. Những ràng buộc đó, nhiều điều ở Việt Nam mình coi là một phong tục tốt hay một lề thói hay…mà tại Mỹ lại trở Thành “abuse”, có thể hiểu như là một áp chế. Một thí dụ điển hình đã xảy ra trong gia đình Hùng…là việc đi làm đêm, đi chơi về muộn của Thúy.

– “Những con gái nhà nề nếp Việt Nam không bao giờ đi chơi về trễ…Sau tám giờ tối…chỉ còn những hạng điếm đàng mới lang thang ngoài đường”

Đó là câu nói của Tuyết dùng để trách mắng Thúy mỗi khi nó đi chơi về khuya.

– “Mẹ ơi, ở đây chứ đâu phải ở Saigon của mẹ…Ban đêm..mẹ thử lái xe ra đường xem…biết bao đứa con gái như con đi ngoài đó…bộ họ hư hỏng cả sao? Ở đây có những việc người ta phải ra ngoài vào ban đêm là thường…kể cả việc đi thăm bạn bè…vì lúc ban ngày người ta không có thì giờ…Sống ở đâu, mẹ phải theo nơi đó chứ!”

Hùng ôn tồn và cứng lý hơn:

– “Bố mẹ chỉ lo con gái ra đường lúc đêm khuya…dễõ gặp bất trắc lắm.. Ở đây…cái gì cũng có thể xảy ra được. Lo là lo cho con thôi”

– “Bố mẹ khỏi lo…con lớn rồi…con có thân, con biết lo cho mình chứ…”

Tuy thế, mỗi khi Thúy đi ra ngoài, Hùng cố gắng nhắc nhở tớùi nỗi quan tâm của mình, Thúy lại khó chịu nói: “Bố à…con hai mươi mấy tuổi rồi…có phải trẻ nít đâu mà bố cứ nói hoài vậy?”

Bây giờ, phải chăng nước đã vỡ bờ nên Thúy đi không một lời nói trước. Mua cho nó cái beeper, nó cũng chẳng dùng…vì “mang theo…mẹ cứ gọi tối ngày à!”. Điều đó là sự thật.

Thời gian nặng nề trôi, nhưng tai của Hùng cố gạn lọc những tiếng động chung quanh để chờ đợi tiếng máy xe hơi ngừng ở trước nhà, nhưng tuyệt nhiên không có.

Tuyết nằm yên trên ghế xa lông, nhưng Hùng biết vợ cũng không ngủ, ông lờ đi, không nói năng gì để khỏi phải tranh cãi vô ích.

Trên TV, cuốn phim đen đã chấm dứt từ lúc nào Hùng cũng không hay, thay vào đó là một cuốn phim

cao-bồi mầu vàng và nâu nhòe nhoẹt, cũ rích, ông cũng chẳng đổi đài. Ước vọng từ ngày chấp nhận cuộc đời tị nạn tại xứ người để con cái học hành nên người, thì vinh quang chưa thấy đâu, sự bất hòa trong gia đình đã nhen nhúm, nếu không có cách gì hữu hiệâu dập tất, nó sẽ biến thành cơn lốc vũ bão trong tương lại không xa.

Tiếng nhấn còi xe vô ý thức của người hàng xóm làm Hùng choàng thức giấc. Thì ra ông cũng chợp mắt được một lúc.

Ngoài vườn, chim kêu nhem nhép hòa lẫn với tiếng ì ầm của xe cộ chạy trên cái xa lộ gần nhà tạo thành một thứ âm thanh tẻ nhạt của mọi buổi sáng, nó không đem đến cho ông một chút hứng khởi nào.

Trời hừng đông. Bên ngoài cửa sổ, không gian đã trắng dần, thay thế cho mầu vàng nghệ, thứ ánh sáng của mấy bóng đèn đường bên ngoài bờ giậu. Hùng buồn bã đứng dậy, vuôn vai, rồi ra bếp đặt ấm nước. Trong lúc chờ nước sôi để pha cà phê, ông vén màn cửa trước nhìn ra khoảng sân trống vắng trước garage mà lòng nặng niềm lo lắng. Tới giờ này cũng chưa về…không biết nó đang ở đâu? Mười giờ sở nó mới mở cửa. Mình phải tới đó xem sao. Còn tới hơn ba giờ nữa!

Tuyết thức giấc với câu rủa: “Con khốn nạn thật!”.

Hùng không để ý tới lời nói của vợ. Ông lặng lẽ pha hai ly cà phê, mang tới cái bàn nhỏ đặt trước mặt vợ, rồi ngồi xuống một bên, bưng ly của mình nhấm nháp.

Tuyết không buồn để ý tới ly cà phê của bà, miệng tiếp tục lầu bầu với mấy câu chửi rủa quen miệng. Hùng lờ đi cho yên chuyện.

Thằng Duy trở dậy, như một cái bóng mờ nhạt, thoăn thoắt đi lại trong phòng.

– Còn thằng này nữa…mày muốn đi đâu thì đi đi cho tao nhờ…Ở đây mà cứ như thế này…thì tao cũng chết sớm vì lo lắng thôi.

Tuyết nhìn theo Duy, đay nghiến.

Duy không nói gì, khoác vội túi sách vở, lặng lẽ mở cửa ra ngoài.

Hùng biết tính thằng con trai. Nó khác con Thúy là không có cãi, mà chỉ tỏ thái độ bằng hành động. Nó không bao giờ nói ở đây thế này, ở Việt Nam thế kia. Chửi riết, nó bỏ vào phòng hoặïc ra nằm ở ngoài bải cỏ sau vườn. Hùng có cảm tưởng như nó cố gắng chịu đựng để đợi tới ngày…nó có thể “move out”. Với tình hình này…Tuyết có thể khiến cho các con…mất cảm tình với… những gì mang cái nhãn hiệu “Việt Nam”, vì cái nhãn đó luôn luôn đóng lên những lối sống, cách suy nghĩ xa lạ và khó chịu đối với chúng, và thường mâu thuẫn với những gì nó được nghe ở nhà trường. Khó chịu từ việc “nhỏ” như khi khách vào nhà, chúng phải ra cúi đầu chào…trong khi từ ông hiệu trưởng tới các giáo sư, khi gặp chúng chỉ cần nói một chứ “hi!” ngắn gọn, nói chi tới lối sống tự lập, khỏi phải ràng buộc với người nọ, người kia trong khi bố mẹ thì cứ nhắc nhở tới đoàn kết, tới chung sống là nền nếp của một gia đình Việt Nam. Thời mới sang Mỹ, làm chung với đám sinh viên, Hùng thấy có nhiều sinh viên ra khỏi gia đình rất sớm…và có người hai ba năm cũng chưa về thăm nhà một lần mà họ cũng không mấy thắc mắc.

Chín giờ sáng, vợ chồng Hùng ra cửa tiệm, trước khi dán một mẩu giấy nơi cửa nhà, cầu may Thúy có về thì điện thoại gấp cho bố mẹ.

Chín giờ rưỡi, Hùng đang định tới sở của Thúy thì nó gọi tới, giọng rất thản nhiên:

– Bố cần gì con vậy?

Hùng mừng quá, nhưng cũng phải nghiêm giọng, hỏi:

– Hôm qua con đi đâu suốt đêm không về?

– Con đi Sacto với sở mà…

– Đi đâu thì cũng phải cho bố mẹ hay chứ? Suốt khuya hôm qua, mẹ với tao lái xe đi tìm, cả đêm không ngủ.

Giọng Thúy hơi gắt:

– Con nói với mẹ cả ba bốn tuần trước rồi…mà cần gì phải tìm chứ…

Hùng quay lại bàn Tuyết ngồi, nói vọng sang:

– Nó bảo đã nói với em mấy tuần trước rồi…

Tuyết gắt:

– Ba bốn tuần trước sao mà nhớ…trước khi đi cũng phải nói chứ…gì nó cũng cãi được.

Hùng nhấn mạnh trong câu sau cùng:

– Dù sao trước khi đi con cũng phải nói lại với bố mẹ…

Bên kia, Thúy yên lặng, cúp điện thoại. Hùng tuy bực mình, nhưng mừng thấy nó đã tới nhà bình yên, nên cũng không la mắng gì nữa.

Buổi trưa, Tuyết vẫn còn ấm ức về việc con Thúy đi qua đêm, mang chuyện phàn nàn với vợ luật sư Hàm, người thường chia xẻ chuyện khó khăn gia đình với bà :

– Đấy chị xem…mấy đứa con của cậu mợ nó ngoan ngoãn như vậy…Được bảo lãnh sang đây là học hành đàng hoàng, không bè không bạn, chịu thương chịu khó lo việc gia đình…

Hằng, vợ Hàm cười:

– Chị ơi, con Hạnh nhà tôi có hơn gì con Thúy nhà chị chứ…Nó làm tôi điên đầâu đây này…Dẫn thằng Mỹ to như hộ pháp tới nhà đòi lấy bằng được…Mấy bữa nay anh Bình anh ấy mất cả ăn cả ngủ…Trong phòng nó không khác gì cái đóng rác ngoài đường, quần áo, sách vở ngập cả lên…không có một chỗ đặt chân…Con với cái lối đâu mà khốn nạn đến thế…

Tuyết hừ trong họng, góp lời:

– Phòng con Thúy nhà này cũng hệt như vậy…Tôi bảo hàng “ngàn lần”, nó cũng không dọn…đến khi mình giúp nó thì nó lại kêu ca…mất cái này…để sai chỗ cái kia…Chán rồi tôi cũng mặc xác nó…Mình hồi còn con gái đâu có mất nết như vậy.

Hằng kể câu chuyện như để an ủi nhau:

– Đấy, thằng cả con lão Khanh…mới bị bắt vì đi đánh cướp hãng điện tử đó…Gớm, con mẹ nó khoe…mới sang đây chưa tới ba năm…mà tháng nó lãnh lương tới năm sáu ngàn đô la…tấp tểnh mua nhà trên núi. Gớm, cháy nhà mới ra mặt chuột! Mình cũng còn có phước đấy bà ạ, con gái chưa làm đĩ, con trai chưa sì-ke, trộm cướp…

– Hừ phước…mai này nó vác cái bụng lên rồi mới thấy đó…Chỉ tại mấy cái ông nhà này không biết dạy con thôi.

Hằng cười thành tiếng:

– Bà ơi…ở đất nước này bốn mươi phần trăm gia đình là “single parent” đó bà…Người Việt mình đồ đốn đi bắt chước…cũng thiếu gì đứa sống kiểu boyfriend, girlfriend”, đẻ con hàng đốùng cũng không có lấy một cái giá thú đâu bàø…thì mình làm sao dạy tụi nhỏ?

Đó là một lối sống rất thông thường ở cái xứ tự do này, ta đâu có quyền bình phẩm qua cái lăng kính chủ quan của người mình. Sợ mấy bà bới chuyện thiên hạ, Hùng khẽ nói với Tuyết:

– Thôi vừa vừa chứ…chuyện người ta…hơi đâu mà bàn ra tán vào…

Đời sống mỗi ngày một mắc mỏ, tiền bạc kiếm mỗi lúc một khó khăn cũng là nguyên nhân khiến mọi người đều cảm thấy bực dọc…Vì thế, những chuyện bất hòa trong gia đình càng trở nên khó giải hòa.

Cửa hàng tạp hóa, sách báo của Hùng ở trong một khu thương mại nhỏ. Gần mười năm nay, Hùng đã thôi làm nghề điện tử, mở cửa hàng buôn bán kiếm sống qua ngày. Một thời, tưởng cái cửa tiệm này chết đến nơi vì sách báo tiếng Việt, những băng nhạc cũ càng ngày càng ít người mua. Nhưng, đột nhiên có làn sóng người mới từ Việt Nam sang qua chương trình ODP và HO, những người còn nguyên nhu cầu giải trí theo lối ở quê nhà…nên những món hàng này lại bán được. Rồi những băng nhạc mới, sách mới sáng tác ở hải ngoại, những cuốn Video ca nhạc, phim bộ Hồng Kông, Đài Loan được chuyển âm được bà con mới sang chiếu cố lại rầm rộ phát hành. Nhờ vậy, cửa tiệm của Hùng hồi sinh.

Người mình ít khi mang chuyện không hay trong gia đình nói với người khác. Nhưng ở đây, vừa là chỗ bạn thân, vừa buồn bực quá hết chịu nổi, hai bà mới tâm sự với nhau như thế.

Như chưa chia xẻ hết nỗi khổ tâm, Tuyết nói:

– Chiều chủ nhật này tới tui ăn cơm đi…nói với ông Bình giùm…

– Cũng được.

Hai người buông điện thoại. Tuyết thở dài:

– Chán đời quá.

Bình nghe vợ than, cũng khẽ thở dài. Ông nhớ lại những bài dậy khôn của mấy ông, mấy bà đăng trên báo chí về cách giáo dục con cái trong môi trường hải ngoại. Nào là phải dành nhiều thì giờ sinh hoạt trong gia đình với nhau hơn là tối ngày chỉ biết kiếm tiền “làm giầu”, nào là phải dạy con cái biết nói thông thạo tiếng Việt, nào là phải thân thiện với chúng như bạn bè để lấy niềm tin nơi chúng, hướng dẫn chúng biết giữ những gì là tinh hoa của nền văn hóa dân tộc và chỉ hấp thụ những cái hay của nếp sống văn minh vật chất ở nơi cư ngụ và nhất là đừng bao giờ quên “đất nước Việt Nam” thân yêu. Nói thì hay lắm, nhưng không biết các ông các bà đó đã áp dụng được bao nhiêu điều hay ho này trong gia đình của mình?

Công việc buôn bán trong cửa tiệm tấp nập vào sau trưa nên vợ chồng bình không còn thì giờ để nghĩ ngợi nữa. Sách Việt ngữ bây giờ cũng mắc mỏ, một cuốn tiểu thuyết hai trăm trang giá không dưới mười đồng, khách bỏ tiền ra mua, cũng phải chọn loại nào đọc cho vui và hấp dẫn. Vì thế, cuốn nào thiếu tình, thiếu “sex”

là khó bán, tiểu thuyết đã vậy, nói chi đến những đề tài có tính cách nghiên cứu hay văn học. Những loại “dâm thư” dưới hình thức nghiên cứu, y học xuất xứ từ Tầu, Nhật, Pháp, Mỹ đến Ấn Độ và của một vài bác sĩ Việt Nam viết, được xuất bản đầy dẫy là loại sách câu nhiều độc giả nhất. Những sách hồi ký về chiến tranh Việt Nam, tù cải tạo, tỵ nạn không còn nhiều độïc giả nữa. Đã đến lúc người ta muốn quên cái thời kỳ đen tối cách đây gần hai mươi năm. Những băng nhạc thuộc kỹ nghệ cassette hầu như bị giết chết bởi những CD Rom và những bài hát bình dân với những giọng của vài ca sĩ giống mẫu “Chế Linh, Duy Khánh” lại bắt đầu lấn lướt những ca khúc có nhiều nghệ thuật. Một số những bài của các nhạc sĩ ở Việt Nam, thuộc loại thứ nhất, được phổ biến rộng rãi trên các băng nhạc, trong những đại nhạc hội, được nhiệt liệt hoan nghênh, nhất là từ lớp người mới ở Việt Nam sang sau này khiến phong trào phổ biến loại nhạc này đi tới chỗ lố bịch. Cũng trong chiều hướng đó, mấy ca sĩ đi sau rất mau nổi tiếng. Hiện tượng này có lẽ vì những lớp người mới bỏ nước ra đi là những người còn nhiều nhu cầu giải trí bằng ca nhạc hơn và gắn bó chặt chẽ với những kỷ niệm thời ở nhà…trong đó có những bài hát và các ca sĩ đã một thời họ ái mộ, nên khi họ nghe lại, gặp lại những bài hát này, những ca sĩ này, họ dễ bị xúc động.

Hùng vừa gói xong một món hàng cho khách thì Thăng từ ngoài vui vẻ bước vào:

– Ông chủ bán hàng tha hồ mệt nhé…

Hùng cười gượng:

– Cũng tàm tạm sống qua ngày thôi.

Câu hỏi, câu đáp đều không có gì là thắm thiết lắm. Tuy nhiên, nó cũng là những câu thông thường mà người ta mới gặp nhau. Thăng thấy Hùng không bận nữa, đứng dựa vào quầy hàng, một tay chống nghiêng lên mặt tủ, nói:

– Không đầy nửa tháng nữa là ngày quốc kháng rồi đấy…năm nay bọn tôi mời ông tham gia vào ban tổ chức…

Hùng lắc đầu:

– Mấy năm mới sang đây, vùng này đâu có bao nhiêu người…thì tôi cũng tích cực hoạt động lắm đó…nhưng bây giờ…chúng ta đã có đủ các quan lớn quan nhỏ rồi…thì mình cũng nên rút lui đi thì vừa. Có rảnh thì đi biểu tình với anh em thôi.

Thăng lắc đầu:

– Cứ thế thì còn gì? Người tỵ nạn trong vùng…lên tới cả trăm ngàn…thế mà ngày kỷ niệm mất nước, người đi tham dự không quá vài ba trăm. Chuyện nước non, chuyện chống cộng hỏng cả rồi. Năm nào cũng chọn vào những ngày nghỉ thích hợp cho mọi người…chứ đâu có phải…

– Tôi nghĩ…từ rất lâu, chúng ta, những người tổ chức ngày ba mươi tháng Tư đã không thành công…vì..hầu như chỉ có một số nhỏ nào đó của đồng bào tham dự thôi…Chúng ta chưa bao giờ lôi được những ông bác sĩ, luật sư, những ông bà có cửa tiệm lớn, cửa tiệm nhỏ bỏ thì giờ làm ăn, du hí để tham gia. Khi ra đi, họ là người tỵ nạn…nhưng bây giờ…họ đã là công dân của nơi họ đang sinh sống…chuyện Việt Nam coi như thuộc về dĩ vãng…của chuyện ngày xửa ngày xưa.

– Họ chỉ là thiểu số…chẳng lẽ chuyện chống cộng chúng ta phải dẹp bỏ sao?

Hùng nói cho qua chuyện:

– Người ta nói…không phải chuyện chống cộng không còn nữa…mà người ta chống theo một phương thức mới…vừa văn minh, vừa quân tử hơn là cái trò  chỉ biết hò hét ngoài đường, nhất là những lần biểu tình chống phái đoàn này, nhân vật nọ từ Việt Nam sang như thời bốn lăm. Tỷ như vụ các anh biểu tình chống Thanh Lan đó! Bây giờ cô ta đi hát phây phây…có ai dám động đến lông chân cô ta đâu nào!

Thăng giận thật sự:

– Bậy…Mình không biểu tình chống để chúng nó tới đây khua môi múa mỏ sao. Còn cô ca sĩ…kia…nếu không biểu tình chống đối ngay từ buổi đầu…thì dễ gì cô ta xin tỵ nạn, mà trái lại, chắc chắn sẽ là cái loa tuyên truyền cho bọn cộng sản khi trở về Việt Nam. Bây giờ là người tỵ nạn rồi, ai còn chống với đối nữa.

Bỗng Thăng để mắt chăm chú nhìn mấy cái CD trong quầy, rồi giọng không vui:

– Này, băng của Hương Lan, của Nam Huy…nếu mọi người quyết tâm không bán, không phổ biến nữa thì đâu đến nỗi…bọn nó khinh khi mình như vậy.

Hùng thở dài:

– Chẳng phải chỉ có hai người này…về “hợp tác” với Việt Cộng…còn bao nhiêu ông bà tai to mặt lớn nữa…nếu phe ta cứ chống như vậy thì không còn thời giờ làm việc gì nữa đâu. Một người về Việt nam, không mặt này thì mặt khác, cũng mang ý nghĩa hợp tác với bên đó rồi.

Thăng vẫn giữ lý của mình:

– Nhưng bọn đó là những khuôn mặt cộng đồng…không thể muối mặt làm như vậy được.

Hùng không muốn kéo dài thêm tranh luận là việc mà anh rất ghét, nhất là không biết rõ rệt những ca sĩ này về Việt Nam hoạt động ra sao. Nếu vì tiền…bạc mà hát một vài buổi cho bọn cán bộ cao cấp thưởng thức…nhạc vàng thì cũng chẳng tệ hại hơn mấy ông Việt Kiều nịnh bợ bọn đó ít câu để…mong làm ăn kiếm sống. Một trong những nghịch lý hiện tại của người Việt ở nước ngoài…là trong khi có biết bao đồng bào vượt biên tới các trại tỵ nạn đang bị ép buộc trở về nước vì…họ không thuộc diện tỵ nạn chính trị…mà tỵ nạn kinh tế…có nghĩa là ở trong nước bây giờ làm ăn khó khăn đến độ có thể chết đói…họ đành phải liều đi kiếm một nơi khác bảo đảm đời sống hơn, thì một số đông người đã được tỵ nạn theo quy chế chính trị, nay lại nghênh ngang trở về để tìm đường “làm giầu” tại nơi mà trước kia họ đã bỏ đi vì có những nguy cơ cho mạng sống của mình, của gia đình mình.

Có khách mua hàng, Thăng không muốn làm phiền Hùng, nên mỉm cười, đưa tay bắt từ biệt:

– Dù gì, ông phải đi với anh em nhé.

Hùng cười xã giao, gật đầu:

– Đi chứ.

Tuyến từ nãy đến giờ chỉ đứng nghe, không góp lời nào. Đợi Thăng đi khỏi, bà mới thở dài, lắc đầu:

– Mấy ông đó thế mà…sướng, chả phải lo lắng gì tới đời sống…cứ việc ăn no rồi biểu tình với xuống đường…

Hùng biết vợ ám chỉ gì trong câu nói…Đây cũng là một trong những điểm mà phe tẩy chay biểu tình dùng để…đá giò lái phe bên này. Anh nhìn vợ, nhăn mặt:

– Đâu có phải ai cũng được lãng lương “Clinton” đâu…họ là người có tâm huyết đáng khen…chỉ tiếc là tình thế đã thay đổi…khiến phương thức đấu tranh của họ không còn bén nhạy nữa. Đừng vơ đũa cả nắm…Chỉ bẩn là có những thằng trước đây cũng lãnh eo-phe dài dài…nay may mắn, làm ăn khá giả đã vội lên mặt, nói móc, nói méo những người không cùng “đường lối” với mình thôi.

Anh thanh niên đang đợi trả tiền mua mấy cuốn băng Thanh Lan nghe Hùng nói, cũng góp bừa một câu:

– Cháu thích nghe Thanh Lan hát thực…nhưng hồi đó cháu cũng đi biểu tình chống cô ta…Nghe cô ta nói trên radio là ở Việt Nam cô ta làm một tháng mấy ngàn đô la …như vậy ngầm hiểu là những người Việt sang đây chỉ vì ở nhà không làm được như thế thôi!

Nghe cậu này lý luận, Hùng cũng bật cười, lắc đầu:

– Chỉ vì có một câu nói…phét như thế mà mình phải tổ chức biểu tình rầm rộ kể cũng quá đáng…Cái quan trọng của vấn đề là…sự đi, về của Thanh Lan…mang ý nghĩa “cởi mở, tự do” ở Việt Nam đã được thực hiện…để đốùi lại với những cáo buộc của thế giới bên ngoài…

Cậu thanh niên cười trừ, rồi lấy hàng, chào ra về.

Bỗng có một cái đầu bạc nhô lên khỏi quầy trưng bày sách, và một tiếng cười khẽ, tiếp theo một giọng khàn khàn:

– Lại chuyện chính chị chính em…

Hùng giật mình quay lại, nhìn ra người quen:

– Thưa cụ…

Ông cụ trạc bảy mươi, mặt xương, nhưng trông da dẻ hồng hào, khỏe mạnh. Tay cầm một cuốn sách vừa chọn xong, tiến ra trước mạt Hùng, để mạnh sách xuống mặt kính quày hàng:

– Nói những cái chuyện đó thì bao nhiêu ngày cũng không hết.

Hùng nói chữa:

– Thì thưa bác, mình bán hàng, khách nói chuyện gì, mình cũng dựa theo nói cho vui vậy. Ngày trước ở nhà…tiệm hớt tóc là nơi bàn chuyện chính trị xôm tụ nhất. Hồi đó, có một tờ nhật trình vẽ tranh hí họa một ông cổ còn quàng khăn, râu  mới cạo được một nửa đã tung cửa chạy ra ngoài, trong khi ông thợ hớt tóc, tay còn cầm “tông đơ”, chạy theo miệng há hốc, la: “Thôi, không nói chuyện chính trị nữa…”

Ông cụ gật đầu:

– Nhất là bây giờ…chuyện gì cũng đưa tới tranh luận…rồi từ tranh luận sang đến chửi bới, móc họng nhau…Nhưng nói cho cùng…cãi nhau cũng chỉ bằng ấy mạng…Nếu nói cộng đồng mình chia rẽ…thì quá đáng…mà đó chỉ là mấy ông…có cơ quan truyền thông, có hội nọ hội kia chia rẽ nhau mà thôi. Cuối cùng chỉ có thằng cộng sản là “ngư ông đắc lợi”.

Ông cụ chỉ vào cuốn Việt Sử đang để trên quày đợi trả tiền, nói:

– Rồi ông thấy…như chuyện ngày xưa…lúc nhà Minh dẹp xong nhà Hồ…nó đã mang lợi, danh ra dụ đám sĩ phu nhà mình…Tuy thế, có mấy ai được nó trọng dụng

đâu…nhưng cũng vì cái trò quỉ quyệt đó mà người mình chia rẽ nhau trầm trọng. Thằng Cộng sản ngày nay cũng vậy…các vị có bằng cấp bên này, nghe lời dụ khị theo nó…nhưng cuối cùng cũng chỉ là trò ve vãn…Thử có vị nào xin được về phục vụ xem…sức mấy mà nó dùng…Đàn em, đảng viên của nó để cho ai!

Thấy ông cụ lại đi quá xa…những chuyện thông thường rồi, Hùng cũng chỉ đưa đẩy lấy lệ:

– Vâng, cụ nói rất phải.

Vừa nói, anh vừa tính tiền và gói sách. Trước khi đi, ông cụ còn nhấn mạnh một câu:

– Rồi ông xem…tôi nói có đúng không.

– Dạ…dạ.

Nếu gặp một ông “hòa hợp, hòa giải” thì hôm nay có thể lại có cuộc tranh luận to tiếng ngay.

Nghĩ đến đó, Hùng bất chợt nhìn ra một người đang trả tiền bên quầy của Tuyết. Anh này cười, lắc đầu nói với hai người:

– Cụ này chắc là đoàn viên của Lê Hữu Dản chăng…Băng Bô lão cảm tử chống Cộng…cũng còn phải xin phép Hà nội rồi mới hành sự…thì con cháu của các cụ đâu có dám làm gì khác hơn. Nói thì dễ lắm…nhưng diệt tới thằng Cộng sản cuối cùng đâu có dễ như vậy…Mà không diệt được thì…hòa giải là thượng sách chứ còn gì nữa.

Đi qua chỗ Hùng đứùng, anh để nhẹ một câu:

– Cứ xem Mỹ…thì biết…bang giao đến nơi rồi…phải không anh.

Hùng chỉ cười. Vừa nghĩ tới Tào Tháo…là Tào Tháo tới ngay! Nhưng Hùng lạ một điều…là những ông “hòa giải, hòa hợp” rất ít khi lộ chân tướng bằng lời nói như anh chàng này, họ hay hành động một cách thầm lặng!

Tuyết nhìn theo người khách, thở dài:

– Riết rồi tiệm mình trở thành Vietnamse American Politic Forum mất thôi…Anh sửa soạn làm MC đấy nghe.

Hùng hết cười nổi câu nói diễu của vợ, lắc đầu, lơ đãng nhìn ra ngoài. Ông nghĩ…mình thì còn làm được gì chứ…Có vài đứa con trong nhà cũng chẳng dạy dỗ ra hồn…huống chi chuyện nước chuyện non. Ông băn khoăn mãi về cái ước nguyện khi bỏ nước ra đi…là mong sao nhờ đó mà hai đứa con học hành nên người. Ngày đó, ý nghĩa “học hành nên người” nó rất là giản dị…không khác hơn sự đỗ đạt bằng này, cấp nọ…ăn nên làm ra…Nhưng bây giờ…bằng cấp…tiền bạc thì không thành vấn đề, trước sau rồi chúng cũng sẽ đạt tới…mà chỉ như vậy không đủ, điều quan trọng là làm sao để nên người… Nói khác hơn là nên người theo “kiểu tây”, “kiểu ta” hay là “vừa tây vừa ta”  với đầy rẫy những mâu thuẫn thì thực khó nói. Chữ  “tây” để chỉ chung những quốc gia mình định cư. Vì vậy, nên người theo “kiểu ta” có một mẫu số chung, còn “kiểu tây” thì mỗi nơi có thể quan niệm một khác…kể cả những nước văn minh giống nhau…như Mỹ với Âu Châu. Do đó, cái ước nguyện ngày trước…không phải là dễ thực hiện và sự may mắn trong cuộc tỵ nạn này chưa hẳn là đã tốt như mình tưởng.

Có biết bao gia đình Việt Nam tỵ nạn có con đậu bác sĩ, luật sư, kỹ sư…tiền vào như nước, đã vội thỏa mãn…dù các ông con, bà con đó nói tiếng Việt không

rành, mặt ngửa lên trời, chẳng biết cô chú bác chung quanh để một năm ít nhất là một lần tới thăm hỏi trong ba ngày Tết gọi là giữ lấy một chút ít truyền thống, chứ đừng nói chi đến những chuyện xa vời…như tình tự dân tộc, lòng yêu quê hương xứ sở, hãnh diện vì nguồn gốc giống nòi.

Về chiều, khách đông một thời gian ngắn, rồi vắng hẳn. Hùng uể oải dọn đẹp cửa tiệm, sắp lại mấy ngăn sách bị khách hàng lấy ra xem rồi vất bừa lại. Những cuốn sách về tình dục, dù đã bọc bao ny-lông cũng vẫn bị moi ra xem cọp. Hùng lắc đầu…chán nản khi thấy những loại này chiếm cả một kệ sách bốn tầng. Không thể trách ai được, trẻ cũng như già…vì ở đây, trên TV, ngay cả những mẫu quảng cáo xe hơi người ta cũng dùng thân thể đàn bà để câu dẫn, chưa nói tới những quảng cáo thuốc, quần áo, xà bông v.v. Gần đây trên TV có một cuộc thăm dò, để cho một số các em từ năm tới mười tuổi xem những quảng cáo này trước sự bí mật chứng kiến của cha mẹ chúng…thì đã có rất nhiều em, trai cũng như gái trầm trồ khen những người mẫu ăn mặc hở hang…và có em ước ao có “bạn gái” giống như vậy! Hiện tượng này phải chăng là một phát triển của trí óc thông minh…vì tình dục là vấn đề tự nhiên, trong những con người “bình thường” nó có thể phát triển rất sớm, hay là một phản ảnh tâm hồn đồi trụy của con trẻ trong đời sống xã hội văn minh. Đó là tùy sự chấp nhận hay không chấp nhận sự hòa đồng văn hóa bên cạnh những nhạy cảm của những người làm quảng cáo của thời đại, chưa cần nói tới các chương trình TV, phim ảnh hay sách báo. Nhìn đống sách này và nhớ tới một nhà văn nào đó đã từng nói là anh ta viết dâm thư hay nhất thế giới, thì trong cộng đồng người Việt, vấn đề không còn phải bàn cãi nữa. Cái khó khăn thực sự  là chuyện của từng gia đình.

Sáu giờ, Hùng đóng cửa tiệm. Hai vợ chồng lái xe tới một tiệm ăn để ăn tối cho qua ngày…vì hai người biết rằng hai đứa con sẽ không về ăn cơm chung với bố mẹ…Một bữa ăn đông đủ bốn người thường ít có được trong gia đình Hùng. Đó là một việc tưởng dễ, nhưng lại khó thực hiện.

                                                         CHƯƠNG III

    Thúy vừa mang khay đồ ăn ra, muốn tới chiếc bàn gần cửa sổ cho thoáng, bất chợt thấy Hoa đã ngồi đó từ lúc nào. Thúy hầu như không có bạn gái Việt nam ngoài mấy cô em họ mới từ trại tỵ nạn Thái Lan qua. Thoạt tiên, Thúy quen Hoa là vì  Hoa làm bank teller trong một ngân hàng gần sở làm, và là nơi mà Thúy có mở trương mục. Nhưng một thời gian sau, các cô mới biết được cha mẹ hai người vốn là bạn bè. Vả lại, họ dễ thông cảm và mau tới chỗ thân thiết vì họ cùng là thế hệ trẻ, lớn lên tại Mỹ.

Hoa có vẻ tư lự. Thúy đến bên mà cô cũng không hay. Thúy đặt khay đồ ăn lên mép bàn, vừa ngồi xuống ghế đối diện, vừa hỏi(dùng tiếng Anh):

– Nghĩ gì vậy?

Hoa như chợt tỉnh cơn mê, nhìn lên thấy Thúy, cô có vẻ vui, khẽ reo lên(cũng bằng tiếng Anh):

– Thúy hả?

Rồi lại yên lặng nhìn xuống, nói:

– Đang định chiều nay gọi Thúy đây…

Thúy nhìn bạn, khẽ hỏi:

– Chuyện gì vậy. Trông này, Hoa coi bộ gầy đi đấy nhé.

Nghe Thúy nói, Hoa giật mình, hỏi dồn:

– Thật hả…trông tao gầy lắm sao?

Thúy hơi cau mày:

– Hừ, gầy đi một chút cũng có…chết chóc gì chứ?

Hoa yên lặng nhìn xuống, hơi lắc đầu.

Thúy bắt đầu ăn chiếc hamburger còn nóng, không để ý tới phản ứng của Hoa. Bỗng Hoa khẽ nói:

– Tao chưa đi khám bác sĩ…nhưng hình như đã có thai.

Thúy giật mình, ngưng ăn, nhìn lên khuôn mặt tái xanh của Hoa:

– Thực hả…nhưng phải thử mới chắc được…đừng lo.

Thúy nói thế…vì cô biết ba mẹ của Hoa là những người hiểu biết. Hoa không cần phải tranh đấu để được tự do sống “cho” mình như  Thúy đã phải tốn nhiều công sức thuyết phục ba mẹ cô. Hoa từng khoe họ không bao giờ đặt vấn đề ngăn cấm giao du trai gái, thản nhiên coi những chiến dịch phát “bao cao su” trong các trường trung học là việc đương nhiên…như cái nhìn của phần đông các cha mẹ Mỹ. Khác với ba mẹ của Thúy…lúc nào cũng coi đó như là đầu mối của tội lỗi, của bệnh AIDS kinh khiếp kia…và nhất là cứ nhắc tới phong tục Việt Nam coi…những cô gái mất trinh như đồ bỏ đi,

trong khi quan niệm ở đây thì hạnh phúc hôn nhân đặt nặng trên vấn đề hòa hợp về tình dục giữa hai vợ chồng. Nếu không “thử” trước thì làm sao mà biết có yên vui hay không…Ngoài ra “hai người” lại còn đe dọa rằng lấy ai…thì phải sống mãn đời với nhau, tuyệt đối không được ly dị. Đó là một mâu thuẫn…mà người “trẻ” ở đây không hiểu nổi.

Hoa có bầu? Được đi, cứ nói với ba mẹ…rồi muốn nuôi thì giữ, bằng không…cho nó ra.

Nghĩ thế, Thúy cười nhẹ, bảo Hoa:

– Đừng lo, đi khám bác sĩ đã…nếu có thì cho hai bác biết…muốn nuôi thì thôi, không muốn nuôi…thì cho nó ra, đâu có khó gì…

Thúy ngạc nhiên khi thấy Hoa chán nản lắc đầu:

– Không thể cho ba mẹ tao biết được…bà ấy sẽ…

Thúy theo ý nghĩ của mình, gạt đi:

– Không sao mà…hai bác là người hiểu biết…đâu có cổ hủ như bố mẹ tao…

– Không…tao biết chắc mẹ tao mà hay…bà ấy…đau khổ lắm…tao biết mà. Bả chỉ có mình tao là con gái…mà bây giờ…

Thúy ngạc nhiên, nhìn bạn, hỏi:

– Thế thì…

– Mày giúp tao tìm một nơi để phá nó đi…

– Còn bố nó?

– Thằng đó…tao không hiểu nổi…nghe tao nói, nó chỉ cười hề hề rồi bỏ đi, coi như không có chuyện gì…xảy ra.

Hoa dớm nước mắt:

– Tao không hiểu nổi…tình yêu của nó dành cho tao thế nào…Nó phải có trách nhiệm chứ? Nó là thằng Mỹ trắng… mà.

Thúy yên lặng. Hừ, trắng với đen! Nghe câu chuyện, Thúy tội nghiệp cho Hoa quá ngây thơ. Cô cũng lờ mờ biết rằng, những vụ làm tình ở đây…chẳng mấy ai đặt trên căn bản tình yêu…mà chỉ là chuyện mua vui với nhau. Lỡ ra thì người con gái ráng chịu thôi.

– Thôi được, ngày mai, Hoa xin nghỉ một buổi…đi khám bác sĩ, nếu thực có bầu…thì cho tao hay…

Hai người ăn cho xong bữa trưa rồi chia tay.

Thúy về sở mang theo nỗi ưu tư của Hoa.

Việc tìm một nơi phá thai đâu có khó gì để cô phải băn khoăn. Băn khoăn là do cái thái độ của ba mẹ Hoa kìa. Thì ra người Việt nam lớn tuổi nào…hầu như cũng mang nặng những thành kiến khó bỏ. Chỉ có điều họ tỏ thái độ rõ ràng như bố mẹ cô hoặc ngấm ngầm như ba mẹ Hoa. Cuối cùng, tin con gái không chồng mà có bầu…vẫn là một tiếng sét bên tai, một điều không thể nào “ngờ” tới…nếu không muốn nói là một tai họa. Hoa biết điều đó rõ hơn Thúy…nên chuyện Hoa không thể tiết lộ ra ngoài! Đó là kinh nghiệm Thúy vừa học được.

Nếu vấn đề này xảy ra cho Thúy thì sao đây. Thúy miên man nghĩ ngợi. Với mẹ của Thúy, chắc chắn bà sẽ đưa ra những lời thậm tệ nhất để nhiếc mắng cô. Ngay cả những bất đồng nhỏ nhặt, bà còn dùng những tiếng có tính cách “child abuse” rõ ràng…chứ không phải đợi tới sự việc như thế này. Còn ba của Thúy, ông sẽ không nói nhiều…Trong những lần gây gỗ nhất, ông cũng chỉ khuyên Thúy nhịn mẹ nàng, đừng có cãi lại…Ông luôn

luôn nói là hai ông bà có rầy la nàng, có cấm đoán việc này việc nọ cũng chỉ vì nghĩ tốt cho nàng thôi. Thúy thì không nghĩ thế. Phản ứng của cô là không thể nhịn được…vì chẳng lẽ cứ nhịn…nhịn mãi? Cô cũng từng nói với ba cô rằng sự cấm đoán của hai người chỉ là một hình thức tỏ sự thiếu tin tưởng nơi cô, coi cô như con nít, chưa trưởng thành, dù cô đã vượt quá tuổi vị thành niên…là điều làm nhục cô và khiến cô luôn luôn cảm thấy “guilty” tức phạm tội, do đó cô bị mất tất cả ý chí và sáng kiến.

– “Bố không hiểu gì cả…”

– Không, bố hiểu chứ!

– Không, bố không hiểu!

Đó là câu kết luận sau cùng của những lần tranh cãi.

“Một câu nhịn là chín câu lành”, cái câu tục ngữ Việt nam đó sao mà thiếu căn bản vậy. Vì tranh luận thì mới đi tới lẽ phải…còn cứ chất chứa cái ấm ức trong lòng…thì đến phát điên lên mất thôi. Thế mà lại là một trong những khuôn vàng thước ngọc của một dân tộc! Nhưng nếu sự bất đồng đó sâu xa đến nỗi không những không đưa tới thông cảm…mà lại càng đào sâu thêm bất hòa thì sao đây? Ở Mỹ này, tình trạng quá độ đó đã từng xảy ra, và các “khuôn mẫu” đã được đưa lên những “talk show” hay đóng thành phim. Tỷ như ranh chấp về tiền bạc đưa đến vụ án giết cha mẹ của hai anh em Lyle 21 tuổi và Erik 18 tuổi nhà Medenzer. Với gia tài hơn mười bốn triệu dollars, hai đứa con bất hiếu đã dùng súng bắn chết cha mẹ mình khi hai người đang xem TV trong family room để sau đó, nội trong nửa năm đầu họ tự do tiêu  hơn một triệu cho những xa xỉ mà họ từng ước ao trước

đây…để cuối cùng bị kết án tù chung thân. Trong một truyện thực khác cũng được viết thành phim, tựa đề là The Twisted Desire. Ở đây, cô bé Jenifer mới mười sáu, mười bảy tuổi bị bố mẹ ngăn trở cuộc tình với một chàng trai, đã mưu mô dùng tay của một anh chàng mê mình để tàn sát cha mẹ, rồi sau đó, phe lờ anh ta luôn. Khi việc đổ bể, trước tòa, cô nhỏ trắng trợn đổ riệt cho anh chàng mê gái kia tội giết cha mẹ mình… Nhưng cuối cùng, chính người tình thân yêu của cô bé đã giúp cảnh sát, bằng cách đeo máy ghi âm vào người, rồi nhân trong lúc hai người tình tự, anh ta khơi chuyện để cô con quý hóa thú nhận việc giết cha mẹ. Trong phim, có một lúc, hai điều tra viên nói với nhau…đây có thể là…một truyện tình “Romeo and Juliette” nhưng thay vì hai người trẻ cùng nhau tìm cái chết cho trọn vẹn lòng chung thủy thì bây giờ…cặp tình nhân đó…lại cho cha mẹ mình đi luôn để khỏi ngăn trở họ nữa! Xưa và nay…khác nhau ở chỗ đó…Một truyện khác, tuy coi vẻ nhẹ hơn…nhưng rất tiêu biểu cho thời đại, cũng được đưa lên màn ảnh với nhan đề là “The terror in the family”. Chuyện một cô gái vị khành niên bị cha mẹ rày la vì đời sống hoang đàng. Chỉ riêng chuyện phòng ốc bừa bộn, bà mẹ nói mãi cũng không được, đến nỗi một lần bị cô con la hét đẩy ra khỏi phòng. Thấy vậy, ông bố tới can thiệp, bị cô con dùng bàn telephone đập vào mặt, máu me lênh láng. Ông bố tức quá, dọa gọi cảnh sát. Cô con gái “yêu” nghênh ngang thách thức: “Cứ gọi cảnh sát đi…tôi sẽ khai là ông định cưỡng hiếp tôi…nên tôi phải tự vệ thôi!”. Nghe thế, ông bố sợ quá…đành im re…Câu chuyện còn dài…nhưng

nội một câu nói trên của cô gái cũng đủ hình dung được mối tương quan giữa cha mẹ và con cái trong cái xã hội này nó như thế nào…Cô ta dám nói câu thách thức đã là quái gở…mà phản ứng sợ hãi của người cha mới càng đáng suy nghĩ hơn…vì ông cho rằng cảnh sát sẽ tin lời cô gái hơn…khiến ông có thể bị kết tội…Cái gì làm cảnh sát có thể tin được điều đó…phải chăng là chuyện cha và cả mẹ nữa, hiếp con, cả gái lẫn trai(!) đã thường xảy ra quá rồi? Và họ tin tưởng ở sự “ngây thơ” của trẻ con ở xứ này, nghĩ rằng chúng không biết nói dối! Ngoài ra, vấn đề con gái mười lăm, mười sáu gây gỗ, chửi cha, mắng mẹ, bỏ nhà đi hoang, hay bắt cha mẹ phải chấp nhận cho mang bồ bịch về nhà làm tình được đưa lên các talk show thiếu gì. Việc đưa lên TV, lên màn ảnh tuy biết được dụng ý của các người thực hiện, nhưng nội cái phản ứng tiêu cực đó có đưa tới một giải pháp thực sự đúng đắn cho cái xã hội này không, hoặc cái kết luận thực sự là gì, người ta không biết tới.

Chuyện gì sẽ xảy ra, nếu mình ở trong những trường hợp này? Thúy cứ thắc mắc mãi. Nhưng cô cũng tự nhủ thầm rằng mình  chẳng thể làm như vậy…còn tìm ra một câu trả lời thì không. Nếu muốn tôn trọng đời sống cá nhân, biểu lộ sự trưởng thành bằng đời tự lập là những tiêu chuẩn được được cái xã hội “văn minh” này khuyến khích, nói là để con người tiến bộ, thì chỉ có nước “move out” như hầu hết người trẻ địa phương. Nhưng với cha mẹ cô, Thúy biết rằng họ quan niệm vấn đề sống riêng đó gần như là bị xỉ nhục…vì cha mẹ, con cái mà không muốn sống với nhau thì…còn sống được với ai đây…và

sự việc đó vẫn còn bị dị nghị đối với quan niệm sống của cộng đồng người Việt ở đây.

Xem kia, những gì làm rạng rỡ ông dân biểu mà Thúy đang làm việc. Đó chính là đức tính biết tự lập ngay từ thời niên thiếu. Nếu ngày trước, ông không quyết tâm từ bỏ công việc đồng áng với cha mẹ để lên thành thị lập nghiệp thì đâu ông ta đã có ngày nay? Sự can đảm và óc sáng tạo đã đưa ông ta tới thành công. Đó là một khuôn thước được nói tới hoài hoài…từ đời sống của các danh nhân, anh hùng của Mỹ Quốc cho đến những nhân vật thời đại. Tuy chưa chắc đó là những điều kiện tất yếu…nhưng nó vẫn mang hình ảnh của những cơ may. Vấn đề lại trở về câu hỏi ban đầu…là sự trưởng thành hay nói cách khác là thành nhân đó theo kiểu “tây” hay “ta” hay “vừa tây vừa ta”. Thúy không xác định rõ nét được vấn đề như thế, nhưng cô lờ mờ thấy rằng nếu theo hẳn bên này…thì sẽ mất bên kia…còn giải pháp trung dung vẫn là một đường hầm mấp mô với đầy bóng tối.

Tìm một nơi phá thai quả thực không khó. Thúy chỉ hỏi vài bạn cùng sở, cô đã có mấy cái địa chỉ. Giá cả không quá năm trăm. Khác với những lo âu của Hoa, và cả của Thúy, những cô bạn Mỹ hầu như không thắc mắc về việc này. Họ thản nhiên như mách một tiệm ăn khiến vô tình, Thúy thấy phần nào sự khác biệt giữa mình và họ!

Phá thai! Đúng hay sai? Cũng vẫn truyện movie, một cô bé mười lăm tuổi có bầu, khi cha mẹ cô biết được…thì đã quá trễ, không thể phá nó được nữa. Dù cô bé khóc lóc muốn giữ đứa con để nuôi, nhưng cha mẹ cô cương

quyết nhờ sở xã hội tìm người cho đứa bé đó khiến cô bé đau khổ bao nhiêu năm…đi tìm con mình. Như vậy, vấn đề phá thai…chưa chắc đã nằm trong quyền quyết định của người đàn bà như người ta vẫn tranh đấu mà nó đã nằm trong định chế xã hội do những bàn tay phù thủy của những nhà chính trị của xứ này. Phá đi hay cho người khác nuôi…đối với người mẹ cũng vẫn là mất con. Nhưng phá đi sẽ là một đau khổ của một “con người” chưa biết đau khổ, nhưng cho đi lại gây một nỗi thống khổ triền miên cho hai người, một ngưòi mẹ vì ân hận với đứa con nay đã bặt tin, một người con vì không biết được gốc gác của mình.

Trong tình huống hiện tại, Thúy và Hoa không nghĩ sâu xa hơn. Thúy muốn giúp bạn, Hoa muốn bà mẹ khỏi đau khổ về mình…

Tám giờ tối, Hoa đứng trước cửa nhà của Bob. Qua cửa sổ, Hoa thấy tầng dưới không bật đèn. Chẳng lẽ hai mẹ con nó đi vắng. Hay là để đến mai? Cả khu nhà chung quanh đều vắng lặng. Những lần trước đến đây, Hoa nào thấy sự quanh quẽ, âm u của nơi này như bây giờ đâu. Những lần đó, có lẽ Hoa nao nức vì tiếng cười chào đón của Bob, cái không khí tự do, cởi mở của gia đình Mỹ, của một người mẹ tôn trọng rất mực sư riêng tư của con cái. Trong lòng chưa dứt khoát nên hơi có một chút trở ngại, Hoa lại như muốn lùi bước. Tuy nhiên, Hoa đã trót bấm chuông.

Ánh đèn chợt sáng lên trong nhà. Hoa hơi run. Nếu chuyện không êm đẹp, cô sẽ phải làm sao đây.

Bà White hiện ta đứng chắn ngang cửa với khuôn mặt u tối giữa vùng ánh sáng vàng vọt ở sau lưng của ngọn đèn phản chiếu trên tường. Hoa không trông rõ nét mặt, cũng không nghe bà ta nói một câu, kể cả một tiếng “hi!”. Hoa thấy mình chới với như rơi vào giữa một  không gian bồng bềnh xa lạ và bất tín.

– Hi, tôi có thể vào được không?

Bà chủ nhà lầm lỳ đứng sang một bên để Hoa đi vào thay cho một câu trả lời.

Hoa đứng giữa gian nhà khách yên tĩnh, cảm thấy hơi lúng túng. Bob đâu? Hoa không ngồi xuống ghế, quay lại vừa lúc bà White đi tới với một câu giải thích như bà ta đọc được ý nghĩ của cô lúc này:

– Bob mới mua một cái TV 13 inches…nó đang xem trong phòng nó. Có chuyện gì không?

Câu nói lạnh lẽo mà Hoa chưa từng nghe ở bà này từ ngày họ quen nhau. Một ngạc nhiên kế tiếp khi bà nghiêm nghị hỏi:

– Chuyện gì giữa cô và Bob, hai người giải quyết với nhau…tôi không chen vào đâu.

Vậy có nghĩa là gì? Bob đã nói gì với mẹ nó? Như thế, mình có thể nào bắt bà ta chịu một phần trách nhiệm chứ?

Giữa lúc đó, Bob từ trên lầu đi xuống. Thấy Hoa, hắn ngưng lại giữa cầu thang, nhìn cô một cách dửng dưng. Bà White ngửng lên nhìn hắn, nói:

– Bob xuống đây. Trông kìa, Hoa nó chắc muốn nói chuyện với con…

Bà White định đi lên lầu. Hoa giận tím gan vì sự thay đổi thái độ của nhà này. Cô nói như hét:

– Tôi muốn cả hai người nói chuyện với tôi.

Hoa giận dữ ra mặt.

Bà White ngừng bước, quay lại nhìn Hoa trong khi Bob cũng xuống khỏi cầu thang. Hắn tỉnh bơ:

– Đâu còn gì để nói…mình đã dứt khoát hôm trước rồi.

Hoa nói, nhưng  giọng bỗng yếu hẳn đi:

– Tôi đã đi khám bác sĩ…và biết thực sự có bầu rồi…Bây giờ, một đàng là con của tôi, đàng khác cũng là con, là cháu của hai người. Vậy, hai người tính sao đây.

Bà White khẽ cười:

– Đó là chuyện của Bob và cô.

Khó khăn lắm, Hoa mới nói được một câu…mà cô biết rằng…câu này phần lớn là vì cô nghĩ đến cha mẹ của mình:

– Tôi muốn một đám cưới…để con tôi có cha, có mẹ đàng hoàng.

Bob cười:

– Để làm gì chứ…

Hoa nghẹn ngào:

– Tao muốn có chồng khi sinh con…

Bob thét lên:

– Không được…chắc gì nó là con của tao…Mà có đúng chăng nữa, tao không thể lấy mày…vì tao chưa yêu mày đủ…như một người vợ.

Hoa tối tăm mặt mày khi nghe Bob trắng trợn nói lên điều đó. Nhưng tới nước này, cô như một người chết đuối giữ dòng, đành năn nỉ:

– Tôi chỉ cần chính thức có chồng…còn Bob muốn có thêm bạn gái khác, tôi cũng chấp nhận, tôi thề mà.

Bob không thương tiếc, nhất quyết:

– Không được. Phá cái thai đi…Mày với tao chấm dứt từ đây. Từ nay, tao không muốn gặp mày nữa.

Mặc dù Hoa cũng từng có cái ý đó, nhưng nghe hắn nói năng một cách tàn nhẫn như thế, cô không còn nhịn được nữa, xông vào, hai tay đấm vào ngực hắn. Bob thét lên, vung tay chống cự, và đánh lại không nương tay.

Bà White thấy sự việc xảy ra có vẻ trầm trọng, đành vào can hai người ra. Thằng Bob vùng vằng bỏ lên lầu. Hoa ngồi phịch xuống ghế sa-lông khóc thút thít.

Bà White dầu thấy con mình cư xử “hơi” vũ phu, nhưng vẫn không chịu nhận lỗi, hạch họe:

– Tại sao cô không bắt nó dùng bao cao su? Mình là đàn bà…thì phải lo xa chứ.

– Tại nó không chịu…

Bà đứng lên, đến bên tủ lạnh, rót một ly nước đưa cho Hoa kèm theo một tời giấy lau mặt, nhỏ nhẹ:

– Thôi, người ta phá thai là thường mà…mình không muốn giữ, ai cấm mình chứ. Cứ tìm nơi làm cẩn thận…tốn phí tôi sẽ trả cho. Nếu lấy nhau như thế, không có hạnh phúc đâu…rồi vài ba tháng lại ly dị…rắc rối thêm ra…

Hoa hoàn toàn tuyệt vọng. Nàng không ngờ mình xuống nước đến thế…để giữ lại đứa con…cho cha mẹ không bị mất mặt. Nhưng bây giờ thì không còn cách nào khác nữa rồi. Cô chấm mau nước mắt, không nhìn bà White tới một nửa con mắt, vùng vằng đứng dậy ra về. Bên ngoài trời hơi lạnh…làm Hoa tỉnh trí hơn. Trước khi lần mò ra chỗ đậu xe, Hoa nhìn lại căn nhà mà nàng vừa tự thề là sẽ không bao giờ thèm bước tới nữa, cả nhà đã tối om…họ tắt đen từ lúc nào. Thực là đồ khốn nạn. Hoa thầm chửi hai mẹ con Bob trong lòng.

Ba hôm sau, Hoa được Thúy đưa đi…cái thai hơn một tháng bị lấy ra với phí tổn không tới năm trăm tại một bệnh viện nhỏ trong thành phố. Câu chuyện lầm lỡ quá tủi hổ vẫn hằn lên trên mặt Hoa với những nét nhăn và thâm cuồng cùng những chỗ tím đỏ do Bob gây ra.

Thành buông tờ báo xuống khi thoáng thấy Hoa đi qua. Ít lâu nay, đứa con gái đi về thất thường, mặt đăm chiêu nghĩ ngợi. Nhưng hôm nay, nhìn kỹ Hoa hơn, Thành giật mình khi thấy trên mặt con có những vết tím bầm.

– Hoa, mặt con sao vậy?

Hoa đứng lại, khẽ đáp:

– Không có gì…con vô ý xô vào cạnh quầy hàng thôi.

Nghe giọng nói ngập ngừng Thành biết câu giải thích của Hoa không đúng sự thật, nhưng nó chẳng nói ra, Thành cũng không muốn gạn hỏi. Sau đó, Hoa lặng lẽ bỏ lên lầu.

Buổi chiều, Tâm, mẹ Hoa đi làm về, dọn cơm ra, Hoa cũng không xuống ăn. Chuyện này không phải là điều bất thường vì bọn trẻ lớn lên ở bên này, nhiều khi chúng thích ăn một vài món Mỹ hoặc Mễ thay cho bữa cơm tối trong gia đình. Hoa hai mươi mốt, đang học năm thứ hai trong trường City College mà vợ chồng Thành đặt nhiều hy vọng và tin tưởng vào cô con gái lớn này. Năm tới Hoa chuyển lên State University, và sẽ học y tá điều dưỡng. Thành nhiều khi muốn hướng dẫn con theo y hoặc dược là hai ngành có giá mà bất cứ người Việt nam nào sang đây có con học lên cũng ao ước. Nhưng sự mong đợi đó nhiều khi lại khác với ý thích của con cái nên vợ chồng ông phải bấm bụng chiều ý Hoa. Mỗi khi nghe thấy người quen này có con “đậu” bác sĩ, người bạn kia có con ra luật sư, Thành lại buồn lòng khi nghĩ tới tương lai của các con mình. Nhiều khi ông thắc mắc không biết tại sao giữa hai ngành y tá và bác sĩ không mấy khác nhau, chỉ cần cố gắng thêm mấy năm nữa là tiến tới một địa vị khác hẳn, thế mà con ông không chịu cố gắng. Có lẽ nó thấy sức học của mình không đủ chăng. Nghĩ thế, Thành không dám đặt lại vấn đề học bác sĩ với con gái, sợ nó tủi thân. Có lẽ nhà ông không có cái “mả” học làm thầy chăng.

Tối nay, Tâm không được khỏe nên đi ngủ sớm. Tuấn, đứa em trai của Hoa, chơi game trong phòng. Thành ngồi trong family room đọc hết tờ báo hàng ngày. Sắp đến ngày ba mươi tháng tư, chuyện Việt Nam trên đà “cởi mở” được nhắc tới. Có những con số đọc lên thấy sợ như tiền của các Việt Kiều mang về tiêu mỗi năm lên tới mấy trăm triệu đô la. Các quốc gia Tây Phương, kể cả Hoa Kỳ tranh nhau nhảy vào khai thác thị trường Việt Nam, vốn đầu tư lên tới nhiều tỷ đô la. Chính phủ Clinton sẽ không liên  kết vấn đề nhân quyền với chính sách đối ngoại với Việt Nam, có nghĩa là việc bỏ cấm vận cũng như thiết lập quan hệ ngoại giao không có điều kiện phải cải thiện tình trạng áp bức người dân của nhà cầm quyền cộng sản, nhất là với các tôn giáo. Đó là vấn đề làm nhức nhối cộng đồng tỵ nạn Việt nam tại các nước tự do. Nhưng biết sao được khi chính quyền của Hoa kỳ bị các nhà đại tư bản ở đây làm áp lực vì họ sợ rằng nếu chính phủ Hoa Kỳ không sớm bang giao với

Việt Nam, họ sẽ mất cơ hội khai thác thị trường “béo bở” này và để cho các nước khác nhanh chân hơn như Đài Loan, Hồng Kong, Nhật Bản, Tân Gia Ba v.v. tranh mất “miếng mồi ngon”! Quyền lợi và quyền lợi!

Báo chí Việt nam thì nhắc tới những kỷ niệm đau thương hồi mười mấy năm về trước. Những chuyện về mặt trận Ban Mê Thuột, trách nhiệm của các tướng lãnh nhất là tướng Phạm văn Phú trong những ngày cuối cùng của Quân Đoàn II…về các trận đánh cuối cùng quanh Saigon, được các nhân chứng viết lại. Có nhiều chi tiết nghịch nhau đưa tới tranh luận. Thàïnh bỗng cảm thấy chán nản…Huyền thoại Lý Tống rải truyền đơn trước khi nhảy dù xuống Sàigon để cuối cùng bị vây bắt. Những chuyện hai ngày ở Thái Lan mà Lý Tống định ăn cắp máy bay Thái về oanh tạc Saigon bị nhiều người cho là tiểu thuyết hóa, nếu không muốn nói bịa đặt. Nhưng hành động can trường của anh trung úy không quân này dù chỉ có tính cách phô diễn nhiều hơn là có lợi thực tế cũng khiến cho nhiều người thán phục. Và ở hải ngoại, người ta đang thổi phồng một cao trào gọi là “tinh thần Lý Tống”. Những cuộc meeting, hội thảo được tổ chức để nói lên cái hành động cao đẹp, hy sinh cho quốc gia dân tộc, tích cực chống lại chế độ cộng sản, là gương sáng cho mọi người, nhất là đám thanh thiếu niên đang ngụp lặn trong đời sống vị kỷ…chỉ biết học hành giỏi, bằng cắp cao, lương lậu lớn, sống phè phỡn trong một xã hội vật chất và hưởng thụ.   Ở vùng này cộng đồng người Việt tỵ nạn có tới hơn một trăm ngàn, nhưng những cuộc họp mặt “quan trọng” này, số người tham dự thường không quá hai trăm mà phần lớn là các cụ ông, cụ bà…!

Ngọn đuốc “Lý Tống” được đốt lên trong một căn hầm chật hẹp, cũ kỹ, không ló được một chút ánh sáng vào những phòng mạch khang trang, văn phòng tiện nghi rộng lớn trong những khu thương mại thời thượng! Tiếc thay cho sự hy sinh của một người hùng!

Thành thở dài đặt tờ báo xuống bàn, vuôn vai, ngáp dài thì Hoa bưng tới một chén trà nóng:

– Ba uống trà con vừa pha đây…

Con gái có những cái dịu dàng, thân thiết thế đó. Thành ngửng nhìn con. Trong ánh sáng của ngọn đèn ở góc nhà, anh nhận thấy rõ những nét ảm đạm trên khuôn mặt bầu bĩnh của Hoa:

– Con đã ăn uống gì chưa?

– Buổi chiều có cô bạn rủ con đi ăn Mc Donald…

Hoa ngồi xuống ghế đối diện…yên lặng nhìn Thành uống trà. Lúc sau, cô khẽ hắng giọng, rồi đột nhiên hỏi:

– Ba nghĩ…phá thai có tội không?

Thành hơi giật mình, bỏ chén nước xuống, nhìn con, hỏi lại:

– Sao? Phá thai à…bố nghĩ…không nên…

Câu trả lời…không đúng hẳn vào câu hỏi, nhưng cũng làm cho Hoa khựng lại một lúc, rồi khẽ thở dài:

– Cô bạn của con…nhưng nó không nói cho ba mẹ của nó hay…

Thành nhìn xuống suy nghĩ, rồi gật đầu:

– Ngoài đời nhiều cạm bẫy lắm, con ạ. Thôi thì làm vậy cũng xong…ba mẹ của cô ta khỏi bị dằn vặt, nghĩ ngợi. Những người lớn như ba me, việc phá thai thường bị coi là thất đức…rồi việc con gái không chồng mà có bầu lại là một chuyện xỉ nhục…thành ra vấn đề chọn lựa giữa phá hay không phá là một vấn đề hết sức nhức đầu…Ấy là chưa kể đến sự cấm đoán của tôn giáo. Cô bạn của con…có được một kinh nghiệm quá mắc!

Rồi như muốn đổi chuyện, Hoa nói:

– Con này nó cũng muốn cùng học ngành y tá với con…Thấy mà tội nghiệp.

Thành nhân cơ hội, hỏi:

– Ba cũng không hiểu…sao con với cô ta không bàn với nhau…gắng học lên chút nữa…chỉ cần thêm vài ba năm là lấy được bằng bác sĩ có hơn không?

Hoa cười:

– Ba à…nếu vậy…sẽ không ai làm y tá sao? Con không thích làm business hay có mộng mở một phòng mạch…không muốn người ta nhìn mình bằng con mắt xa cách và muốn có một đời sống gần gụi với bệnh nhân, và nhất là với đồng nghiệp. Con nghĩ, giữa những người y tá với nhau…ít có chuyện cạnh tranh nghề nghiệp…một cách…ráo riết như…trong giới bác sĩ, nha sĩ…Còn tiền bạc…thì tùy quan niệm sống của mình thôi ba. Giầu, nghèo chưa phải là vấn đề quyết định hạnh phúc.

Nghe cô gái hai mươi lý luận, Thành không ngờ ý thức về nghề nghiệp, về xã hội của nó phức tạp như vậy. Nhưng anh cũng cố gắng với một lý do gần gụi nhất:

– Ba nghĩ, nếu nhà mình có một người làm bác sĩ…ba me lúc về già cũng yên trí hơn…

Thành không dám đụng tới cái “thâm ý” của mình…vì nói ra…sợ nó cho rằng cha mẹ chỉ nghĩ đến vấn đề “danh giá” của mình hơn là ý nguyện của con cái.

Nghe cha nói, Hoa lắc đầu:

– Ba à, không đúng đâu. Ở Mỹ này…cái gì muốn hay cũng phải trở nên chuyên môn hết. Nếu con là bác sĩ, ba me có đau yếu, con cũng phải tìm một bác sĩ chuyên môn, tài giỏi, một bệnh viện danh tiếng, để chữa trị cho ba me…chứ ai dại gì mà đi chữa lấy…

Thôi…cũng tại cái số cả. Thành yên lặng nghe con nói. Cuối cùng, anh gật đầu:

– Con nghĩ cũng phải…thôi đi ngủ cho khỏe.

Hoa đến gần, đặt tay lên vai cha, khẽ nói, giọng cảm động:

– Cảm ơn ba…nhưng ba đừng buồn nhé…

Câu nói của Hoa…mang nhiều ý nghĩa…vừa cho cái chuyện…phá thai vừa cho vấn đề học hành của mình. Nhưng Thành, dĩ nhiên, anh chỉ nghĩ tới…vấn đề thứ hai, nên gượng cười:

– Không sao…con thích là được rồi.

Thành nhìn theo Hoa lầm lũi lên lầu, thôi thì thương con là hết…Chuyện này…đâu có phải bây giờ mới bắt đầu…

CHƯƠNG IV

    Thực vậy, từ khi các con bắt đầu khôn lớn, Thành đã cố gắng giáo dục chúng trong sự hòa giải giữa hai nền văn hóa khác biệt. Ông biết tôn trọng sự riêng tư của con cái, khuyến khích chúng hấp thụ những tinh hoa của nền giáo dục tây phương nặng về tự do và duy lý, nhưng cũng hướng dẫn chúng để có một tâm hồn Việt nam rất tình cảm và uyển chuyển, để làm sao có thể thích nghi với đời sống và văn hóa Âu Mỹ. Hai đứa con đều nói tiếng Việt rõ ràng, viết tiếng Việt khúc triết và nhất là nhớ tới quê hương xứ sở dù chúng không biết gì nhiều về nơi đó ngoài những điều ông nói với chúng. Đặc biệt, từ buổi ấu thơ, Thành đã kể những chiến công oai hùng của riêng mình, của Quân Đội Việt Nam Công Hòa cho con nghe và gần như nhồi sọ nó về sự tham tàn

của bọn cộng sản Việt Nam và vì đâu mà bao nhiêu người Việt phải chạy ra nước ngoại để tỵ nạn. “Con ạ, nếu cái cột đèn biết đi…thì nó cũng trốn khỏi Việt Nam…vì không thể sống với một chế độ bất nhân như vậy.”

Năm trước, vào dịp ba mươi tháng tư, một buổi chiều Tuấn đi học về, nó hùng hổ nói với Thành:

– Ba à, hôm nay, “thằng” Bronson dạy Social Science về Việt Nam, nó bắt chúng con vẽ lá cờ đỏ sao vàng, gọi Hồ Chí Minh là Uncle Hồ, một đại anh hùng dân tộc của Việt Nam…và ngày ba mươi tháng tư là ngày quân Nam Việt Nam thua trận vì tham nhũng và quân đội hèn nhát. Con nói chúng tao chỉ có lá cờ vàng ba sọc đỏ thì nó nói lá cờ ấy…phải bỏ sọt rác vì trên thế giới bây giờ chỉ công nhận có một lá cờ cho Việt Nam là cờ đỏ sao vàng thôi.

Câu chuyện làm Thành tức giận thật sự đến quên cả lời xưng hô lếu láo của Tuấn với ông giáo sư, ông chửi thề:

– Đéo mẹ tiên sư bố nó…đồ phản chiến!

Chửi xong, tuy cảm thấy nó không ổn…nhưng trước sự căm phẫn của thằng con, ông cũng không lùi bước:

– Những thằng truyền thông, những thằng thầy trong các trường học trước đây đều là bọn phản chiến, nó từng xúi dục sinh viên chống chiến tranh Việt nam…và viết sách ca tụng bọn Việt Cộng…Để tao vào tao khiếu nại tới đâu thì đi tới đó.

Tuấn cũng giận không kém ông bố, nó nói:

– Con cãi, nó còn định đuổi con ra ngoài nữa…

– Được con để ba lo. Cứ đi học như thường. Ngày mai, tao vô trường.

Buổi tối, người đầu tiên Thành gọi là Hùng. Sau khi nghe xong, Hùng cũng bực mình, nhưng anh thận trọng hơn, bàn:

– Mình kết tội thằng giáo đó là phản chiến cũng không đúng…vì cho giỏi lắm nó chừng bam mấy thì thời chiến tranh Việt nam cũng còn đang học tiểu học…Có điều…nó không tế nhị khi biết học trò của nó đều là con cái của người tỵ nạn Cộng sản…Ông muốn phản đối cũng được, nhưng cần phải nói cho ra lý.

Minh ở cùng khu học chính với Thành. Đứa con trai của ông, cũng đưa về cho cha xem hình lá cờ đỏ sao vàng…được vẽ trong bài học. Khi Thành gọi đến, Mạnh đồng ý ngay việc phản đối nhà trường. Nhưng, Minh nhắc chừng Thành:

– Tôi nhớ đã lâu, có xem trên TV một phim, trong đó, một bà mẹ đã phản đối ông giáo và nhà trường vì ông giáo này đã cho việc Quốc Xã giết người Do Thái là có lý do chính đáng! Vấn đề đã rõ ràng như thế, cả thế giới đã từng kết tội Hitler…Đức đã thua trận…thế mà từ đầu tới cuối…bà này tranh đấu trong cô đơn, bị các người chung quanh xa lánh…Tôi không nhớ kết cục, nhưng nội thiếu sự hưởng ứng của phụ huynh khác cũng là một vấn đề làm ta cần phải suy nghĩ khi khởi sự. Chắc chắn là nhà trường phải tìm lý do bảo vệ nhân viên của nó.

Suy nghĩ một lúc, Minh tiếp:

– Nhưng dù sao, chúng mình cũng không thể để yên chuyện này được. Tôi sẽ đi với ông. Cứ hai người đi đã, nếu găng quá, mình sẽ tìm thêm phụ huynh khác.

Thành ngắt lời:

– Sao phải chờ đợi…phải kéo dốc lực lượng chơi một trận chứ.

Minh khẽ cười:

– Thành à, bây giờ không còn là thời mình mới sang đây nữa. Ngay trong cộng đồng tỵ nạn thiếu gì đứa muốn bỏ quốc kỳ, quốc ca của Việt Nam Cộng Hòa…thiếu gì đứa đang o bế bọn Việt Cộng.

Ngày hôm sau, hai người sau khi bàn luận, tới trường trung học xin gặp ông hiệu trưởng.

Ông ta mời hai người vào văn phòng. Ông này là một người Mỹ già, ăn mặc xuềnh xoàng, áo vét cũ, không thắt cà vạt.

Sau khi bắt tay, nói vài lời xã giao, Thành cho biết lý do hai người tới ngày hôm nay và đặt vấn đề về bài Social Science:

– Ông biết, chúng tôi đều là người tỵ nạn cộng sản…và vì chiến đấu cho nền tự do của Miền Nam Việt Nam mànăm mươi mấy ngàn chiến sĩ của Hoa Kỳ đã bị hy sinh, bao nhiêu người bị cộng sản Việt nam đầy đọa dã man trong các nhà tù. Cho dù sau này…chính phủ Hoa Kỳ có bỏ cấm vận, bang giao với chúng thì tôi tin rằng mãi mãi nhà cầm quyền Hànội vẫn la kẻ thù chung   của chúng ta, cho nên không có lý do gì mà vị giáo sư này lại ca tụng kẻ thù đó trước mặt con cái chúng ta.

Nghe Thành nói, Minh cũng gật đầu tỏ vẻ đồng ý quan điểm của bạn.

Thấy vấn đề quá tế nhị, không thể một lúc giải quyết được, ông hiệu trường lịch sự ghi nhận lời phản đối của hai người.  Minh nghĩ, sự việc không thể ngưng lại tại đây, anh nói:

– Thưa ông hiệu trưởng, trong chúng tôi, rất nhiều người đã vàđang là những tax payer, một số đông đã nhập tịch Hoa Kỳ…chúng tôi muốn con cái chúng tôi phải được tiếp nhận một nền giáo dục tốt và hợp với lý tưởng tôn trọng tự do và lẽ phải. Không thể vì tư kiến mà chúng ta bắt con em chúng ta phải ca tụng những kẻ chuyên dùng dối trá và tàn bạo để tranh phần thắng. Thế giới cộng sản Đông Âu bị sụp đổ là bằng chứng hùng hồn về sự sai lầm của học thuyết Cộng sản…thì những phó sản của chúng là Việt Cộng bên chúng tôi hay Cuba gần bên quý vị không thể còn được ca tụng như thời…đầu thế kỷ hai mươi.

Cuối cùng, ông hiệu trưởng bằng lòng sắp xếp một buổi họp với ông thầy giáo bị phản đối và phụ huynh học sinh Việt Nam để thông cảm.

Hai người ra về…lòng vẫn còn ấm ức vì “xừ” hiệu trưởng này chỉ ghi nhận sự việc mà không một lời “sorry”.

Ba hôm sau, vận động thêm được vài người nữa theo Minh và Thành đi họp.

Chung quanh cái bàn dài trong meeting room, một bên là bốn phụ huynh Việt nam, bên kia gồm ông hiệu trưởng,  ông giáo sư, ông counseller Việt Nam và bà thư ký nhà trường.

Sau khi giới thiệu từng người, vấn đề bàn cãi được bắt đầu bằng sự minh xác thái độ của Thành, nhân danh nhóm phụ huynh học sinh:

– Trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng tôi xin minh Xác :

– Hồ Chí Minh dứt khoát không phải là một anh hùng của dân tộc Việt nam, vì:

Thứ nhất, trong suốt thời kháng chiến giành độc lập, ông này đã lừa dối dân Việt,  lợi dụng danh nghĩa chống thực dân Pháp để dọn đường cho Cọâng sản vào thống trị Việt Nam.

Thứ hai, đồng thời, ông ta đã dùng thủ đoạn tàn độc giết hại các đảng Quốc Gia đối lập để chiếm công đầu trong tiến trình chống thực dân.

Thứ ba, chính vì ông Hồ mà Việt Nam mới trở thành một nước theo chủ nghĩa Cộng sản…và hậu quả là Việt Nam sống trong một chế độ tàn bạo, trở thành một nước nghèo nhất thế giới, dân chúng sống mất tự do, không có nhân quyền và nghèo đói cùng cực.

Với người tỵ nạn Việt Nam chúng tôi, chỉ có một quốc kỳ là lá cờ vàng ba sọc đỏ, lá cờ lịch sử mà bao nhiêu chiến sĩ quốc gia đã vì bảo vệ nó mà phải bỏ mình. Cờ đỏ sao vàng chỉ là cờ của đảng Cộng sản Việt Nam.

Quân lực Việt nam là một đoàn quân anh hùng, dũng cảm, Nam Việt Nam sụp đổ không hẳn là trách nhiệm của họ, mà vì sự phản bội trắng trợn của chính phủ Hoa Kỳ lúc đó.

Chúng tôi, những người đóng thuế cho Hiệp Chủng Quốc và tiểu bang California có quyền đòi hỏi con em chúng tôi không phải học những gì khác với ý nguyện của họ.

Do đó, yêu cầu vị giáo sư rút lại bài học Social Science về Việt Nam vừa rồi.

Mọi người yên lặng chờ đợi.

Trong một hoàn cảnh như thế này, Thành cố gắng tóm gọn như vậy cũng là tạm đủ. Ông hiệu trưởng nhường quyền trả lời cho ông giáo sư  Bronson. Ông này quá trẻ, không khác hơn những gì Thành, Minh và Hùng suy đoán. Nhưng người Mỹ có những suy nghĩ theo lối của họ. Ông ta khẽ hắng giọng rồi nói:

– Thưa quý vị phụ huynh, tôi không dạy và cũng không muốn bàn cãi về chính trị trong trường này. Những gì tôi dạy học trò là những thực tế cũng như dựa theo những tài liệu mà chúng tôi có thể có được. Thực tế, nước Việt Nam của quý vị hiện là một quốc gia trong cộng đồng thế giới. Lá cờ đỏ sao vàng là lá cờ chính thức của Việt nam, không cần biết đó là nước theo chế độ nào.

Ông ta đưa ra một trang đầy những quốc kỳ của các nước trên thế giới…trong đó có cờ của Việt Cộng.

– Trong các cuốn Encyclopedia, Hồ Chí Minh được đánh  giá là một lãnh tụ tối cao chống thực dân Pháp và Phát Xít Nhật.

Mấy trang sách photocopy được truyền cho mọi người để chứng minh điều ông này nói, trong khi ông ta tiếp:

– Vấn đề sụp đổ của miền Nam Việt Nam dù có những tranh luận, nhưng ý kiến của các học giả mà tôi đọc…không khác những gì chúng tôi viết trong bài…Chúng tôi không có những tài liệu chính thức viết theo quan điểm như quý vị nói…Đó là vì…quý vị không thuyết phục được các tác giả Hoa Kỳ! Do đó, bài Social Science của tôi không có gì để phải bỏ!

Một bầu không khí nặng nề bao trùm căn phòng khiến mọi người cảm thấy ngột ngạt.

Sau một lúc yên lặng, Minh nhìn thẳng vào ông giáo sư, chậm rải:

– Ông vừa nói…Hồ chí Minh chỉ là lãnh tụ kháng chiến…chứ không phải anh hùng dân tộc…Hai danh xưng đó khác hẳn nhau. Hơn nữa,  sau hai mươi năm, các tài liệu của Ngũ giác đài, cơ quan đầu não của bộ quốc phòng Mỹ được bạch hóa…Một tập tài liệu dày mấy ngàn trang về những bí mật trong Chiến Tranh Việt Nam đã được đưa ra cho mọi người tham khảo, nhất là về sự can thiệp của quân đội Mỹ. Những điều tập tài liệu đó cho thấy không giống như một số lớn các sách do những người phản chiến nằm trong các đại học thời đó viết ra…nên ông không biết đó thôi. Chúng tôi muốn đưa vụ này tới những cơ quan có thẩm quyền hơn là trong nội bộ nhà trường.

Chắc vị hiệu trưởng thấy cuộc họp đã đi quá xa những gì ông nghĩ, và muốn bàn riêng với người bên mình, nên ông ta đề nghị tạm thời nghĩ giải lao mười lăm phút trước khi họp tiếp.

Mọi người được mời giải khát bằng cà phê hoặc nước trà. Bốn phụ huynh ra sân trao đổi ý kiến.

Việc đầu tiên, Thành khẽ hỏi Minh:

– Tập tài liệu anh vừa nói…thật ra có những gì?

Minh nói nhỏ vào tai Thành:

– Chỉ nghe thế…chứ mình đâu biết nội dung ra sao…nhưng ít nhất trong lúc này…mình phải “chộ” nó vậy thôi…

Ông Bửu, một phụ huynh học sinh tham gia, khẽ hỏi:

– Nếu đi xa hơn…thì tới đâu?

– Có thể lên học khu…hoặc cao hơn là tòa án.

Minh cũng trả lời theo sự suy đoán của ông thôi.

Trong khi mọi người đang thì thầm bàn luận thì ông counselor họ Trần từ trong đi ra. Bốn phụ huynh học sinh quay lại, yên lặng chờ ông ta tới bên:

Ông counselor cười lấy cảm tình “phe ta”, rồi nói:

– Tôi cũng đồng ý với quý vị là bài Social Science đó bất lợi cho chúng ta. Nhưng những giáo sư trong trường Mỹ họ có quyền dạy một bài học dựa trên những tài liệu được phổ biến trong các trường. Nhưng, mình cũng có quyền chấp nhận hay không. Tôi lấy thí dụ những bài học về tình dục thường được dạy trong các trường Mỹ, phụ huynh có thể  không muốn cho con em mình học. Bây giờ, theo đề nghị của ông hiệu trưởng, ông giáo sư sẽ gửi một thông báo cho quý vị, ai trong chúng ta “say no” bài Social Science đó…thì các em sẽ không phải học.

Ông nhìn sang Minh, rồi tiếp:

– Ông Minh nói những điều mà ông giáo sư chưa kiểm chứng được…nếu mình làm lớn chuyện, sự việc cũng sẽ nhiêu khê lắm…Quý vị nghĩ thế nào?

Sau một lúc suy nghĩ, Thành nói:

– Mình muốn cho nó biết…để từ nay không xảy ra những chuyện như vậy nữa…không con cái chúng ta nó lại nghĩ mình nói với chúng những điều giả dối…

Thành  nghĩ bụng, đâu phải đây là sự khác biệt đầu tiên giữ những gì con em mình học ở trường Mỹ với những điều mình dạy dỗ nó do sự khác biệt sâu đậm giữa hai nền văn hóa. Vì thế, ông khẽ lắc đầu:

– Mình dừng tại đây kể cũng bực…nhưng thôi, họ đã biết điều…đề nghị như vậy cũng được đi. Nếu làm quá, mất mặt anh giáo sư…Nếu lần sau mà còn tiếp tục như thế nữa, chúng mình sẽ tính.

Ông counselor mỉm cười, kết:

– Thì cứ như vậy nhé…chốc nữa, ông hiệu trưởng sẽ xác nhận lại, và ông giáo sư sẽ gửi giấy…để câu chuyện nó xong đi…Thôi cảm ơn quý vị.

Ông counselor quay vào trong.

Buổi họp hôm đó tạm kết thúc như lời ông họ Trần. Nhưng mấy hôm sau, Tuấn hậm hực về báo với cha là vẫn còn một số học sinh thi lấy điểm bài đó. Như vậy có nghĩa là trong nhóm phụ huynh học sinh người tỵ nạn Việt Nam đã có một số “xé rào”, không cùng một tinh thần chống Cộng giống như Minh tưởng. Trong một trường học nhỏ đã như vậy, nói gì tới cả cộng đồng hơn một triệu người Việt trên thế giới…nhất là khi bị bên địch dùng  danh lợi để câu dẫn.

Thành bằng lòng khi thấy Tuấn “có tinh thần chống cộng” không kém gì mình. Nó rất ham mê sinh hoạt công cộng đồng, là phó chủ tịch hội sinh viên Việt nam của trường và có một số bạn bè người Việt. Năm tới, lên lớp mười hai, nó đang hy vọng sẽ nắm chức chủ tịch hội và sẽ làm một tờ đặc san bằng song ngữ Việt-Anh. Thành thường khuyến khích con nghĩ tới tương lai của quê hương, nhất là làm cách nào để tháo gỡ cái gông cùm cộng sản khỏi người dân trong nước. Trước đám bạn bè của Tuấn thường tụ tập làm việc hội đoàn tại nhà mình, Thành luôn luôn nhắc nhở tới trách nhiệm của thế hệ thanh niên đối với quê cha đất tổ. Ông rất hài lòng khi chúng nó tỏ ra nhiệt tình trước những lời tâm huyết của mình. Vì thế, đám thanh niên này thường hăng hái tham gia vào các sinh hoạt, biểu tình chống cộng được cộng đồng người Việt tổ chức trong thành phố nơi họ cư ngụ.

Nhìn đồng hồ đã quá mười một giờ rưỡi, Thành uể oải đứng dậy, vươn vai rồi tắt đèn. Bỗng có ánh đề pha của một chiếc xe nào đó ngoài đường xuyên qua cửa sổ tạo thành vệt sáng lẫn bóng cây chạy dài trên tường khiến Thành liên tưởng tới ánh hỏa châu của thời chiến tranh thủa nào…Ông khẽ thở dài: “Mau thật…gần hai mươi năm rồi!”. Bước chân nặng nề của Thành lê lết trên mấy bậc thang lầu.

CHƯƠNG V

    Chuyện một sinh viên y khoa người Việt tại Florida bị một số sinh viên người địa phương đánh chết trong một buổi họp mặt nhân dịp “birth day” của một cô gái Mỹ mà anh này không được mời, nhưng đi theo một người bạn gái tới dự.

Trong mấy số báo liền, câu chuyện được kể lại từng chi tiết, nhấn mạnh tính cách dã man và kỳ thị chủng tộc của vụ án khiến mọi người trong cộng đồng rất tức giận. Chi tiết đáng chú ý nhất là sự gây gỗ xảy ra do các thanh niên Mỹ đã chế diễu anh thanh niên Việt nam chỉ vì anh này là người Việt nam. Nhiều luật sư người Việt đã chính thức viết thư tới cơ quan tư pháp liên hệ yêu cầu trừng phạt đích đáng các can phạm để làm gương cho kẻ khác.

Đó cũng là một hành động tiêu cực.

Trong các gia đình Việt Nam có con em vào lớp tuổi thanh niên, các bậc phụ huynh đều nhắc nhở chúng về kinh nghiệm của cậu sinh viên ở Florida. Việc làm đó đúng hay không tùy thuộc vào cách nói và thái độ của họ. Nhưng nói chung, không ai là không nghiêm khắc lên án việc làm sai quấy của đám thanh niên thủ phạm.

Các thanh niên Việt nghĩ gì về những lời giáo huấn của cha mẹ? Không ai làm một cuộc thăm dò đó, nhưng trong đám bạn bè của Tuấn, đứa nào cũng có một ý nghĩ tích cực là không thể để cho bọn học sinh địa phương khinh khi. Thành khen ý kiến đó là tốt, và chỉ có thế.

Bẵng đi một thời gian, một buổi sáng Thành đang làm việc trong sở, một cú điện thoại từ cảnh sát thành phố gọi tới:

– Alô, ông Bùi, chúng tôi là trung úy Brown, thuộc cảnh sát Thành phố…

Thành ngạc nhiên, bỏ vội công việc, chú ý nghe, rồi đáp:

– Thưa vâng, tôi họ Bùi, tên Thành.

– Vâng đúng ông. Con trai ông , anh Tuấn Bùi bị chúng tôi bắt giữ vì có liên can tới một vụ án mạng xảy ra tại trường trung học Hyde…

Thành toát mồ hôi hột. Tay cầm điện thọai run lên…miệng lắp bắp:

– Thực sao…hiện nó bị giam ở đâu?

– Con ông còn trong tuổi vị Thành niên nên chúng tôi giữ trong Juvenile Center của Thành phố…số 33 đường Mission…ông có thể đến đó…

Nói xong, ông trung úy cảnh sát cúp máy.

Thành thẫn thờ để ống điện thoại xuống, đầu ống quay cuồng với cả trăm câu hỏi. Không biết có thể vì đời sống trầm lặng của mười mấy năm ở Mỹ khiến Thành trở nên nhút nhát và thiếu bình tĩnh, khác hẳn với lòng can đảm của một nguời lính chiến thời chiến tranh Việt Nam. Ông ngồi thừ ra, không biết phải làm gì…Không biết sự hoang mang trải qua trong bao lâu, bỗng trong trí của Thành thoáng một ý nghĩ: Cần một luất sư. Đúng. Trong lúc này, chỉ có luật sư mới giúp ông tra cứu sự việc xảy ra như thế nào…và giúp thằng Tuất khỏi tội tù, nếu thực nó bị bắt oan uổng, hoặc giảm tội nếu nó có dính líu tới nội vụ.

Không chậm trễ, Thành xin phép nghỉ việc khẩn cấp, rồi vội vã ra bãi đậu xe. Tay Thành còn run, mãi mới mở được cửa xe. Ngồi sau tay lái, Thành tự trấn tĩnh, vì biết nếu hoảng hốt qúa, lái xe rất nguy hiểm. Ông cho xe chạy từ từ ra đường lộ, và rất chăm chú lái xe tới văn phòng một ông luật sư thân hữu.

Thành phải đợi tới mươi phút mới được gặp luật sư Hàm. Đứng trước vẻ thất thần của Thành, Hàm đưa tay bắt, khẽ nói:

– Có chuyện à?

Thành chỉ gật đầu, rồi theo Hàm vào phòng làm việc.

Sau khi ngồi yên vị, Hàm vội lấy bút và tập giấy để trước mặt, rồi nhắc:

– Chuyện gì vậy Thành?

Thành chưa biết bắt đầu thế nào, lắp bắp:

– Thằng Tuấn nhà “moa” bị cảnh sát bắt vì… liên can tới một án mạng tại trường học của nó.

Hàm à lên một tiếng, gật dầu:

– Biết rồi, trường tung học Hyde.Trưa nay…có tới ba, bốn đứa bị bắt…nhưng đều không phải thủ phạm. Bình tĩnh đi…

Thành hỏi:

– Bây giờ làm sao?

Hàm lắc đầu:

– Từ từ…anh cho tôi biết một số dữ kiện về cháu cái  đã…sau đó, mình xin tiếp xúc với nó, tìm hiểu nội vụ…rồi mới biết phải làm gì cho nó…tỷ dụ như xin tại ngoại…

Thành gật đầu. Hàm hỏi tên, tuổi, lớp học của Tuấn, ghi chép nó vào hồ sơ, rồi nói:

– Chắc họ giữ mấy thằng nhỏ ở Trung Tâm Cải Huấn thiếu nhi…

– Juvenile Center…

– Đúng rồi…Anh để tôi thu xếp công việc, rồi mình tới đó.

Nửa giờ sau, hai người đã có mặt ở phòng đợi của trung tâm thiếu nhi phạm pháp. Hàm nói chuyện với nguời cảnh sát trực, rồi quay lại chỗ Thành ngồi, Hàm nói:

– Nó bị giam tại đây…nội vụ chưa rõ ràng nên chúng ta không tiếp xúc được với cháu…

Thành thất vọng, thở dài:

– Vậy bây giờ…

Hàm ngồi xuống ghế bên cạnh Thành, nói:

– Mình ngồi chờ họ liên lạc với bên trong để biết tối nay…mấy giờ chúng trình diện chánh án…sau đó mới biết có thể “bail” nó ra với một cái “bond” là bao nhiêu…rồi mình mới lấy nó ra được.

Thành nhăn nhó:

– Khổ thực…thằng này có tính bốc đồng lắm…thấy việc trái mắt…nó nổi nóng liền…nhưng…chắc chắn không bao giờ dám nghĩ tới giết người đâu…

Hàm gật đầu:

– Tôi biết tin vào xế trưa…Một học sinh da trắng Mỹ bị một bọn ba đứa học sinh “Á Đông” ở một trường khác tới bắn chết trên lối đi vào trường học…trong giờ ăn trưa. Nghe nói hôm trước, có một cuộc cãi vả giữ bọn học sinh da trắng với nhóm học sinh Việt nam trong trường…và nạn nhân hôm nay là một trong những đứa học sinh đó.

Thành tròn mắt ngỡ ngàng:

– Thằng Tuấn?

Hàm gật đầu:

– Cháu Tuấn không phải là thủ phạm…vì nhân chứng nói ba thủ phạm đã trốn thoát…nhưng có thể Tuấn nằm trong bọn học sinh Việt nam cãi vả hôm trước…Mình không đủ dữ kiện nên đừng suy đoán vội…

Người cảnh sát ngồi sau quầy làm việc đứng lên đưa tay ra hiệu, Hàm hiểu ý, dời chỗ ngồi, đi tới. Thành cũng vội chạy theo sau.

Người cảnh sát nhìn Hàm nói:

– Mười một giờ đêm nay có “hearing”.

Hàm cảm ơn, bắt tay người cảnh sát:

– Cảm ơn ông…mười một giờ chúng tôi tới…

Thành coi bộ chưa thỏa mãn, khẽ hỏi:

– Mình về à?

Hàm quay ra, đẩy Thành về phía trước, vừa gật đầu, vừa nói:

– Ừ…về chứ, ở đây cũng vô ích thôi…Hiện chúng nó bị giam ở đây…Nói là giam chứ chúng cũng được tự do đi lại…xem TV, đọc sách chờ gặp chánh án, lúc đó mới có quyết định.

Ra tới xe, Hàm chợt nhớ ra điều quan trọng, quay sang Thành:

– Tối nay mình phải sẵn có một cái “bond” để nếu họ cho phép, mình sẽ “bail” nó ra…

Thành sáng mắt lên:

– Ra ngay?

Hàm thận trong:

– Có thể…vì còn tùy mức độ liên can của Tuấn với vụ án.

– Chừng bao nhiêu tiền…

– Có thể lên tới năm chục ngàn…

Thành lưỡng lự:

– Năm chục ngàn…

Hàm cười, lắc đầu:

– Không mất đâu…đây chỉ là tiền thế chân…để bảo đảm nghi can phải trình tòa theo đúng ngày giờ tòa gọi ra…nếu nó trốn thì tòa mới lấy số tiền này. Nếu mình sẵn tiền thì nộp cho tòa, sau này vụ án kết thúc, họ sẽ trả lại. Nếu mình không sẵn thì mua một cái “bond” năm chục ngàn cũng được.

Thành gật đầu:

– Thôi mua bond đi…nhưng mua ở đâu?

– Đừng lo, tôi sẽ gọi một hãng bán bond tối nay tới với mình…Bây giờ, anh về nghỉ, tôi sẽ gọi một ve nơi…tìm hiểu thêm nội vụ, tối nay, mười một giờ, mình tới đó.

Thành không an lòng, hỏi lại:

– Sao không tới sớm hơn?

Không cần…mười một giờ có “hearing”, ít nhất mười hai rưởi, một giờ mới có kết quả…mình tới sớm cũng vô ích thôi.

Thành dời văn phòng luật sư  Hàm, lái xe về. Nghĩ tới Tâm mới bị lay-off mấy bữa nay đang ở nhà, nghe tin này chắc Tâm xúc động lắm. Có lẽ lúc đầu, ông phải nói thế nào để Tâm yên trí…Tuấn chỉ bị nghi ngờ…thôi…chuyện cũng không đến nỗi nào…hơn nữa…mình cũng đã có luật sư rồi…Suy đi, nghĩ lại…cái tâm lý chung ai cũng muốn…lừa dối cả chính mình trước khi lừa dối người khác…Vì vậy…mà về tới nhà Thành khá bình tĩnh khi đứng trước mặt Tâm báo tin Tuấn bị bắt.

– Lạy Chúa tôi…làm sao bây giờ?

Trước sự hốt hoảng ban đầu của Tâm, cũng giống hệt như lúc Thành nghe người trung úy cảnh sát báo tin, Thành lắc đầu:

– Không sao…anh đã cùng với anh luật sư Hàm vào đó rồi…Người ta chỉ tạm giữ…để điều tra về thủ phạm thôi…Tối nay, có thể nó sẽ được thả.

Mặt Tâm vẫn chưa hết tái xanh:

– Thực không…Cái thằng đó…hay anh hùng rơm lắm cơ…

Thành binh con:

– Mình đâu đã biết ất giáp gì đâu…mà đã la nó…

Tâm hừ trong cổ họng, quay đi:

– Cứ chơi bời với đám…”Việt Nam” đó…rồi cũng có ngày vào tù…Mấy đứa choai choai băng đảng đầy rẫy…thiếu gì…

Ô hay cái bà này…Giận cá chém thớt!

Quả đáng tội…theo một chuyên viên về thiếu niên phạm pháp, năm mươi phần trăm học sinh trung học có súng trong xe…sáu mươi phần trăm nói mua súng, mua bạch phiến lúc nào cũng có…và các vụ ăn cướp trong vùng, từ nhỏ như cậy cửa vô nhà người ta lấy TV, stereo tới đánh cướp có kế hoạch những hãng điện tử mà một chuyến ăn hàng lên tới tiền triệu…do băng đảng người Việt không thiếu…

Thực khổ, lúc nhỏ lo cho chúng ăn, ngủ, bệnh hoạn, đưa đi, đón về học…cũng đã mất nhiều thì giờ…lớn lên…khi chúng tự lo được cho mình…chẳng lẽ giữ riết trong nhà…nó cũng ngu người đi…mà cho ra ngoài…thì lại lo vướng mắc tội nọ vạ kia. Dù con mình không xấu, nhưng vô tình ngồi trên xe hoặc chở một đứa bạn xin quá giang…chẳng may trong xe nó có đồ quốc cấm…như súng đạn, “drugs”…hay đứa ngồi trên xe làm điều phạm pháp, con mình cũng bị lôi thôi. Tuy thế, để tránh những gì có thể bị coi là đi ngược lại những quyền của con người …vì bậc làm cha mẹ chen lấn quá đáng đến độ có thể gọi là “abuse” vào đời tư của con cái…Thành chỉ nhẹ nhàng giải thích với các con…mà không đưa ra những biện pháp cứng rắn.

Nay, thực tế đã chứng minh cho Thành thấy phương thức giáo dục của mình tưởng đã khôn ngoan…nhưng con anh cũng không tránh khỏi những bất hạnh…có thể không do nó làm ra.

Tâm ngồi thờ thẫn, thỉnh thoảng lại nhìn ra ngoài thở dài. Thành mở TV xem, chờ tới phần tin tức địa phương xem có thấy nói về vụ án mạng ở trường của Tuấn không.

Buổi chiều tới thực chậm và nặng nề. Mấy con se sẻ sà xuống kiếm ăn ngoài sân sau, tiếng kêu chép chép càng thêm sốt ruột.  Tâm không buồn đứng lên nấu cơm khiến Thành phải giục tới hai ba lần.

– Chuyện đâu còn đấy…mình ăn cơm rồi còn lo đi với anh Hàm vào chỗ thằng Tuấn chứ.

Trong khi Tâm cắm nồi cơm điện, hâm lại nồi thịt kho thì Thành ngồi suy nghĩ. Ngoài Tuấn ra, còn những đứa nào nữa? Chúng cãi nhau về chuyện gì mà có thể đưa tới án mạng. Nhưng đã chắc gì hai việc có liên quan với nhau chứ, nhất là thủ phạm lại không học cùng trường. Hay là họ có những bằng chứng cụ thể để kết tội mấy đứa này?

Sáu giờ, trên đài 11 có tin buổi chiều. Thành hồi hộp chờ đợi bản tin về án mạng. Nhưng, anh hơi thất vọng khi bản tin nói tóm lược quá, không sáng tỏ hơn những gì ông biết. Có điều, tên các nghi can không được tiết lộ vì chúng đều còn ở tuổi vị thành niên.

Bỗng có tiếng Hoa nói sau lưng làm Thành giật mình quay lại:

– Ba à, ở trường thằng Tuấn đấy…

Hoa chưa biết Tuấn bị bắt. Cô nói tiếp:

– Buổi trưa, con nghe radio trên xe…họ nói rằng…chuyện xảy ra có thể do sự tranh chấp giữa hội học sinh Việt Nam và nhóm học sinh Mỹ…Thằng Tuấn là hội trưởng…không biết có sao không?

A, một chi tiết mới. Thành nhìn Hoa, khẽ nói:

– Chắc vì thế mà thằng Tuấn bị giữ rồi…

Hoa há hốc miệng la khẽ:

– Chết thật…có sao không ba?

– Người ta nghi nó là đồng bọn với tụi giết người…

Hoa vừa mếu máo, vừa lau nước mắt…vì bỗng nhiên… cô liên tưởng tới tội của mình…hay vì ta mà Chúa phạt gia đình mang tai họa lớn như thế?

Thấy Hoa khóc, Thành đành an ủi:

– Nhưng không sao…ba đã vào nơi giữ nó với bác Hàm…tối nay nó có thể được về. Người ta chỉ nghi ngờ thôi mà, con.

Hoa lên nhà thay đồ. Cơm dọn ra, để mãi mới họp đủ mấy người trong nhà. Thằng Thái sang hàng xóm chơi, vừa ló mặt về đã bị mẹ la:

– Còn mày nữa…đi chơi lắm cơ…rồi cũng có ngày vào tù…

Thái xịu mặt xuống, lẳng lặng ngồi vào bàn ăn.

Bốn người ăn trong uể oải. Mãi lúc sau, thằng Thái mới nói:

– Bên bác Mạnh nói hôm qua tí nữa có đánh nhau trong trường anh Tuấn…hôm nay một thằng Mỹ bị bắn chết…Anh Tiến con bác ấy cũng bị bắt rồi.

Thành nghe thằng Thái nói, ăn vội cơm, rồi lấy điện thoại ra bàn uống nước gọi cho Mạnh.

– Anh Mạnh hả, tôi Thành đây…khổ quá…hôm qua trong trường chúng nó có chuyện gì vậy? Thằng Tuấn nhà này cũng bị giữ rồi!

Khi biết Thành cùng cảnh ngộ với mình, Mạnh thở dài:

– Nghe thằng Bắc nói…tụi học sinh Mỹ hay Mễ gì đó định phá cái chương trình văn nghệ kỷ niệm Ba Mươi Tháng Tư sắp tới của bọn học sinh Việt Nam…rồi gây ra cãi nhau. Hôm nay sảy ra án mạng…

Tai Thành nóng bừng bừng:

– À ra là thế…nên cảnh sát mới nghi bọn trong ban đại diện hội học sinh Việt…có dính dáng tới vụ án…Đâu có thể thế được…tụi cảnh sát kỳ thị mình…nên mới bắt lung tung đó thôi…

Có thể đây cũng là một hình thức do kỳ thị chủng tộc…như bên Florida…nhưng ngược lại, đứa mất mạng là thằng Mỹ…

Thành cho Mạnh biết mình sẽ vào Juvenile Center tối nay để lo cho Tuấn. Mạnh cũng nói đã liên lạc với một luật sư…nhưng chưa có quyết định gì ngay bây giờ. Có thể, Mạnh sẽ yêu cầu ông ta lo cho thằng Bắc ra. Trước khi cúp điện thoại, Thành dặn:

– Việc chưa ngã ngũ ra sao, mình nên kín miệng.

Thành buông điện thoại, quay lại tóm lược câu chuyện cho Tâm nghe, rồi mệt mã, ngồi thừ ra.

Đột nhiên có tiếng điện thoại reo làm mọi người giật mình. Đúng là khi có chuyện lo lắng, tâm thần bất ổn, mỗi một tiếng động bất ngờ cũng làm xao động trong lòng. Thành vội đứùng dậy chộp lấy ống nghe:

– A lô…tôi  Thành đây.

Bên kia, tiếng đàn ông ồm ồm:

– Ông Thành hả…tôi Tài đây…Tài Biệt Động Quân ấy mà…

Thành nhớ ra ngay, hỏi:

– Thằng Bắc nhà ông sao?

Bắc là phó hội trưởng của Tuấn, chắc không thể ngồi yên. Đúng như  Thành đoán, Tài nói:

– Thì đâu có tránh được. Nhưng đếch sợ…chắc gì chúng làm gì được nhau. Ông tính có hỗn không…thằng Bắc nói… chúng nó bị cái thằng bị bắn chết chửi: “Đồ chó đẻ…chúng mày có giỏi thì về Việt Nam mà tổ chức…đừng ở đây làm phiền chúng tao”. Đéo mẹ nó, đáng đời thằng KKK.

KKK viết tắt tên nhóm da trắng kỳ thị chủng tộc một cách tuyệt đối Klu Klux Klen, thường có những hành động đốt nhà, giết người thiểu số một cách có tổ chức với một thứ trang phục mầu trắng, có mào đội kính đầu, chỉ chừa hai mắt trông như hồn ma…

Thành khẽ can:

– Ông Tài à…mình còn ở xứ người…đừng gây thêm bất ổn…

Tài hừ trong miệng, rồi đáp, giọng không vui:

– Ông cũng lính tráng như tôi sao mà yếu xìu vậy…Sống nơi nào, mình cũng phải tranh đấu để bọn chúng đừng khinh mình…nhất là bọn trẻ…phải tập cho chúng có chí khí chứ…

Thành gạt đi:

– Vẫn biết thế, nhưng giữa xứ người, mình nên có một thái độ khôn ngoan hơn là nóng nẩy, hành động bừa bãi….Ở đây súng đạn nhiều như củi khô…rồi chúng nó hăng lên, gây thành vạ lớn đó.

Tài yên lặng một lúc, rồi hạ giọng:

– Nói vậy chứ…chẳng có chứng cớ gì mà kết tội mấy đứa nhà mình…anh yên trí đi.

Hừ, yên trí thế nào được chứ?

Rời điện thoại, Thành ngồi suy nghĩ lý luận của Tài. Cương, nhu không phải cái nào xấu, cái nào  tốt…nhưng biết xử sự đúng lúc mới là khôn ngoan. Trong trường hợp này là một kinh nghiệm để mình suy nghĩ về cách dạy dỗ con mình. Tán thành những phương thức trả thù, bạo động như vậy là thiếu chính chắn.

Mười một giờ rưỡi tối, vợ chồng Thành đã có mặt tại Juvenile Center. Mươi phút sau, Thành tới với một người Mỹ trắng. Hàm giới thiệu Harris, người bán bond với Thành. Mọi người ngồi xuống ghế chờ đợi.

Thành được Harris hỏi một số chi tiết để ông ta làm bond cho Tuấn. Hiện chưa biết số tiền là bao nhiêu.

Hàm thì thầm trấn an Tâm vì anh biết người mẹ nào cũng quan tâm tới con một cách đặc biệt.

Hàm nhìn đồng hồ, rồi đi lại chỗ người cảnh sát trực. Sau đó, Hàm quay lại, nói với vợ chồng Thành:

– Xong rồi…anh chị ngồi đây đợi tôi. Yên tâm đi.

Nói xong, Hàm cười xòa, xách cặp đi tới một cái cửa ngách để vào trong.

Thành sốt ruột ngồi chờ. Harris khẽ nói:

– Luật sư họ có thể biết những tin tức về buổi “hearing” cũng như có được “bail” hay không và…cần cái bond bao nhiêu tiền.

– Có trường hợp nào họ không cho “bail” ra không?

– Khi họ nghi là thủ phạm một trọng tội…và còn cần phải cách ly để điều tra hoặc bắt thêm thủ phạm khác.

Thành hoang mang không biết trường hợp Tuấn thế nào…Mắt ông mở trừng trừng nhì dán vào chiếc cửa nhỏ của dãy hành lang bên trong. Còn bà vợ thì hết đứng lên ngồi xuống, lại thở vắn thở dài.

Có tiếng kẹt cửa, Thành đứng vùng dậy. Đúng rồi, Hàm đi ra với nụ cười trên môi làm Thành như bỏ được cục đá tảng đang đặt trên ngực. Cả hai vợ chồng anh tiến lên đón Hàm.

Hàm gật đầu:

– Xong rồi…chừng nữa giờ nữa cháu nó sẽ ra…

Thành rối rít:

– Cảm ơn anh…

Hàm quay sang Harris:

– Ông bạn, làm cái bond mười ngàn…

Harris cười, nói:

– Được, tôi làm ngay. Cũng nhẹ thôi.

– Ừ…vì nó không phải là nghi can…

Thành đứng cạnh không hiểu câu chuyện, nhưng nghe Tuấn không phải là nghi can…cũng mừng. Nhưng không là nghi can…thì làm sao lại bị bắt giam…Anh đang định lên tiếng hỏi thì Hàm cười, nói trước:

– Thằng Tuấn là người đứng ra chịu trách nhiệm cái hội Học Sinh Việt Nam…vì nếu không…cảnh sát bắt tất cả những đứa trong hội của nó có mặt lúc cãi vả với bọn Mỹ…Nhưng thực ra…mấy đứa kia cũng chẳng việc gì…vì cảnh sát không có bằng chứng cụ thể…mà chỉ căn cứ vào lời của nạn nhân chửi đám Việt Nam là “đồ chó đẻ” hôm trước để suy đoán là bọn này âm mưu nhờ băng đảng bên ngoài thanh toán…thằng đó. Mấy nhân chứng bên kia cũng không có lời khai rõ ràng hơn là câu chửi có tính cách kỳ thị của nạn nhân.

Thành hỏi ngay:

– Anh nghĩ trong vụ này cảnh sát có làm quá đáng không?

Hàm cười:

– Nói về cách hành xử của cảnh sát ở xứ này…như chuyện “nhân dân tự vệ” của ta ngày xưa…có điều chẳng may mình dính vào thì gỡ cho ra mà thôi.

Harris đã làm xong tờ bond để “bail” cho Tuấn ra. Thành ký chi phiếu năm trăm để trả lệ phí cho ông này. Vì ông này là chỗ làm ăn với Hàm nên lệ phí này coi là nhẹ. Thành cảm ơn công việc của Harris, nhất là ông ta còn đến tận đây giúp anh.

Hàm cầm tờ bond đến chỗ người cảnh sát để họ chuyển vào trong.

Mười hai giờ hơn, Tuấn được thả.

Vợ chồng Thành và Tuấn cảm ơn luật sư Hàm. Hàm nhắc chừng:

– Từ nay, cháu đừng khai gì cả khi không có chú. Cháu không có mặt lúc cãi nhau, lẽ ra chẳng việc gì…nhưng cháu đã trót nhận trách nhiện cho hội viên…nên thành ra chuyện…Nhưng cũng không sao, yên tâm về đi học như thường.

Trên đường về nhà, Tâm cứ trách móc Tuấn nhiều chuyện. Nhưng cậu con chưa tới mười tám tuổi đã chững chặc trả lời:

– Chúng nó bầu con làm hội trưởng làm gì…nếu con không giúp gì cho chúng nó. Con biết…mình chẳng có tội gì…nên con không sợ.

Đó là lối suy nghĩ…của một đứa hiểu câu “In God we trust”…một cách ngây thơ.

Tuấn khẽ thở dài:

– Nhưng con không ngờ lại bị bắt giam…

Nhờ vậy…sau này anh chàng sẽ…khôn hơn chăng?

Thành chen vào:

– Con nghĩ đúng, nhưng nhiều trường hợp…mình không có tội…mà vẫn bị tù oan uổng như thường. Thôi lần này là một kinh nghiệm…

Dù mắng con, nhưng vợ chồng Thành cũng yên lòng vì trường hợp của Tuấn không mấy lo ngại.

Sau một tuần, tất cả ba đứa bọn Tuấn đều được đóng “bail” để ra. Cuộc điều tra của cảnh sát dần dần đi đến chỗ không đủ bằng chứng buộc tội bọn chúng. Tuy nhiên, vụ án còn mất nhiều thời gian để truy tầm thủ phạm.

Vụ này làm cho các đoàn thể trong cộng đồng người tỵ nạn Việt Nam xôn xao, lên tiếng phản đối cảnh sát, nhất là người ta nói thằng Bắc có hình trong cuốn sổ đen do cảnh sát chụp bừa bãi trong các quán ăn, nơi giải trí bằng game điện tử, quán cà phê…cuốn sách mà đã rất lâu, giá trị và sự xuất hiện của nó bị cộâng đồng Việt lên tiếng bác bỏ, nhất là lối làm việc không đúng của cảnh sát địa phương.

Tuy nhiên, để xoa dịu sự tức giận và đau buồn của gia đình nạn nhân, cộng đồng người Việt cũng đi một vòng hoa và cử đại diện đến dự đám tang như là một cử chỉ chia xẻ, cho dù bên kia họ có thể nghĩ đây là một hành động xin lỗi cách gián tiếp. Dĩ hòa vi quý!

                                                        CHƯƠNG VI

    Tài đón Bắc với một câu chửi thề:

– Địt mẹ chúng nó, tưởng muốn làm gì ai thì làm à.

Cảnh sát xứ nào cũng thế,  dù có giúp cho cộng đồng được sống trong an ninh, nhưng họ vẫn bị ngộ nhận là người hay làm khó dễ dân chúng. Câu văng tục của Tài chẳng có nghĩa gì ngoài cái mẽ tự đắc của mình.

Khi hai cha con về đến nhà, Tài còn lên mặt với con:

– Mẹ kiếp, dù chúng mày có nhờ mấy thằng trong băng đảng chăng nữa, không có bằng cớ cũng đếch làm gì được nhau. Đây là xứ tự do chứ đâu phải như bọn cầm quyền Cộng sản.

Câu nói đầy mâu thuẫn của Tài…chứng tỏ một lối suy luận thực nông cạn.

Tài đưa vợ con vượt biên vào thời điểm của những năm sóng gió nhất ở vịnh Thái Lan…gây ra do bọn cướp biển. Cuộc vượt biên đầy máu và nước mắt…vì ghe của Tài bị cướp chặn lại tới hơn mười lần. Những lần sau, không còn của, nhưng còn một số đàn bà trên ghe cũng đủ để bọn giặc làm những mẻ thỏa mãn dục tình. Vợ Tài bị cướp đưa lên tầu mấy lần…không kể vài lượt chúng lột ra làm ngay trước mắt những người đồng hành, trong đó có Tài và thằng Bắc! Đau đớn cùng cực, nhưng bến bờ tự do vẫn là một niềm an ủi của tất cả mọi người, kể cả những người chồng có vợ bị cướp  hãm hiếp với những tủi nhục ghi sâu vào tâm khảm hầu như không thể phai nhòa.

Sau khi may mắn tới được trại tỵ nạn Thái Lan, nỗi bất hạnh của vợ Tài tưởng đâu đã nguôi ngoai nhờ gia đình anh được phỏng vấn và cho phép định cư tại Mỹ, nhưng nó lại phát sinh một vấn đề khác…khó khăn không kém: vợ Tài có bầu!

Trước vợ Tài còn giấu, nhưng sau cái bụng càng ngày càng nảy cao…khiếân Tài vặn hỏi lung tung. Qua những đêm trằn trọc nằm vắt tay lên trán suy nghĩ…Tài mới “khám phá” ra rằng…dù…sao…người đàn bà vẫn là một sinh vật cái…nếu bị kích thích…thì dù bởi thằng cướp biển cũng vẫn gây cho họ…những khoái cảm! Hết thằng này làm…đến thằng khác làm…thì cũng có lúc “dính”. Trong thời gian lênh đênh ngoài biển…anh đâu có “đụng” tới vợ mà có bầu với anh được. Cái hận của người chồng thấy vợ có bầu không do mình…ngày một lớn lên trong lòng Tài. Đêm đêm nằm bên vợ, liếc mắt nhìn trộm với bao ý nghĩ hờn ghen, khinh ghét. Cái thân xác đó…hàng mấy chục thằng đàn ông khác ôm ấp, mơn trớn, leo lên, trụt xuống đã đời…Bây giờ còn để lại chứng tích nữa! Nhất định phải phá cái thai này…vì Tài không thể…sống những ngày còn lại của cuộc đời, dù ở bầu trời tự do, giầu sang phú quí…với cái gai trong mắt đó, chưa kể làm bia miệng cho người cười! Anh nói quyết định đó với vợ. Vợ Tài ậm ừ cho qua chuyện. Nhưng, trong trại tỵ nạn làm cách nào thực hiện được việc phá thai. Nhiều lúc anh muốn đấm, đá vào cái bụng đó cho nó trụy thai luôn, nhưng chưa có can đảm làm. Không phá được, cái bụng của vợ Tài cứ lớn lên mãi khiến Tài vô cùng xấu hổ và…tức giận. Vì thế, Tài trở nên cắm cẳn, cộc cằn, nhất là đối với vợ!

Bảy tháng sau, gia đình Tài được một nhà thờ bảo trợ về một Thành phố miền bắc tiểu bang New York.

Ngay những ngày đầu tiên, Tài đã bất mãn khi những người trong nhà thờ bảo trợ săn sóc vợ Tài một cách đặc biệt… vì chị đang mang bầu. Họ đưa vợ Tài đi khám bác sĩ thường xuyên, vui mừng báo tin cái thai là một bé trai khỏe mạnh và lo sửa soạn trước tất cả những thứ cần thiết cho đứa bé sắp chào đời. Nào là quần áo, dớ, chăn nệm, bình sữa, tã lót, phấn rôm,  giường mùng và cả đồ chơi nữa.  Nhiều bà, mỗi lần tới thăm, âu yếu xoa bụng vợ Tài khen ngợi…và tỏ ý mong chờ đứa bé. Họ không quên nhắc nhở thực đơn của những bữa ăn cần cho một bà bầu…cách đi đứng, ngủ nghỉ…thế nào để đừng làm hại tới cái thai.

Nỗi đau khổ trong lòng Tài khi nhìn những cảnh tượng đó không thể chia xẻ với ai…nên nó thường bùng ra ngoài bằng những cuộc cãi vả với người vợ. Phá thai!Phát thai!Phá thai!

Nhưng, vợ Tài lại đổ thừa:

– Anh muốn gì thì nói với bà May đi, bả là người phụ trách vấn đề sức khỏe của gia đình mình…sao lại đổ lên đầu tôi?

Tài gằn từng tiếng:

– Chính cô phải nói ra…để chứng tỏ quyết tâm của cô đối với thằng mọi này.

Vợ Tài như bắt thóp được ông, có vẻ thách thức:

– Tôi không có can đảm…anh muốn gì thì  anh cứ làm…đi.

Những câu này cứ được lặp đi lặp lại trong những cuộc gây gỗ. Lần cuối cùng, vợ Tài nói thẳng ý của mình:

– Dù sao, nó cũng là “con” của tôi…nó vô tội…

Tài nóng mắt, hét lên, nói thẳng ra những ý nghĩ thầm kín trong đầu:

– A, mày trắng trợn xác nhận rồi nhé…thế ra mày đã bằng lòng lấy thằng cướp biển đó lúc nào hả…lúc nó nằm trên bụng mày phải không…đồ đàn bà trắc nết! Đồ khốn nạn! Sướng nhé…Mai đăng báo Thái Lan tìm thằng bố của nó đi, để nó sang đây săn sóc hai mẹ con!!!

– Đó không phải là lỗi của tôi…càng không phải lỗi của đứa bé…

– Không, nếu mày còn coi tao là chồng…thì phải tự nguyện đi phá cái thai đó ngay…như vậy mới chứng tỏ được phần nào…phần nào thôi sự trung Thành của mày…trong cái giây phút nhơ nhớp đó!

Vợ Tài tủi thân quá, khóc rống lên, nói qua nước mắt:

– Mới…bắt đầu như ở trong trại…thì có thể…nay nó đã lớn…Thành đứa trẻ rồi…làm sao nỡ…

Tài bêu rếu:

– Tức là mày công nhận thứ giặc cướp đó là con rồi, thấy không? Mai này…thằng Bắc phải thương nó như em ruột…Trời ơi, nhục ơi là nhục…Muốn sống ngày mai báo cho họ đưa phá nó ngay lập tức.

Vợ Tài cũng điên lên:

– Không được…Anh mà phá nó bây giờ…anh sẽ mang tội giết người…

Tài túm lấy vợ…tống một cái vào bụng…không hề sợ cái tội…giết người…làm chị ngã lăn xuống đất. Với cú đấùm đó, Vợ Tài biết được ác ý của chồng, chị vội xoay người lại, nằm úp bụng vào tường để lưng hứng mấy cái đạp đau tức tới cổ, đỡ đòn cho thằng con oan nghiệt khỏi thiệt mạng.

Thôi, tất cả đã rõ…không còn úp mở…không còn bàn cãi. Hai ý kiến là hai thái cực. Ai cũng nhân danh lẽ phải để bảo thủ ý muốn của mình.

Sau trận bị đòn, vợ Tài nằm lỳ trong buồng cho đến chiều hôm sau thì chuyển bụng. Chị  ú ớ gọi điện thoại cầu cứu và được bà May hấp tấp đưa vào bệnh viện.

Không cần biết vụ sinh nở như thế nào, ngay đêm vợ vào bệnh viện để sinh, Tài đã lẳng lặng cùng thằng Bắc ra xe với những đồ tùy thân cần thiết, bỏ thành phố, theo xa lộ lái về California.

Tài đã âm thầm hoạch định chuyến đi, từ tiền bạc tới đường đi nước bước. Vì thế, sau năm ngày lái xe, Tài đã tới nhà một người bạn tại một thành phố vùng Vịnh San Francisco. Tài lập nghiêïp ở đây bằng một nghề assemply. Ông quên hẳn người vợ trước, nhưng cũng không chính thức lấy một người đàn bà nào làm vợ. Nhờ ở xứ này tự do, Tài sống buông thả theo ý mình, cũng chẳng có ai buồn thắc mắc về cuộc sống đó. Nhưng, mỗi khi nghĩ tới những bất hạnh của mình, Tài đều qui lỗi cho Việt Cộng và…Mỹ. Bắc bị người cha nhồi sọ coi cộng sản như là kẻ thù “bất cộng đái thiên”. Dĩ nhiên, sang tới Mỹ rồi…thì còn chung sao được bầu trời! Cả Mỹ, Bắc cũng không có cảm tình…nhất là mấy thằng trong trường…Hai bố con chỉ yêu…đô la Mỹ mà thôi, kể cả ông tổng thống Hiệp Chủng Quốc!

Trong những trường hợp éo le như Tài, người đời đều khuyên ông chồng nên có lòng độ lượng, một thái độ quân tử để chấp nhân đứa nhỏ…vì quả thực nó là con người bị sinh ra bất đắc dĩ và vô tội…Người vợ cũng vậy…số không may run rủi…chứ ai muốn mang cái bào thai oan nghiệt đó để không những làm bia cho thiên hạ cười mà mỗi khi thấy nó lại nghĩ tới cảnh hãi hùng ngày trước. Nói thì dễ, nhưng nếu ai có ở hoàn cảnh của Tài mới thấy được cái danh quân tử chẳng nghĩa lý gì so với những mất mát to lớn của mình.

Buổi tối hôm Bắc được thả, hai cha con mua đồ nhậu về chè chén với nhau suốt đêm.

Tài nốc một hơi martel, khà một cái khoái trá, nói mẽ:

– Mình cũng phải giữ chí khí một chút chứ…Thằng Thành gọi tao…run như con gà chết! Tao bảo tao đếch sợ…mày có tội tình gì đâu mà lo…rồi cũng sẽ được tha…Y như lời tao nói, có sai đâu. Mình cũng phải có một vài vụ như vậy cho bọn ở đây đừng khinh mấy thằng Việt Nam. Mày giống tao đó…mười chín tuổi tao đăng lính, đánh nhau cả trăm trận…nguyên tay tao hạ Việt Cộng nhớ không xuể…Tao mà còn trai trẻ tao đã về với mấy ông kháng chiến ở biên giới Cam-bốt rồi…

Bắc được cha cho uống lưng ly, cũng nổi hứng:

– Con có sinh hoạt với mấy ông kháng chiến của tướng Hoàng Cơ Minh…họ hay lắm ba à…

Tài gật đầu:

– Hay chứ…nhưng tại người mình làm hư mấy ổng thôi…Nếu cứ như thời mới nổi…thì giải phóng đất nước mấy hồi…Chung quy cũng chỉ vì thiếu đoàn kết thôi. Tao nghĩ, người mình phải học cái lão Arafat của người Palestine. Rồi mày xem, có ngày họ sẽ thành công!

Hớp một ngụm rượu, Tài khà một cái, ba hoa:

– Trong truyện kiếm hiệp của Kinh Dung, tao khoái nhất nhân vật Mộ Dung Công Tử. Dù tác giả đưa đẩy ông ta tới chỗ có những hành động sai quấy…vào phút chót. Nhưng tinh thần “yêu nước Yên” của ông ta đáng làm gương cho chúng ta. Phải yêu nước như thế mới có cơ khôi phục quê hương. Việt Nam mình cần có một “Mộ Dung Cô Tô”!

Câu chuyện xưa như trái đất. Bắc ngồi nghe cũng chẳng biết góp lời gì cho hợp ý cha. Cuối cùng, hắn đưa đẩy:

– Con nghĩ được như ông Lý Tống cũng là ngon! Hoặc có được mấy ông như  Rambo của Mỹ… trị bọn  Cộng sản mới đã!

Tài cười, lè nhè:

– Lý Tống…hắn dại…Nhẩy dù xuống Saigon, anh hùng thực…nhưng để cho chúng bắt được là kém…Tao mà như  hắn, nhét vào túi mấy trăm ngàn đô la…tới đâu, rải ra tới đó…không cần nhiều…mỗi đứa một trăm thôi…thì trốn chỗ nào chả được…Cán bộ Cộng sản bây giờ…ăn hối lộ như điên…có tiền là qua cầu thôi…Rồi, có tiền thì mới bịt mắt được công an, cán bộ, mới kéo được vây cánh, lập được chiến khu…chứ tay trắng…ở Việt Nam lúc này chẳng ai theo…

– Được vài triệu thì…

– Là “dua” rồi…Lương tháng công an chưa tới hai chục đô…giáo sư chưa được năm chục đô…mày trả nó một trăm đi…thì nó kêu mày là “dua” là cái chắc…

– Bây giờ là tổng thống…chứ ai còn là “dua” nữa ba…thời dân chủ mà!

– Ừ thì tao nói thế… “dua” hay tổng thống cũng được, miễn không có bọn Cộng sản thì thôi.

Trời đã rất khuya, Tài uống xong hớp rượu cuối cùng, đứng lên, ngáp dài, nói:

– Mai nghỉ học dưỡng “quân” một ngày…mốt hãy hay. Thôi đi ngủ!

Bắc cũng hơi choáng váng, lảo đảo tới tắt đèn rồi mò mẫm về phòng với những Mộ Dung Cô Tô, Lý Tống, Rambo chạy loạn trong đầu.

                                                    CHƯƠNG VII

   Đây là khu tồi tệ nhất của vùng downtown. Mặt tiền, một chiếc bảng hiệu mầu xanh nhạt cũ kỹ, hai chữ tên hiệu Billard Club màu đen , nhiều chỗ sơn đã bị tróc trơ phần gỗ mầu nâu dơ bẩn. Cái cửa ra vào hẹp, vừa một người qua, nhưng khi vào bên trong, mới thấy căn phòng khá rộng. Mười hai cái bàn billard sắp thành hai hàng chạy dài tới bên trong, lúc này bàn nào cũng có người chơi, dù hôm nay là ngày thường. Khói thuốc mờ mờ bay, mùi cay khe lỗ mũi. Tiếng lách cách của những quả banh gỗ đụng nhau hòa lẫn với những tiếng rít lên của khu chơi game điện tử ở cuối phòng cùng với tiếng cười nói của khách tạo nên một thứ âm thanh khiến cho những ai chưa quen phải chói tai, nhức óc. Dọc theo bên sát tường là hai hàng bàn ghế ngồi giải khát. Ai mới tới

đi lại vô ý là đụng vào những chiết gậy thụt banh của những người đang chơi đứng quanh hoặc nằm dài bên cạnh các bàn (pool table). Trong cái ánh sáng mờ nhạt của hàng đèn néon chạy dài ở giữa trần nhà từ đầu tới cuối phòng còn quyện khói thuốc chỉ đủ làm sáng dẫy bàn chơi banh, nó không soi rõ tới những bàn nước kê sát tường. Khách là những thanh thiếu niên, phần lớn người gốc Á Châu. Cái lạ là thời gian này, lẽ ra nơi sinh hoạt của họ phải là các trường học chứ không phải ở nơi đây, chốn dành riêng cho những người vô công rồi nghề. Nhưng vì những hoàn cảnh nào đó đã đẩy hoặc tự ý chúng ra khỏi môi trường cần thiết cho tuổi trẻ, để phí phạm thời giờ trong những canh bạc trên bàn billard, trong khói thuốc bên, những người cùng cảnh ngộ.

Ở đây, ai cũng biết người chủ muốn làm ăn phải đóng hội chết cho một băng nào đó để không những chúng không phá phách mà con như một thứ an ninh chìm cho cửa tiệm. Vì thế, kẻ ra người vào đều bị chúng để mắt tới.

Bắc không lạ gì chỗ này, vì thế hắn vô tự nhiên, giơ cao tay ra dấu chào thân thiện trước đôi mắt nhìn trừng trừng của thằng đứng gác cửa.

Ở ngoài vào còn quáng mắt nên Bắc chưa nhìn rõ ai với ai, đã nghe thấy tiếng gọi tên mình từ một cái bàn uống nước:

– Ê, Bắc…lại đây mậy.

Bắc  tiến lại gần vì nhận ra tiếng của Tư  Chơi, bọn mấy đứa chắc đang  ngồi hút thuốc vặt chờ hắn.

Tư Chơi là tay Billard có hạng ở đây. Hắn theo ông chú vượt biên từ  năm năm trước. Cha hắn trước kia la lính Cộng Hòa, đã tử trận trong thời gian Quân đoàn II rút lui khỏi Ban Mê Thuật. Gia đình nghèo, nó là con lớn cùng mẹ tần tảo, mánh mung lắm mới có được ngày bữa cơm, bữa cháo. Vì là thành phần “Ngụy” nên Tư Chơi và các em nó, không đứa nào được đi học. Nhờ ông chú có ghe tổ chức vượt biên, mẹ hắn năn nỉ ông cho hắn cùng đi, hy vọng sang Mỹ kiếm tiền gửi về nuôi gia đình.

– Nó sang đấy…làm ăn để nuôi chúng tôi…thì chú cũng nhẹ được một phần khỏi lo cho “các cháu của chú” còn kẹt lại.

Câu nói vừa “cầm” vừa “buộc” của bà chị dâu khiến ông chú của nó xuôi tai.

Năm ngày lênh đênh trên biển, mười tháng nằm trong trại tỵ nạn ở Thái Lan, gia đình ông được bảo trợ về Los Angeles. Mười sáu tuổi, sức học chưa qua lớp nhất bậc tiểu học, sang đến đây, Tư Chơi khốn khổ trong lớp mười trường trung học Mỹ, nhất là tiếng Anh lại không biết tới “một nửa” chữ. Vì thế hắn thường trốn học đánh bạn với những đứa cùng hoàn cảnh mang các mánh mung mà chúng đã biết dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa để kiếm tiền. Chúng thấy ở đây người ta ỷ vào máy móc nên không tinh ranh như  người ở Việt Nam. Do đó, những đồ ở siêu thị chúng “chôm” dễ dàng. Quần áo thì khỏi nói, mùa lạnh, mặc áo jacket tới tiệm, mang năm ba cái sơ mi vào buồng thử, mặc vào một hai cái, ra chỉ cần trả tiền một cái là được hai cái. Quần áo lót lại càng dễ hơn nữa. Nghề mở cửa xe hơi gỡ máy casette, radio, tháo bánh xe trong một thời gian “nháy mắt”, rồi mang đi bán cho bọn chuyên môn mua đồ ăn cắp đủ để chúng có tiền tiêu xài dư giả. Chưa học hết niên học, Tư Chơi đã quyết định bỏ trường đồng thời thoát ly khỏi gia đình ông chú…vì không muốn theo cái chương trình học hành dài hạn của ông khi hắn thấy rõ ràng mình không đủ sức theo. Sau nhiều ngày tháng ở một số thị trấn dưới miền nam Cali, Tư Chơi phiêu bạt lên miền bắc và ở luôn Thành phố này. Xa hẳn ông chú để…ông khỏi phải xấu hổ vì đứa cháu bụi đời…vì biết đâu có ngày hắn bị mắc lưới pháp luật. Năm nay hai mươi mốt, Tư  Chơi đã có một đời sống tạm ổn với đủ mọi thứ “nghề”…không những nuôi sống hắn mà còn có tiền gửi về quê nhà cho gia đình. Trong thời gian sống bụi đời, Tư Chơi đã từng là một thành phần của người “homeless”, đêm đêm nằm ngủ ở dưới hiên nhà người hoặc trong các công viên. Nghĩ cho cùng, đời sống không nhà nhiều khi cũng có cái thú của nó. Không lo tháng tháng đóng tiền nhà, tiền điện, tiền nước. Điện thoại công cộng thì ở đâu chả có. Sau này, kỹ thuật  Pager phát triển, nó mua một cái beeper thường là đủ dùng. Về sau, gia đình ở Việt Nam cứ muốn gửi thư cho nó nên Tư Chơi cũng cố gắng “share” một cái giường với một vài tên bạn, có khi Việt, có khi là Mễ hay Mỹ đen. Đọc các thư của mẹ, của các em, những tưởng người thân của mình ở xa đã làm nên “ông này, ông nọ” để gia đình bên nhà được giúp đỡ, được nở mày, nở mặt với thiên hạ, nhiều khi Tư Chơi cũng buồn đến rớt nước mắt! Nhưng rồi nó tự an ủi là cũng có biết bao người…hoàn cảnh giống như nó. Anh làm nghề cắt cỏ, về hỏi vợ ở Việt Nam cũng “coi như’ một ông kỹ sư “canh nông”, tuần trăng mật…lên Đà Lạt mướn nhà nghỉ mát của cựu hoàng Bảo Đại, nằm trên “long sàng” chụp ảnh kỷ niệm. Anh technician cũng đâu có xa một anh engineer. Chỉ có ngành bác sĩ, luật sư là mạo hơi khó một chút thôi. Khó là ở khả năng tài chính…Nếu đã có tiền về tiêu xài rộng rãi thì…xưng là ông gì mà chả được.

Sống lăn lộn với đủ mọi hạng người, Tư  Chơi được bắt mối bán ma túy tức “drugs” cho đám người “giang hồ” và rồi dần dà tiến vào thị trường các trường học là nơi tiêu thụ rất đáng kể, nhờ vậy mà hắn dư giả tiền bạc hơn trước nhiều. Cũng chính vì mục đích sau mà Tư Chơi để ý và làm quen với những học sinh như Bắc…loại còn đi học nhưng ham chơi, la cà ở những nơi xô bồ của đám thanh thiếu niên đi hoang. Thực ra, tại các trường học, số học sinh Việt Nam bán và ghiền ma túy không nhiều so với các học sinh nam, nữ người Mỹ hoặc Mễ vì đó là một việc nguy hiểm có thể bị tù tội như chơi. Bắc cũng đã nghe Tư Chơi nói chuyện về công việc này, nhưng hắn thấy tiền lời không được bao nhiêu…so với cái ước vọng thầm kính của mình. Vì thế, Bắc không muốn cấu kết buôn bán với Tư Chơi. Tuy nhiên, hắn vẫn muốn giữ giao hảo với bọn này.

Dáng dấp của Tư Chơi to con, mặt xương, mắt hơi lồi, ngăm đen, để tóc dài cột đuôi ở gáy, trong thoáng giống như Mỹ đen. Thấy Bắc tới, hắn đẩy một cái ghế trống về phía Bắc, nói:

– Ngồi xuống đi, uống gì?

    Bắc kéo ghế lại gần bàn của Tư Chơi, bên cạnh là Sáu đang thở khói thuốc như ống khói tàu hỏa:

– Cho ly cốc đi.

Sáu đứng lên lấy nước cho Bắc. Tư Chơi nhíu mày, hỏi:

– Lâu không thấy “you”…bận học hả…Vụ mình tiến hành đi chứ?

Bắc khẽ nói:

– Bộ “you” không nghe thấy vụ thằng Mỹ bị bắt chết ở trường tao à? Vì vụ này, bọn tao bị nhà trường để ý quá…sợ chưa có thể làm được đâu…

– À ra là thế…

Bắc muốn Tư  Chơi ngại ngùng hơn, nên tiếp:

–  Hôm xảy ra án mạng, mấy đứa trong hội học sinh Việt chúng tao cũng bị cảnh sát giữ mấy ngày…nếu không đề phòng…chuyện nọ chưa hết đã tới chuyện kia thì bỏ mẹ cả đám!

Nghe tới câu “bỏ mẹ cả đám”, quả nhiên Tư Chơi bàn rùn liền:

– “You” nghĩ phải đấy…để rồi từ từ cũng được…

Bọn này bắt chước ngôn ngữ thời thượng của mấy ông trí thức mới dùng chữ “you” cho có vẻ thời trang.

Sáu mang nước ra đặt trước mặt Bắc, rồi ngồi xuống ghế, thoáng nghe câu chuyện của hai người cũng góp lời:

– Sợ chó gì…tù ở Mỹ sướng bỏ cha đi ấy…hồi trước tao cũng bị sáu tháng…Thiếu gì đứa chán giang hồ ở ngoài…muốn vào nghỉ ở trong “ấp Mỹ” ít lâu…khỏi phải chạy ăn chạy uống…cơm nước có “kẻ hầu người hạ”. Có thằng đi ra đi vô như đi chợ.

Bắc hiện là học sinh lớp mười hai, nên sự hiểu phải hơn bọn này. Do đó, dù khả năng về luật pháp của hắn  không bao nhiêu, nhưng cũng đủ để làm mặt tài khôn:

– Mai mốt các  “you” đừng có hòng…họ sắp ra cái luật ba lần phạm tội dù nặng hay nhẹ…cũng là tù chung thân luôn…

Sáu cãi:

– Vô lý…bộ ba lần ăn cắp vặt…cũng tù chung thân sao?

– Hừm…không biết…xứ này, luật pháp là luật pháp.

Có tiếng con gái gọi Tư Chơi ở một bàn billard, hắn vội đứng dạy chạy lại. Sáu khẽ nói:

– Bồ mới của ảnh.

Bắc nhìn theo. Trong khói thuốc mờ mờ một cô gái ăn vận chững chạc đưa tay để Tư Chơi đếm tiền cho. Một lúc sau, Tư  Chơi trở lại bàn, khẽ nói:

– Thằng Sáu…rồi mày xem…nó lại làm nên chuyện cho mà coi…tao đã tính là được.

Sáu chỉ gật gật đầu như đồng ý.

Thấy Bắc không biết chuyện gì…đưa mắt nhìn Tư Chơi dò hỏi. Hắn khẽ cười, nói nhỏ:

– Con nhỏ này…mới ở Việt Nam qua…chơi billard có hạng. Tao bầy cho nó kiếm một thằng cò mồi chơi…rồi giả vờ thua…Mấy tay “kiếm gạo” ở đây tưởng nó ngu ngơ…nhào vô ăn có…Đến lúc đó, nó mới ra tay…thì mấy anh cứ mà rỗng túi với nó thôi. Vừa rồi nó giả vờ nói chỉ còn dăm trăm…hỏi mượn tao dăm trăm nữa…cho bọn kia thấy rõ là nó có tiền…

Bỗng Tư  Chơi thì thầm:

– Cho “you” xem cái này.

Hắn vừa nói, vừa luồn dưới gầm bàn một vật. Sau một vài giây ngỡ ngàng, Bắc hiểu ý, đưa tay xuống theo. Tay Bắc chạm vào một vật lạnh ngắt: khẩu súng lục! Tư  Chơi cười khẽ:

– Năm chịch! Bây giờ làm ăn khó khăn, nguy hiểm…tao cũng cần phải có…nó.

Bắc rụt tay lại:

– Mua ở đâu vậy?

– Dễ ẹc…AK còn có nữa là.

Ở trong trường, nhiều đứa bạn cũng nói thế, nên có hỏi, nhưng nghe Tư Chơi trả lời, Bắc cũng không mấy ngạc nhiên. Cái ngạc nhiên là ở đây có một mặt trận không ranh giới giữa người gọi là “ngay” có quyền mua súng đạn tại các tiệm bán súng đạn với bọn “gian” mua võ khí đủ loại ở chợ đen. Lại có trường hợp các ông được coi thuộc thành phần “ngay” khi mua võ khí…lại trở thành gian…mấy hồi. Ngoài ra, tin tức đã từng cho biết có những nhóm người giầu có, sống rất đàng hoàng, nhưng vì bất mãn với chính phủ, với xã hội xa đọa, họ thành lập những nhóm “dân quân”, có khi còn tự xưng là “Freeman” võ trang đủ loại võ khí, huấn luyện trong những khu thuộc tài sản của nhóm giống như các trường huấn luyện quân sự của chính quyền. Họ chưa làm gì phạm pháp nên Chính Phủ Tiểu Bang cũng như  Liên Bang, cảnh sát hay FBI không thể đụng tới họ. Vì vậy, ở đây để phân biệt ai là ngay, ai là gian quả thực khó khăn. Cần một khẩu súng để tự vệ…là một ý kiến đáng suy nghĩ. Mỗi khi xảy ra những vụ ăn cướp có võ khí, từ dân chúng, giới truyền thông cho tới các ông các bà dân biểu, nghị sĩ ồn áo tranh luận về quyền mua súng của mọi người. Phía người muốn giới hạn quyền mua võ khí lấy lý do vì dễ dàng mua võ khí nên bọn cướp mới có súng để đi ăn cướp nên phải có bộ luật kiểm soát dịch vụ này để chỉ bán võ khí ra cho những người thực sự cần thiết mà thôi. Bên chống ý kiến này nại ra việc bọn cướp có võ khí không phải mua từ thị trường hợp pháp…mà phần lớn do chợ đen của những tay chuyên môn buôn bán, nhập lậu võ khí bất hợp pháp, vì thế luật có khó khăn cũng không ảnh hưởng gì tới bọ bất lương. Nếu không cho người dân mua võ khí dễ dàng để tự vệ có khác gì khóa tay người ta trước đám trộm cướp. Lý luận này cũng có căn bản thực tế, nhưng bên chống đối lại cho rằng lập luận đó chỉ để phục vụ quyền lợi giới tư bản sản xuất võ khí mà thôi. Từ đó, đưa tới những vấn đề lớn hơn có tính cách chính trị giữa hai đảng chính tại đây là đảng Dân Chủ vẫn tự coi đứùng về phía quyền lợi quần chúng, ủng hộ việc kiểm soát võ khí và đảng Cộng Hòa vốn mang tiếng chịu ảnh hưởng nặng nề của giới tài phiệt chủ trương bán võ khí tự do, có nghĩa người dân có toàn quyền mua súng hay không để tự bảo vệ mình. Thực ra, vấn đề chính không nằm ở sự việc buôn bán võ khí tự do hay không mà là ở cái xã hội Mỹ đã đến lúc phải chỉnh đốn lại. Một quốc gia phồn thịnh như Mỹ, mà tiền bạc là cái thước vàng đo giá trị con người, khiến những tệ đoan nảy sinh vì việc chạy đua kiếm tiền sẽ rất là ráo riết. Trong giới bình dân, nạn trộm cướp, lừa đảo, chỉ kiếm dăm ba trăm, một vài ngàn, nhưng trong giới thượng lưu sảy ra những vụ làm ăn bất chính lên tới nhiều triệu bạc. Căn bản gia đình bị phá bỏ bằng ý niệm độc lập và tự do khiến thanh niên sớm thoát khỏi ảnh hưởng của cha mẹ, thiếu sự giáo dục căn bản nên dễ bị tiền bạc làm mờ mắt hoặc không hề có ý niệm gì về đạo đức, về công bằng. Tôn giáo đã dần dần bị chê bai, nhạo báng, những giáo luật bị coi là lạc hậu và sai lầm…mà một vài vấn đề rõ ràng nhất là tình dục và hôn nhân. Hai cao trào được cổ võ như là phản ảnh của tự do nhân bản(!) là quyền phá thai và đồng tính luyến ái. Hai vấn đề này…hiện là hai trong những đề tài quyết định một phần quan trọng sự thắng hay thất cử của các dân biểu, nghị sĩ tiểu hay liên bang và nhất là cả với Tổng Thống Hiệp Chủng Quốc! Tội ác là phó sản của sự suy đồi đạo đức trong xã hội. Ngày nay, người ta chỉ để ý tới chữa bệnh hơn là phòng bệnh, mà một thí dụ điển hình làøbệnh thời đại, bệnh AIDS. Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc thì hiện nay trên thế giới đã có tới hai mươi mốt triệu người có vi khuẩn HIV là loại gây nên căn bệnh quái ác này…trong đó hơn bảy triệu người đã bị nó phát tác. Một khi còn nhắm mắt chấp nhận vấn đề tự do hưởng lạc và vào hùa với nhưng phong trào đồng tính luyến ái và những cuộc hôn nhân giữa những người này…thì dù có tìm ra thuốc chữa bệnh AIDS, con số người mắc bệnh vẫn lan tràn mọi nơi. Ủng hộ sự đồng tính luyến ái là đi ngược với Thánh Kinh…vì trong cựu ước, thành Sodom đã bị Thiên Chúa tiêu hủy chỉ vì đó là một thành sa đọa do đồng tình luyến ái. Thế mà ngày nay, một số Hội Thánh Cơ Đốc thực hiện những phép cưới cho những đôi “gay”(giữa hai người nam) hay “Lesbian” (giữa hai người nữ). Hãy tưởng tượng một ngày nào đó, tất cả xã hội loài người đều là những cặp gay hay lesbian cả…thì… tương lai loài người sẽ như thế nào?

Trong đại đa số gia đình người Việt tỵ nạn, có bao nhiêu bậc cha mẹ có ý muốn và khả năng để giáo dục con cái mình trong cái ảnh hưởng mạnh mẽ của xã hội địa phương để sống theo một ý niệm về xã hội khép kín đông phương với những đức tính mà nhiều khi mâu thuẫn với thực tế mà chúng gặp mỗi khi ra khỏi nhà? Cho dù ai cũng nhắc tới nền đạo đức truyền thống Việt Nam, nhưng trong cộng đồng người Việt ở đây đã xuất hiện những bài báo đồng thuận với quan niệm tự do đồng tính luyến ái…và nhất là có một số văn nghệ sĩ người Việt hợp tác với nhau định ra một tờ báo ủng hộ phong trào này. Không nói chi ở Mỹ, mà ngay ở Việt Nam, báo chí cũng đăng tin một đám cưới giữa cặp vợ chồng là hai cô gái đã được tổ chức tươm tất tại một làng ở miền Nam. Có người nghĩ rằng, bánh xe lịch sử đã quay, không ai có thể giữ lại được…mà chỉ còn chấp nhận cả cái tốt lẫn cái xấu mà thôi.

Tài, cha của Bắc chẳng bao giờ suy tư về những vấn đề tương tự. Ông cũng vẫn dùng một lối giáo dục tiện đâu dạy đó. Cái gì vừa ý thì khen lấy khen để, cái gì không thích thì chửi “vung xích chó”. Còn chú thím của Tư Chơi, ông bà ta còn chưa có thì giờ nói chuyện với các con, huống chi hắn. Làm được cái đơn xin vào trường cho hắn đã là may rồi. Hai vợ chồng “cầy” hai ba “dốp” để duy trì cái nhà, cái xe đã bở hơi tai, không có dịp để “ngắm cái vười sau”, thì còn thì giờ đâu mà nghiên cứu tới phương cách giáo dục.  Vì thếø Bắc và Tư Chơi gặp nhau ở chỗ là chúng sống theo trào lưu chung quanh…những đức tính tốt khó được hấp thụ, nhưng những thói xấu tiêm nhiễm vào lúc nào không hay và nhất là không có khả năng để phân biệt được giữa xấu và tốt.

Vì thế, khi thấy Tư Chơi khoe súng, Bắc nghĩ ngay tới biết đâu có ngày nó cần một khẩu. Năm chục đồng, quá rẻ, vừa an toàn, vừa “le” nữa. Dĩ nhiên đây là mua lậu, nhưng Bắc khẽ hỏi:

– Còn bì đạn?

Tư Chơi lắc đầu, vỗ vào túi quần:

– Thiếu gì…mười đồng một hộp…

Bắc nhắc chừng:

– Coi chừng cảnh sát.

– Sợ gì…cứ để trong cốp xe…nhưng đừng để họ tốp xe mình lại.

Bỗng một ý nghĩ nẩy ra trong đầu Bắc: thằng này có trong băng đảng nào không? Nó khôn khéo hỏi:

– Tao cũng muốn một “cái”…có cần phải trong “băng” mới mua được không?

Tư Chơi lắc đầu:

– Không cần…nhưng cũng phải quen tụi nó mới biết đứa bán chứ, vì chúng nó sợ nếu gặp bọn “cops” thì chết cả nút. Khi nào “you” muốn, tao mua dùm cho.

    Bắc hỏi thế chứ thực sự cũng chưa có toan tính gì. Tuy hắn có thỉnh thoảng lang thang tới đây hay một vài quán cà phê “ôm” cũng là vì ham vui, khiến hắn có hình trong cuốn sách bìa đen do cảnh sát lén chụp những ai qua lại các nơi đó, nhưng Bắc vẫn còn là một học sinh đàng hoàng. Vì có nhiều vụ phạm pháp của những thanh thiếu niên có tên giống như người Việt Nam, cảnh sát thành phố có sáng kiến cho người đi chụp lén trong các nơi cộng cộng, nhất là những chỗ ăn chơi có nhiều thanh thiếu niên Việt Nam lui tới, rồi thiết lập một cuốn tập với những hình ảnh mà họ đã chụp được. Mỗi khi có vụ phạm pháp xảy ra, cảnh sát đưa cho nhân chứng coi cuốn hình này…để nhận diện xem có can phạm nào trong số những người có hình trong đó hay không. Khi vụ tập hình có bìa màu đen này được loan ra đã làm xôn xao cộng đồng người Việt ở đây. Điều thứ nhất, không phải những ai có tên giống như tên của người Việt mà nói rằng nghi can là thanh thiếu niên Việt…vì những người Việt gốc Hoa, những người Cambốt nhiền người cũng có những tên giống như tên người Việt vậy. Hai là sự nhận diện qua cuốn sách bìa đen không bảo đảm được mức độ chính xác cao…vì trong lúc hốt hoảng, có khi thiếu ánh sáng thì sự nhận lầm dễ xảy ra. Và hơn nữa, chụp hình như vậy là một vi phạm trắng trợn tới đời tư của người khác. Vì thế, rất nhiều đoàn thể lẫn cá nhân, kể cả giới luật sư Việt nam, đã phải lên tiếng chỉ trích việc làm này của cảnh sát. Cuối cùng cơ quan cảnh sát đã giới hạn việc dùng tập sách bìa mầu đen này. Cách đây không lâu, ở dưới L.A có hai cô gái Việt bị cảnh sát chìm lén chụp hình, đã mang nội vụ ra tòa kiện cảnh sát địa phương. Kết quả hai cô này đại thắng và được bồi thường mấy trăm ngàn. Vụ án mạng vừa rồi ở trường Hyde chỉ là một tình cờ, trong hội học sinh Việt Nam không có ai liên hệ gì tới những băng đảng để đến độ bọn này ra tay trả thù dùm. Vì thế cảnh sát không đủ bằng chứng để kết tội ba đứa, kể cả Bắc.

Bỗng có tiếng ồn ào từ bàn billard có con nhỏ bồ của Tư  Chơi. Hắn vội đứng dậy, miệng nói:

– Lại có chuyện…

Có tiếng con bé xổ tiếng Anh:

– “I quit. I don’t want to play anymore. OK.”

Tiếng OK cao giọng và kéo dài một cách bực bội. Có tiếng đàn ông xừng xộ:

– Không được ăn non…

– Chứ để cho “you” gỡ lại à? Còn lâu.

Tư  Chơi đã tới nơi:

– My friend(!), nó không muốn chơi thì thôi…để ngày khác hãy gỡ lại nhé. Nào Mimi…lại đây đi.

Thấy có người can thiệp, tên kia chỉ hừ một tiếng, giộng mạnh cái gậy thụt banh vào giá.

Hai đứa đến bàn. Tư Chơi mang thêm một cái ghế nữa cho Mimi ngồi.

– Đây là Bắc… bạn của “me”.

Mimi nhìn Bắc gật đầu chào, cười:

– Mẹ nó…thua thì chịu chứ…còn hạch họe nỗi gì.

Tư Chơi nhún vai:

– Dĩ nhiên. Nhưng lần sau, trước khi “you” muốn “quit”, “you” phải giả vờ thua một vài bàn…rồi ra vẻ chán nản bỏ đi…đừng để cho nó cháy túi thì nó không nói được.

Con nhỏ vừa gật đầu, mỉm cười, vừa đếm tiền trả lại cho Tư  Chơi:

– Thank you nha!

Tư Chơi lặng lẽ thu tiền bỏ vào túi.

Bắc ngó đồng hồ…đã gần ba giờ. Hắn vội đứùng lên:

– Thôi tao phải về…đến giờ tan học rồi.

– “You” bỏ học như vậy không sợ ông già la à.

Bắc cười, giọng diễu cợt:

– À, có đứa thay ổng viết giấy xin cho tao nghỉ hai giờ cuối để đi bác sĩ…

Vừa nói, Bắc vừa cười,  bắt tay ba đứa, rồi đi nhanh ra cửa.

                                                            

                                                   CHƯƠNG VIII

    Mimi về đến nhà trời đã nhá nhem tối.

    Có tiếng âm nhạc Việt nhè nhẹ từ trong phòng khách nhỏ, mờ mờ ánh đèn vàng vọng ra. Mimi không để ý, đi thẳng vào phòng riêng. Mimi mở cửa, thò tay lần tìm công tắc đèn. Căn phòng chan hòa một thứ ánh sáng trắng xanh của bộ đèn neon hai bóng gắn ở giữa trần nhà. Sau khi lấy chân đạp vào cánh cửa gây nên tiếng động mạnh khi cửa đóng lại, Mimi vất cái backpack vào xó nhà, rồi để nguyên áo quần ném mình nằm vật lên giường. Mắt nó mở lớn, nhìn thẳng lên trần nhà như chờ đợi. Quả nhiên, có tiếng mở nhẹ cửa, rồi một giọng phụ nữ hỏi:

– Mới về à. Ăn uống gì chưa?

Câu hỏi của người mẹ như quá thừa, Mimi không trả lời thẳng, lại hỏi ngược:

– Tối nay thứ sáu, mom không đi đâu à?

Người đàn bà trung niên đi vào vùng ánh sáng. Đôi mắt lờ đờ, khuân mặt xương xương, son phấn lòe loẹt, phủ quanh bởi những lọn tóc rối như người mới ngủ trong giường mới dậy, nhưng bộ đầm cổ trễ mầu xanh đậm lại thẳng nếp…như mới được thay để sẵn sàng ra phố, phô bầy bộ ngực lớn nhưng đã xệ.

Nghe Mimi hỏi, bà ta khẽ cười:

– Đi chứ…đang ngồi nghe nhạc, đợi xem Mimi cùng đi cho vui.

Mimi ngồi dậy. Cô nhỏ biết là người mẹ chẳng bao bỏ thì giờ ngồi nghe nhạc một mình,  lắc đầu, giọng cắm cẳn:

– Không. Đi với cái ông đó…chỉ lợi dụng thôi.

Lợi dụng? Người mẹ chẳng muốn hiểu rõ ý cô con gái, nên cười nhẹ:

– Thì để có người trả tiền cho mình mua vui…để ý làm quái gì. Mimi nhớ là mình đang ở nhà người ta “free”, cũng nên chiều người ta một tí vậy. Nếu cứ trông vào “thằng bố” mày…thì chỉ có nước làm dân homeless.

Vả lại ở đây, thiếu gì các bà mẹ, kể cả người đàn bà Mỹ,  cố tình làm ngơ để “boy friend” hay chồng sau ngủ với con gái của mình.

Cô gái trề môi, nói không nể nang:

– Thì có mẹ đó…

Bà mẹ trơ trẽn, khẽ cười:

– Dĩ nhiên…người ta có động tới một cộng tóc của con đâu nào. Bất quá nhảy vài bài cho vui thôi…

Mimi đứùng dậy, cởi áo ngoài, vất lên giường, mình trần chỉ còn chiết nịt vú, lắc đầu, nói:

– Không…mẹ đi đi…con mệt, “take a shawer” rồi ngủ cho khỏe…

Vừa nói, cô ta vừa đẩy bà mẹ ra ngoài, rồi đóng cửa, cài then.

Trời hơi nóng, Mimi cởi nốt cái quần jean rách hai đầu gối…là cái mốt thời trang của các cô Mỹ hiện nay. Khi chỉ còn hai mảnh trên thân thể trắng xanh, Mimi hiện ra là một cô cái đẫy đà, cân đối. Bộ ngực đưa ra vừa đủ để người ta nhận biết mình là phái nữ, cái bụng thon mịn màng, cái mông tròn lẳn…quả cô bé có một thân hình vừa vòng tay ôm, rất hấp dẫn để đi những bước khiêu vũ cổ điển.

Mimi lại nằm xuống giường, lắng tai chờ đợi tiếng mở cửa bên ngoài, tiếng  xe nổ máy chứng tỏ hai người “kia” đã đi khỏi để cô được tự do tắm táp.

Ngày Ba Mươi tháng Tư Bảy Lăm chỉ có một mình ba của Mimi vượt biên sang Thái Lan được vì lúc đó đơn vị của ông đang đóng ở đảo Phú Quốc. Trong mấy ngày cuối cùng của cái tháng tư đen ấy, ba của Mimi cũng đã cho người về để đưa gia đình ra đảo với ông, nhưng cha mẹ vợ không bằng lòng vì họ nghĩ rằng, những lúc đất nước nguy nan, thủ đô là nơi an toàn nhất. Đi lục tỉnh hay Phú Quốc lúc này chẳng khác gì đưa thân vào chỗ hiểm nguy. Lúc đó, họ không nghĩ đến cái giải pháp bỏ nước ra đi. Vì thế, vào phút chót, ba của Mimi đã đồng lòng với các chiến hữu tạm di tản sang Thái Lan…để mong có ngày trở về phục quốc. Nhưng cái ngày đó chưa đến thì ông và những người di tản ra khỏi nước trở thành những kẻ lưu vong.  CũnG may…là mười năm sau, nhờ luật lệ hiện hành cho phép, ông bảo trợ cho hai mẹ con của Mimi sang tới Hoa Kỳ. Sống một thời gian ngắn với nhau, cả hai mẹ con Mimi đều thấy là ông đã thay đổi quá nhiều…lầm lỳ, chỉ biết ngày hai buổi đi làm, tối về đọc rách hết mấy tờ báo, xem liên tiếp hết chương trình TV này đến chương trình TV khác, rồi lăn ra ngủ. Những lúc ông không có nhà, hai mẹ con phàn nàn là không ngờ ông sang đây mà có đời sống buồn tẻ, bết bát quá. Sĩ quan đấy, bao năm ở nước ngoài, tưởng đã làm lên cơ nghiệp như thế nào, té ra chỉ là anh thư ký kế toán quèn, tiền bạc còn kém một anh lính trơn làm nghề cắt cỏ, rửa xe. Thời còn ở nhà, nhận được mỗi tháng vài ba trăm đô, tuy không thỏa mãn, nếu so sánh với những người khác có thân nhân ở ngoại quốc, mẹ con Mimi đồng ý với nhau là chắc ông phải tiết kiệm tiền để lo xây dựng sự nghiệp đợi ngày đoàn tụ. Sau khi được phỏng vấn, việc đầu tiên là hai mẹ con đi học lại một lớp khiêu vũ  với những bước thật bay bướm để sang “bên ấy” khỏi “quê” với người ta, học đồi hút thuốc lá, uống rượu cho nó văn minh với đời. Rút cục, thực tế cho thấy, ông chồng bất tài, sau mười mấy năm sống bên Mỹ mà vẫn là dân abc đi ở thuê. Cuộc đời buồn tẻ, cuối tuần không có lấy một buổi đi phòng trà, vũ trường. Trong khi đó, thiên hạ ai người ta cũng tận hưởng cái không khí tưng bừng của những ngày weekend.

Từ thất vọng đến giận dữ, khinh khi, cho tới một ngày, sau khi ông chồng từ chối ra ngoài mua vui, người vợ nói ra ý nghĩ của mình đang ấm ức trong lòng:

– Mười mấy năm ở Mỹ, anh không những chẳng bay bướm được như xưa…mà đù đi như một anh thư ký quèn…sáng vác ô đi, tối vác về!

Ông chồng cười nhạt:

– Thì đúng là thằng thư ký quèn rồi còn gì nữa. Có như thế…bà mới nhận được mỗi tháng mấy trăm để sống đầy đủ ở Việt Nam. Sang đây, mình chỉ cầu mong sao ngày hai bữa, “invest” vào con Mimi cho nó học hành đàng hoàng…đó là cái tương lai mình mong đi tới…

Người vợ cự nự:

– Còn tôi…bộ ông bắt tôi…chết già ở cái tuổi này sao? Mình đâu còn bao nhiêu thời gian để tận hưởng thú vui ở đời. Nếu nói như ông, thà ở lại Việt Nam còn sướng hơn.

Ông chồng nghĩ trong bụng: gần năm bó rồi bà ơi! Nhưng ông không nói ra, chỉ lý luận rất gàn bát sách:

– Tôi chẳng cần biết bà có những gì “sung sướng” ở Việt Nam…tôi chỉ biết nơi đây không có thằng Cộng sản là được rồi…Đời sống tự do như thế này còn đòi hỏi gì nữa. Ở nhà, con mình không được đi học, sang đây…chỉ không có sức thôi, còn nó tha hồ muốn học tới đâu cũng được…Còn phù du vật chất tôi chẳng thèm.

Người vợ xừng xộ:

– Ông không cần, nhưng tôi cần.

Ông chồng trề môi:

– Bà với tôi…già rồi…đừng làm gương xấu cho con cái. Nhảy nhót ở đây dành riêng cho một số người có phương tiện vật chất, rảnh rang thời giờ hoặc vì lý do giao tế…còn mình thì nên tìm cái giải trí khác…như đọc sách, xem báo, xem TV…và nếu cần đi picnic ngoài park mỗi cuối tuần!

– Cù lần…Ngay ở Việt Nam…ai người ta cũng lợi dụng những dịp sinh nhật, kỷ niệm ngày cưới để tổ chức party, khiêu vũ…sang đến đây…lại phải trở về với đời sống…của con vợ lính ngày xưa…thì sống làm quái gì nữa. Mẹ kiếpï, ở đất Mỹ mà còn kém cái chế độ Xã Hội chủ nghĩa nữa. Từ mai, ông không muốn đi…thì tôi với con Mimi đi.

Ông chồng đổ quạu:

– Tôi cấm bà…không được làm hư nó…

– Hừ hư, có hư thì cũng hư từ lâu rồi…

Câu trả lời không rõ nghĩa…khiến mỗi người có thể hiểu một lối. Người chồng đang cơn bực mình sẽ phải hiểu theo cái ý xấu nhất:

– À, thì ra mày lợi dụng nó…để kiếm tiền…từ hồi nào…

Người về thăm Việt Nam từng nói tới những vụ bố mẹ nhắm mắt bắt con gái, kể cả các cô còn vị Thành niên, “bán dâm” cho khách du lịch để kiếm đô la thực không thiếu. Nghe câu trả lời của vợ, ba của Mimi không thể không liên tưởng tới cái việc khốn nạn đó. Người vợ bất kể ông chồng nghĩ thế nào, vẫn cái giọng chọc tức:

– Có thế…cũng vì thằng cha nó bất tài…Đừng trách người khác mà phải tự trách mình mà thôi.

Người chồng vớ lấy cái ghế sắt gấp đang dựa ở góc nhà, tiện tay ném vào người vợ, rít lên:

– Thứ mẹ khốn nạn…này.

Người vợ la lối, xông vào quần thảo với ông chồng. Cuối cùng…con nhỏ Mimi phải gọi 911…

Và cuộc sống chung của cái gia đình mới đoàn tụ đó tan vỡ. Hai mẹ con Phấn và Mimi bỏ sang Cali. Những ngày đầu, họ sống nhờ một người bà con. Thời gian này, nghề làm nails rất thịnh hành ở đây. Vì thế, chỉ mấy tháng sau, Phấn đã học được nghề để đi làm. Nhân một buổi vui chơi ở khiêu vũ trường, Phấn làm quen được với Lâm, một người đàn ông mới ly dị vợ. Ở những lần đầu, sự giao du giữa hai ngưởi chỉ là cặp với nhau trong chốn ăn chơi. Rồi sau một lần “ngủ” với nhau  tại một motel, Lâm khám phá ra Phấn là một người đàn bà tương đối còn “ngon lành”, chịu chơi…và không muốn ràng buộc nhau bằng sợi dây hôn nhân, nên ông ta quyết định  “mời” hai mẹ con về nhà mình ở  chung. Và từ đó, dù không chính thức, mẹ của Mimi trở thành “girl friend” của  Lâm. Nhờ ở đây đời sống quá bận rộn nên những cặp sống chung như vậy không mấy ai để ý tới… cũng như chẳng bõ công để dị nghị.

Với Mimi, cô cũng chẳng cần quan tâm tới đời sống riêng của Phấn, miễn là mẹ cô cũng để cho cô được tự do sống theo ý mình. Tiền bạc được cung cấp tạm đủ để ngày hai buổi đi học…và weekend đi chơi riêng. Mimi rất kỵ đi theo mẹ và chú Lâm tới vũ trường…  nhất là phải nhảy với người đàn ông này. Nhảy thì ít…mà lợi dụng sờ soạng, hôn hít thì nhiều. Già rồi mà không nên nết. Mimi đã từng báo động với mẹ, nhưng Phấn cứ lờ, gạt đi…vì nếu phản ứng lại…có thể sẽ không những không được Lâm “yêu”  nữa…mà cái nơi ăn chốn ở cũng chẳng còn!

Trong khi chờ đợi cặp trai-gái già rời nhà, Mimi nhớ tới tờ báo phụ nữ mượn được của một con bạn học. Tờ báo đầy những hình ảnh khiêu dâm khiến Mimi nóng ran cả người. Bỗng có tiếng đóng mạnh cửa…tiếng bánh xe xiết trên đường nhựa cho Mimi biết là hai người đã ra khỏi nhà. Nhưng để chắc ăn, Mimi hé mở cửa nhìn ra ngoài. Quả thực nhà đã vắng ngắt, tiếng nhạc cũng không còn. Mimi rời tờ báo, nhét nó xuống dưới nệm giường, lại ngăn quần áo lấy  đồ lót, khăn tắm, rồi mở cửa ra ngoài hành lang.

Sau khi cài cửa nhà tắm, loại có hai buồng, một la-va-bô rửa mặt, một có hoa sen để tắm. Mini cởi nốt cái quần lót và chiếc nịt ngực nhỏ xinh xinh vải đen mỏng. Nó nghiêng người ngắm một nửa mình trần trong guơng, mỉm cười đắc ý. Làn nước âm  ấm đổ tràn lên thân thể khiến Mimi cảm thấy thoải mái. Cô bé nhìn xuống cặp đùi thuôn dài mầu hồng nhạt, cặp mông…phần dưới bụng mịn màng…bộ ngực no tròn…Tay Mimi vuốt nhẹ từ ngực xuống đến bụng dưới…một cảm giác dờn dợn, nhột nhạt…rồi đê mê…khiến cô liên tưởng tới những trang báo phụ nữ…nói về những khoái cảm do những động tác tự làm mình đạt tới mục đích thỏa mãn  nhục dục. Lão Lâm hay tên Tư Chơi…mà nhìn thấy cái thân thể ngồn ngộn này thì…phát điên lên mất…Hừ…chẳng lẽ mình chỉ có hai tên đó sao…Không, mấy thằng con trai trong lớp học…cứ lăm lăm nhào tới…nhất là vào những ngày trong trường phát các bao condom…là gì. Hai tay Mimi lướt nhẹ một hồi trên cơ thể…tới lúc chúng tìm được những nơi thực sự làm cho toàn thân cô gái đảo điên vì khích động. Mimi thở dốc, mở lớn cho

nước từ vòi hoa sen đổ xối xả lên mình. Mươi phút sau, “con hỏa” hạ dần…Mimi chỉ hơi thấy bải hoải…và một số điểm trên cơ thể trở nên nhạy cảm đến rùng mình mỗi khi đụng nhẹ vào. Hãm lại vòi nước, Mimi đứng tần ngần một lúc, rồi khẽ đẩy cửa phòng tắm ra bàn rửa mặt.

Trước tấm gương lớn, mờ ảo trong ánh đèn vàng vọt, Mimi thư thả lau mình mẩy, rồi mặc quần lót vào, nhẹ mở cửa ra ngoài.. Mimi nằm lại trên giường, phơi ngực trần nhắm mắt nghỉ ngơi. Bỗng cô gái cảm thấy nhạt miệng, nhức đầu…nước miếng ứa ra, nên vội nhỏm người dậy, chạy lại bàn phấn, lấy vội bao thuốc vấn đựng trong chiếc hộp nhựa, lật đật bật quẹt mồi lửa. Mùi thuốc nồng nồng, không khét và đắng như thuốc lá, mà lâng lâng khi thấm vào đầu lưỡi…buồng phổi…du Mimi vào cảm giác lãng đãng khỏe khắn, đê mê. Đây là hậu quả của việc giao du với với mấy đứa bạn Mỹ ghiền ma túy. Chính vì thế mà Mimi được Tư Chơi móc nối…và cũng nhờ hắn mà Mimi kiếm được tiền để hút sách đầy đủ hơn trước.

Người Mỹ đang rất lo lắng và không ngại bỏ ra rất nhiều tiền bạc để mở những chiến dịch bài trừ ma túy ở lớp tuổi trẻ…nhất là trong các trường trung học. Và cũng do thống kê, người ta biết ở đây, bốn mươi phần trăm gia đình Mỹ là các single parent với khá đông các  “bà mẹ” còn trong tuổi vị thành niên. Một số được luật pháp bảo vệ nên trong những vụ ly dị, thường người mẹ được quyền giữ con, nhất là khi chúng còn nhỏ dại, người chồng chỉ “được phép” tháng tháng trả tiền child support tức tiền cấp dưỡng cho con. Nhiều anh chồng chính thức, sau khi ly dị vợ, bỏ luôn cả việc làm, trốn đi tới một nơi nào đó, để khỏi phải trả món tiền này…cho bõ tức. Ngoài ra, các chị ngủ lang trong những cuộc vui chơi…như người ta ăn một tô phở…rồi dính bầu…hoặc các bà mẹ vị thành niên ôm con ra khỏi nhà bố mẹ, bỏ học, nuôi con lây lất bằng tiền trợ cấp xã hội…những đứa trẻ không biết mặt bố ấy thường khó được các bà mẹ…ham vui dạy dỗ đàng hoàng, vì thế phần đông những thiếu niên hư hỏng đều xuất phát từ những gia đình này. Nhưng điều oái oăn là cái tệ đoan xã hội “single parent” đó hiện lại là cái “mốt” của người Mỹ. Vì thế dù tốn bao nhiêu tiền bạc, người ta cũng không thể kéo bọn học sinh, sinh viên khỏi bãi lầy nghiện hút. Gần đây, thống kê cho biết đà hút ma túy, uống rượu của con gái vị Thành niên Mỹ tăng rất nhanh, gần đuổi kịp số con trai cùng lứa tuổi nghiện ngập. Một lần Phó Tổng Thống đảng Cộng Hòa Dan Quail lên tiếng về sự cần thiết phải tái lập những gia đình truyền thống, tức đủ cả cha-mẹ, trong xã hội Mỹ…vì theo ông các single parent không thể làm tốt trong việc giáo dục con cái…Ông này lại vô tình đề cập tới một chương trình TV có nhân vật nữ là một single parent tên Murphy Brown khiến cô đào Candice Bergen đóng vai nhân vật này cùng cả giới truyền thông Mỹ lên tiếng chỉ trích. Chính nhờ chuyện đó mà cô ta nổi tiếng khắp nơi và làm giầu nhờ dịch vụ quảng cáo. Tuy không có thống kê, hiện tượng single parent cũng đã được nhiều người Việt tỵ nạn bắt chước. Người Việt có một từ ngữ để chỉ những cặp sống ngoài giá thú là “già nhân ngãi, non vợ chồng”. Ngoài cái tâm lý thoải mái vì…không bị ràng buộc “ăn đời, ở kiếp” với nhau, một cái lợi thực tế lớn lao khác của các bà mẹ có con nhỏ…khai sinh phần tên người cha, cứ việc phết chữ “unknown”, là không cần phải đi làm…cứ ở nhà ôm con lãnh oeo-phe(welfare) sống phây phây, và nhất làø đủ điều kiện được Medicare. Chi phí về sức khỏe, chữa trị bệnh tật tại Mỹ thực là khủng khiếp nhất là khi phải nằm bệnh viện mà không có một loại bảo hiểm sức khỏe nào. Không có Medicare, tiền bỏ ra mua bảo hiểm sức khỏe rất cao, nếu không đi làm hoặc không được sở làm bỏ tiền mua cho. Còn người chồng…chỉ đóng vai boy friend, đi làm, tiền kiếm được gom góp mua nhà mua cửa mấy hồi…Từ khi quỹ an sinh xã hội bị Quốc Hội Mỹ cắt giảm, luật lệ mỗi ngày một khắt khe đối với việc cấp phát oeo-phe khiến cho một số gia đình đã không còn đủ điều kiện, cũng như  nhiều người Việt ý thức được hành động quá lợi dụng của mình để ra khỏi các chương trình. Cơ quan DA của chính phủ có bổn phận truy lùng cha của các đứa bé này để khám phá và truy tố những người khai gian. Tuy nhiên, tệ trạng này vẫn không chấm dứt. Một trường hợp điển hình, bà mẹ khai ba đứa con có ba người cha tên Dien Nguyen. Người Mỹ ngạc nhiên vì ba người này “trùng tên”. Nhưng khi được hỏi tới, bà mẹ giải thích rằng tên Mỹ “coi vẻ” giống nhau…nhưng tên Việt thì hoàn toàn khác nhau vì…một người tên Điền Nguyễn, người thứ hai là Điện Nguyễn và người thứ ba tên Diễn Nguyễn! Còn bảo ba người tại sao cùng “last name” thì rất dễ hiểu…vì họ Nguyễn là một họ rất lớn ở Việt Nam…nên vấn đề trùng họ Nguyễn thì quá thông thường. Không tin, xin cứ mở niên giám điện thoại mà xem…Cuối cùng, các ông DA đành chào thua!

Mimi thức giấc vì tiếng đóng mở cửa, tiếng nói cười bên ngoài. Cô nhỏ vội mặc lại áo quần, rồi chạy tới bàn phấn, bật đèn chải nhanh mái tóc.

Có tiếng Phấn gọi bên ngoài cửa phòng:

– Mimi, dậy ăn pizza đi…

Mimi cũng cảm thấy đói, nghe tới pizza là nuốt nước miếng ngay:

    – Đợi con chút…

    Khi Mimi ra tới phòng khách, Lâm đứng ngay dậy, nắm tay cô nhỏ kéo lại phía ghế của mình. Lâm đã hơn năm mươi, nhưng trông còn trai trẻ như thanh niên. Mái tóc chải mượt, bộ ria mép lẳng lơ, mắt sáng, mặt bầu hồng nhuận. Lâm cũng như một số người Việt lanh lợi, cả đàn bà lẫn đàn ông, nhận thấy trong tương lai, nhu cầu tậu nhà tậu cửa của giới trung lưu có công ăn việc làm vững chắc ở đây rất cao, họ mở ra một chân trời hoạt động mới, đầy thử thách là nghề realtor tức người môi giới mua bán nhà cửa, ngành địa ốc. Vào những năm cực thịnh của nền kỹ nghệ điện tử, số người Việt có công ăn việc làm lợi tức cao tăng lên đáng kể ở vùng này, một người chuyên viên thấp nhất tức assembler, chăm chỉ làm việc lợi tức đồng niên không dưới ba chục ngàn, và quả nhiên nghề mua bán nhà cửa hốt bạc. Một người realtor trung bình một tháng bán được ba, bốn cái nhà, với tiền hoa hồng không dưới 5%, họ trở thành những người có lợi tức rất cao. Nhất là vào thời người Hồng Kông chạy tiền sang Mỹ bằng cách mua cào mua cấu các bất động sản, mua trên cả giá listing ở thị trường vì sợ  năm 1997 vùng nhượng địa này đó sẽ giao hoàn lại cho Trung Cộng, một cơn sốt trong thị trường địa ốc khiến những tay môi giới này kiếm tiền vạn nhanh như chớp, mà Lâm là một. Nhờ vậy, Lâm đã có một tài sản đáng kể. Nhưng có thịnh cũng tới lúc suy vi, kể cả nghề địa ốc. Người Việt thấy nghề này tương đối không cần học hành khó khăn, lâu dài…nhất là còn có vị broker mở trường đào tạo các chuyên viên địa ốc bằng song ngữ, khiến cho một người không cần có một sức học cao, miễn là lanh lợi, chịu khó cũng có thể kiếm tiền được. Chỉ một trường dạy cấp tốc đó, một tháng trong vùng cũng có cả năm sáu chục chuyên viên địa ốc mới ra hành nghề, nhiều tới độ người nào cũng có anh em hay bà con thân thuộc hành nghề này. Trận chiến cạnh tranh mở đầu…nhất là từ khi thị trường địa ốc địa phương đi xuống, lãi suất vay tiền mua nhà bị điều chỉnh, tăng giảm không chừng và nhiều lần trong năm. Do đó, phân suất hoa hồng được hạ xuống, thêm vào những lối cạnh tranh không đẹp, thí dụ tặng thêm “quà” cho người mua khi dọn vào nhà mới như tủ lạnh, TV, sa lông, màn cửa…stereo v.v. hoặc chia lại cho người mua một phần trong số tiền commission tức hoa hồng. Một số chuyên viên địa ốc có sẵn vốn còn nghĩ ra phương pháp dùng tiền commission của mình cho người mua nhà mượn để làm tiền đặt trước, tức downpayment và số tiền này trở Thành thần hùn của ông ta trong căn nhà. Từ đó, người mua hay muốn bán nhà trở nên khó tính. Họ gọi đi khảo giá khắp nơi để tìm một người môi giới có lợi nhất cho họ. Nhiều vị realtor tình nguyện đưa người tìm nhà để mua, đi xem hết căn này tới căn khác…mà chưa chắc đã bắt được khách, nếu không “dở ngón” ra. Dần dần, lợi tức của các chuyên viên địa ốc đi xuống và đẩy một số lớn chuyên viên ra khỏi thị trường. Khi nền kinh tế tại Mỹ tới chu kỳ đi xuống, các hãng xưởng không bán được hàng vì giá thành cao so với các sản phẩm đồng loại của Đài Loan, Hongkong, Đại Hàn, Singapor là những nơi có gía lao động rất thấp so với nhân công Mỹ nên các công ty này phải thải một số quan trọng nhân công để tránh thua lỗ đồng thời tìm cách chuyển cơ sở về những nơi có giá nhân công rẻ, kể cả đi Mexico, Singapore hay Korea!. Mất việc, không còn lợi tức, nhà cửa của những người này phải bán đi hoăïc bị ngân hàng chủ nợ cưỡng bách bán đi để thu lại vốn đã cho vay, tiếng chuyên môn Mỹ gọi là “foreclosed”. Tới giai đoạn này, cán cân cung cầu trên thị trường địa ốc trở nên mất thăng bằng ghê gớm, đâu đâu cũng thấy nhà bán, số người mua thì ngày một giảm thiểu. Sự cạnh tranh tới mức tai hại khiến nghề địa ốc gần như chết đứng. Số chuyên viên còn sót lại chưa chắc tới 20%. Lâm là một trong những người ấy nhờ kiếm được nhiều tiền hồi trước đây, nên vẫn sống thoải mái.

    Tiền bạc không đến nỗi, nhưng hạnh phúc gia đình của Lâm không còn. Vợ Lâm đã quá chán ghét lề lối làm việc không kể ngày đêm, kèm theo sự ghen tương vì tính bay bướm của chồng, cũng như vì đủ mọi lý do khác  đưa tới kết luận là hai người không hợp với nhau nữa, vợ Lâm đòi ly dị. Vụ này làm Lâm mất một nửa gia tài do tòa bắt chia cho vợ theo luật California, nên Lâm quyết định sống “độc thân” cho tới già. Tuy vậy, chuyện bà nọ, cô kia không sao tránh khỏi…và cũng là một vấn đề tốn phí. Từ ngày bắt được hai mẹ con Phấn và Mimi…Lâm đưa về sống trong nhà, Phấn vẫn đầy đặn… để có chỗ giải sầu…và nhất là Lâm…hy vọng câu được cô bé choai choai “Lolita” Mimi này.

Dìu Mimi ngồi xuống bên mình, Lâm cười:

– Ồ, tiếc quá…hôm nay không đi…để xem chú thắng bài ở  Casino…Ngồi ăn pizza…rồi chú chia tiền cho…

Mimi đang đói lại nghe có hơi tiền, ngồi ngay xuống:

– Cảm ơn…vì hôm nay cháu hơi mệt…

Vừa nói, cô vừa đỡ miếng bánh từ tay người đàn ông. Lâm cười, lắc đầu:

– Không sao…lần sau đi, chú cho Mimi ké bài…tha hồ mà lượm bạc.

Nghe Lâm được thể nói phét với con gái, vì mười lần chơi bạc, hết chín lần anh chàng thua…Phấn kê luôn:

– Anh nói phét vừa vừa thôi…không mai này nó mất tiền oan vì anh đó.

Lâm không chịu, cười hề hề, gạt đi:

– Hừ, em biết gì…mà dù anh có thua…cũng không thua tới tiền của Mimi đâu…thắng Mimi ăn, thua chú chịu cho.

Chưa bao giờ Mimi tới sòng bạc. Được Lâm mở đường, Mimi thấy thích thú, khẽ cười:

– Được hôm nào chú đi nữa…cháu sẽ theo.

Lâm cười tít mắt:

– Muốn vui thì đi vào chiều thứ sáu…có ở lại suốt đêm cũng không sao…

Lâm biết tính Mimi, nói thêm:

– Trong đó có buffet, all you can eat khá lắm…Mimi tha hồ ăn.

Lâm rót coca cola cho Mimi. Trong khi Mimi uống nước, Lâm moi trong túi ra một xấp bạc, miệng nói, tay đếm mười tờ một trăm, ấn vào tay cô gái:

– Để mai Mimi đi Macy’s nhé…còn tiền vốn đánh bài tính sau.

Phấn có thể đọc được ý nghĩ thầm kín trong đầu Lâm, nên cố gắng tìm cách nào…cho việc không may sẽ không xảy ra, nên nói:

– Thôi…vừa vừa chứ. Với lại…con nít vào chỗ bài bạc không nên…anh đừng chiều quá mà nó hư đi…Một lần cho biết không sao…chứ không thể lê lết ngoài đó như anh được…

Lâm lườm Phấn:

– Gớm…em nói như anh mê cờ bạc lắm…Nếu em chán…không muốn đi thì ở nhà…

Cha cha đâu có được…mỡ thả miệng mèo, Phấn chặn ngay:

– Em cũng đi…chứ bộ ở nhà một mình sao?

– Nếu vậy thì đừng nói.

Mimi thấy chán cảnh hai người nói qua nói lại…nên đứng lên:

– Con về ngủ đây…

Lâm muốn giữ lại:

– Còn sớm mà…ngồi lại nghe nhạc với..mẹ…mấy cái CD mới mua nghe được lắm.

Thực ra, Lâm cũng biết con bé chẳng nghe nhạc Việt bao giờ, nói là để giữ nó lại thôi. Mimi lắc đầu:

– Cháu không thích đâu…cháu nhức đầu…

Vừa nói, Mimi vừa đi về phòng.

Biết không giữ cô bé lại được, Lâm đứng dậy mở nhạc êm dịu, rồi đổi chỗ, sang ngồi bên Phấn. Phấn hơi ra vẻ hờn mát…rồi cuối cùng cũng để…Lâm tự do.

Nằm trong phòng, Mimi lắng tai cũng nghe rõ tiếng cười khúc khích, tiếng hôn chùn chụt…lép nhép từ ngoài vọng vào…khiến cô gái đang tuổi dậy thì cũng nóng ran cả người.

Sau một hồi trăn trở, Mimi thiếp đi lúc nào không hay.

                                                   

                                                     CHƯƠNG IX

    Người mình thường nói nghề đó là nghề làm móng tay, tức nails care. Trước đây, vào tiệm người Mỹ, một bộ móng tay, móng chân phải trả từ năm mươi tới bảy mươi đồng. Một số các bà, cả các ông nữa, người Việt khám phá ra cái nghề nhàn hạ và kiếm nhiều tiền này nên nghiên cứu đi học, rồi mở tiệm. Nhờ khéo tay và chiều khách, những vị đi tiên phong trong nghề làm ăn rất là phát đạt. Từ tiệm làm móng tay, người ta phát triển lên Thành tiệm bán cả mỹ phẩm, có người nhiều vốn còn khuyết trương thành một tiệm beauty supplies càng thu lợi nhiều hơn. Cho đến đầu thập niên 80 là cao điểm của nghề này, một thị trấn có thể có tới năm, bảy tiệm nails care của người mình. Vì canh tranh, trận chiến xẩy ra giữa các tiệm nails với nhau…Để câu khách, các tiệm thi nhau hạ giá, hy vọng mình dài hơi, đánh gục những người khác để chiếm độc quyền thị trường. Cho đến gần giữa thập niên chín mươi, giá làm một bộ móng tay xuống tới mười lăm đồng…có nơi làm cào làm cấu để có khách đã dám hạ xuống mười đồng

một bộ, là cái gia biên tế…may chỉ đủ trả chi phí cửa tiệm. Kết quả thảm hại là giá cả đã xuống thì khó mà lên lại được, và chỉ lợi cho khách hàng…phần đông là phụ nữ địa phương…Mỹ đen, Mễ v.v…Vì thế, các tiệm nails của người mình lần lượt dẹp tiệm. Những ai còn cố thủ với nghề, cũng chỉ đủ sống lây lất qua ngày.

     Giữa lúc đang lo vì đời sống khó khăn thì Phấn bắt được Lâm. Với người đàn ông này, bắt chước phụ nữ Mỹ mà Phấn biết được qua những khi chuyện trò với khách hàng, thì cũng chỉ là gian díu tạm bợ. Thử sống, với nhau, tốt thì lâu dài, còn không thì chia tay. Làm vợ nó rồi, có khi nó lại khinh khi, ruồng bỏ…nên thà…lúc nào cũng như tình nhân, được chiều chuộng, cung phụng. Nhưng, vấn đề đau đầu vẫn là Mimi. Sống kiểu này…làm gương xấu cho nó, mà không chừng còn để mất nó vào tay Lâm. Đâu có thể hai mẹ con đều là “vợ” của một người đàn ông. Mỹ thì không thiếu đấy, còn Việt cũng còn hiếm. Ở trên TV từng chiếu cuốn phim truyện một bà chủ giầu, đẹp, sang trọng và cô con gái yêu xinh xắn mơn mởn cãi nhau, đánh nhau chỉ vì một thằng nhân công hạng bét trong xưởng…Thằng chó má “đớp” cả hai mẹ con một cách trắng trợn không cần dấu giếm…khiến cả hai mẹ con đều căm đến nỗi có án mạng xảy ra…bà mẹ bị bắn chết trong một cuộc cãi vả giữa ba người. Chưa hết…mười năm sau, cô con đậu tới bác sĩ y khoa…còn hận mối tình xưa, tưởng tìm thằng khốn nạn để trả thù…giết mẹ…ai ngờ lại bị nó dụ dỗ suýt bị hiếp một lần nữa…và cuối cùng thằng thanh niên “tốt số” dìm chết cô nàng dưới dòng sông. Hình ảnh của giới trí thức Mỹ còn sa đọa như vậy, kể chi tới giới bình dân hay đám học sinh mới lớn… Họ coi một cuộc làm tình…xảy ra chớp nhoáng giữa hai người, có khi chưa kịp biết tên nhau bất kỳ ở trong xe hơi, trên đóng rơm hay trên bàn viết trong văn phòng làm việc sang trọng, không khác gì cho nhau uống một ly coca cola hay mút cây cà rem để…hạ hỏa. Căn nhà lá xơ xác đông phương với nhân hiếu lễ trí tín…rồi công, dung ngôn hạnh…làm sao chống trả được với những trận cuồng phong “đam mê, tội lỗi” này!

    Chiều thứ sáu, mới bốn giờ, Phấn đã gọi cho Lâm, nhưng anh ta không còn ở văn phòng. Nghĩ tới cái hẹn hò đi Casino của Lâm với Mimi, Phấn sốt ruột beep liên tiếp cho Lâm mấy lần cũng không được gọi lại. Ba giờ bốn mươi lăm Mimi tan học, có thể thằng chả đã đến trường đón con nhỏ…Như vậy hiện giờ chúng ở đâu…có thể trong motel không? Phấn không ghen…mà chỉ lo cho con gái “bị” với Lâm . Phấn giao hẹn với chủ tiệm…chỉ làm thêm một người khách cuối cùng nữa thôi…nhưng vì xao động trong lòng, Phấn phải sửa đi sửa lại mấy lần.

    Mãi tới năm giờ, người khách vừa dời bàn, mới có điện thoại của Lâm gọi tới:

    – Anh và Mimi đang trong cafeteria của Casino…đợi em. Tới đây mau nhé.

    Không muốn mất thì giờ, Phấn cúp điện thoại, ra lấy xe phóng thẳng tới nơi hẹn.

    Từ ngoài xa lộ nhìn vào, khu Casino không lấy gì làm lớn, nhưng tới nơi mới biết nó rộng thênh thang. Lúc này, cái bãi đậu xe vĩ đại chật ních, Phấn phải lái vòng vòng mấy lượt mới có được một chỗ đậu xe. Tòa nhà quét mầu nâu vỏ đậu cao xừng xững  chạy dài một cạnh khu dậu xe. Bên ngoài lác đác bóng  người ra, vô, nhưng vào trong hành lang, người đi kẻ lại nườm nượp. Đông người nhưng khá yên lặng. Trần nhà cao được đỡ bởi những vòm kiến trúc theo kiểu Mễ Tây Cơ có pha chút nghệ thuật cổ Hy Lạp. Các khung kính trắng dục trên mái chen lẫn với những hoa văn bằng kính mầu đậm khiến cho bên trong sáng mà lại dịu mát. Các bàn đánh bài trải nệm xanh ngọc thạch xếp dài từng dãy trong các căn phòng lớn đã chật khách chơi. Ở đây, người ta chia ra từng khu vực. Khu chỉ dành riêng cho kiểu chơi tây phương hoặc Mỹ giống như trong các sòng ở Las Vegas, Reno…tuy không chủ ý tách rời khách này với khách kia, nhưng khu này phần lớn là khách đàn ông, địa phương. Vào khu phía trong, xô bồ hơn với những khách người Á đông…và không lấy gì làm hãnh diện vì đa số là người Việt tỵ nạn, trong số đó, khách…phụ nữ  chiếm gần một nữa. Ở đây, bên ngoài rộng rãi với hàng mấy chục bàn chơi, tiền đặt cửa nhỏ dăm ba chục tới một trăm, xử dụng loại các đòng xu mầu xanh lá câu trị giá một đồng hoặc năm đồng, lúc nào cũng đông người. Sâu bên trong, một khu đặc biệt chừng mươi bàn gọi là Golden Place, dành riêng cho những canh bạc lớn, các cửa đặt có khi lên tới mươi

ngàn đo một ván. Những kiểu chơi bài quen thuộc của của người Á đông được chơi ở đây như xì dắt, binh bài bảy lá. Đặc biệt khu này hầu như không có khách Mỹ.

    Chỉ nhìn vào sòng bài, dẫu là người Việt đầy tự ái dân tộc, cũng thấy rõ tính cách “bình dân, lạc hậu” dù cả trong cuộc chơi của đám người Á đông. Xô bồ, lộn xộn, kẻ đứùng người ngồi…vừa ăn ngồm ngoàm vừa chơi bài. Khác với bên khu kia, yên lặng, trật tự, lịch sự, thoải mái, ở đó, nếu cần nói thì chỉ thì thầm…Bên trong, ngoài những tiếng chát chúa của hộp xúc xắc đập xuống bàn…còn kèm theo cả những tiếng chửi thề…tiếng khua chén bát của mấy người đang ăn! Những góc phòng la liệt chén đĩa với cả đồ ăn thừa xếp cả chồng. Người ta mê đến độ không muốn tạm ngưng chừng nửa giờ…để tới cafeteria.

    Trong khu Golden Place thì khá hơn. Sự yên lặng và không ăn uống có lẽ do các tay chơi bị khẩn trương vì những tiếng bài ăn, thua quá lớn.

    Phấn đã từng qua lại nơi này, qua dãy hành lang tới khoảng trống rộng rãi chia hai khu chơi, vào sâu phía trong để tới cafeteria. Những dẫy bàn ăn bốn ghế phủ khăn bàn trắng muốt, lịch sự. Không khó khăn, Phấn tìm được Lâm và Mimi tại một cái bàn có tầm nhìn ra khu chơi bài của người Mỹ. Lâm thấy Phấn, đứng vội lên nói giả lả:

    – Đợi em mãi…mới ăn đây thôi.

    Mimi nhìn mẹ, khen:

    – Ở đây ăn ngon ghê, mẹ à.

    Phấn không lạ gì nơi này, cũng gật đầu:

    – Tạm được.

    Lâm hỏi lấy lòng Phấn:

   – Em ăn gì…anh lấy cho.

   – Thôi, để mặc em…

   Phấn dời bàn ăn đi về phía cuối phòng có những hàng khay đồ ăn. Mimi theo mẹ, nói:

    – Mẹ ăn món rost steek ở đầu kia, ngon lắm.

    Phấn gật đầu:

   – Được để từ từ…mẹ lấy một đĩa sà lát đã…ăn thịt không, xót ruột lắm.

     Mimi lấy đĩa cho mình và cho mẹ luôn. Hai mẹ con đi một vòng. Mimi múc một bát súp và ít trái cây ăn tráng miệng. Khi quay ra, hai người gặp Lâm, anh ta nhắc chừng:

    – Ăn cho no…không đến tối…có đói cũng sẽ chẳng đứng lên được vì có khách dành mất chỗ chơi liền.

    Nghe Lâm nói, Mimi không có ý kiến, còn Phấn, trong thâm tâm nghĩ chỉ ở lại tới chín, mười giờ thôi. Nhưng bà ta không muốn nói ra, chỉ ậm ừ.

    Người hầu bàn châm thêm đá vào bình đựng, hỏi Phấn để châm thêm cà phê. Phấn đưa tay từ chối. Hai mẹ con lặng lẽ ăn. Một phút suy nghĩ, Phấn hỏi:

    – Chú Lâm đón con ở trường à?

    – Vâng.

    – Đi những đâu mà bây giờ mới tới đây.

    Phấn ngưng ăn nhìn Mimi chờ câu trả lời. Mimi cười:

    – Đi mua…áo tắm.

    Phấn tròn mắt:

    – Áo tắm?

    – Chú Lâm nói chúa nhật mình đi hồ bơi…

    Phấn nghĩ ngay tới ẩn ý của người đàn ông này…Hắn muốn ngắm…sờ mó thân thể con nhỏ đây. Phấn lắc đầu:

    – Không nên đi…chú này…khó chịu lắm.

    Mimi hiểu ý mẹ, nhưng lại nghĩ mẹ không muốn mình được Lâm…chiều chuộng. Với lại, đi tắm cũng là một cuộc vui hấp dẫn. Trong một khu Park phía tây thành phố có một hồ bơi khá đẹp và sang…Mimi có theo nhà trường tới cái park này…nhưng không được tắm mà chỉ đi qua đó ngó lơ thiên hạ vui đùa. Bây giờ có dịp, sao không đi. Ông Lâm này…ban ngày dám rở trò gì chứ. Nghĩ thế Mimi phụng phịu:

    – Con lớn rồi mà…mẹ cho con tự do chứ. Tắm chứ…có làm gì đâu mà lo.

    Biết không ngăn được ý muốn của con gái, Phấn lắc đầu, chán nản:

    – Thôi được, nhưng một lần thôi nhá. Mà tối nay cũng phải về…sớm.

    Mimi thấy Lâm trở lại, thở dài:

    – O.K, mẹ muốn về lúc nào cũng được.

    Lâm ra vẻ ngạc nhiên, tròn mắt:

    – Mình về sớm làm gì chứ? Để cho Mimi chơi một lần cho đã…

    Phấn nhìn quanh, nói:

    – Nó chưa đến tuổi được vào…sòng bài…chứ chơi cái gì?

    Lâm cười, bí mật:

    – Hừ, dư sức qua cầu…đi với anh..người ta chỉ hỏi lấy lệ thôi…mình nói nó hăm mốt…chứ chẳng có ai hỏi ID.

    Thực ra, Mimi đâu có chơi bài…mà chỉ ngồi bên để…anh chàng chơi bài thôi…Dù có ké chăng nữa…cũng chỉ là lấy lệ. Phấn biết vậy, nên nói:

    – Nó biết gì mà chơi…anh nói ngày mai đi hồ bơi…thì phải về ngủ cho khỏe chứ.

    Phấn tạm dùng cái kế nhỏ để thoát hiểm…vì nàng biết mình không thể ra mặt chống thẳng hắn được.

    Cuối cùng, Lâm gật đầu:

    – O.K, ăn lẹ lẹ lên không mất thì giờ vàng bạc…Tới đâu hay tới đó.

    Khi ba người ra tới khu chơi bài, ở đây đã rất đông khách. Có một điều lạ là bên khu người Mỹ, khách chơi bài thường là đàn ông đứng tuổi, khoảng từ bốn tới năm mươi, rất ít bóng dáng phụ nữ trong khu này. Trái lại, khu bên này, đa số khách còn trẻ, cái lớp tuồi trên dưới ba mươi, và số phụ nữ nhiều bằng hay có thể hơn số nam giới. Có những cô ngồi chơi hết ngày này sang ngày khác. Không hiểu tiền bạc ở đâu mà họ nhiều vậy, nhất là những cô đánh bài trong khu Golden Place. Sòng bài này mới được thành lập sau bao nhiêu ngày gian truân do sự chống đối của các giới, nhất là những dân biệu, nghị sĩ tiểu bang. Cả những khi đã được chính thức khai trương, có nhiều bằng chứng về mối liên hệ giữa sòng bài và sự gia tăng các vụ đách cướp tư gia hoạc cơ sở điện tử trong vùng, nên làn sóng chống đối sòng bài rất mạnh mẽ. Tuy nhiên, phản ứng này không đi tới kết quả cụ thể ngoài việc sòng bài “chi” cho một hội bất vụ lợi mà vị giám đốc hội này là một trong những người công kích sòng bài mạnh nhất, một số tiền dăm chục ngàn một năm…để  hội này mở một dịch vụ giúp đỡ những người gặp khó khăn vì tâm lý khi bị thua bạc. Tính cách chi tiền này…coi bộ nghịch lý…nhưng người ta có biết đâu..các sòng bài lớn như ở Reno hoặc Las Vegas…hàng năm đã bỏ ra nhiều triệu đô la để cho những người địa phương chống lại những dự án mở sòng bài ở vùng họ ở…vì nếu ở địa phương nào cũng có sòng thì khách tới hai nơi đó sẽ giảm. Nhưng, khi những quận hạt nào…mà nền tài chánh công quyền eo hẹp, thuế má khó tăng thêm, chính quyền địa phương thường có khuynh hướng cho mở sòng bài. Cứ lấy một thí dụ nhỏ. Tiền xâu của sòng bài lấy 1% trên tiền đặt cửa của khách. Trong khu Golden Place, tiền được đặt cửa mỗi bàn tối đa là hai ngàn tám. Cứ cho tiền đặt trung bình mỗi cửa là một ngàn năm trăm đồng, một phần trăm là mười lăm đồng, chín người chơi thì mỗi ván, sòng thu tiền xâu là một trăm ba mươi lăm đồng. Mỗi bàn sảy ra trong một phút, vậy tiền xâu một giờ tức 60 phút, là tám ngàn một trăm đồng. Sòng chơi hai mươi bốn trên hai mươi bốn thì một ngày, chỉ riêng bàn này, chủ sòng thu một trăm chín mươi tư ngàn bốn trăm đồng tiền xâu! Như vậy, số người được không bao nhiêu…mà tiền của các người chơi…sàng đi sàng lại dần dần rơi vào túi chủ sòng cả.

    Theo luật lệ, chỉ những người chơi bài mới có chỗ ngồi. Ba người vào khu đặc biệt. Ở đây tương đối chọn lọc. Ai tới chơi cũng đều là những người có tiền có bạc. Còn một bàn có chỗ trống, Lâm đưa hai mẹ con Phấn tới. Một người an ninh song bài, mặc đồng phục chào Lâm một cách thân mật vì nhận ra khách quen. Một tiếng gọi, hai ba cái vẫy tay của các khách trên bàn

chơi đâu đó vẫy chào Lâm làm Lâm cũng cười cuời vẫy lại. Một chỗ ngồi…mà tới ba người, dĩ nhiên người đó phải là Lâm…

    Người đổi tiền tới sau lưng khi Lâm vừa ngồi xuống. Lâm nhìn Mimi một cách hãnh diện, lấy ra một sấp bạc một trăm để đổi “chips”. Sau một hồi đếm, người đổi tiền để trước mặt Lâm một chiếc khay trên có nhiều chồng “chip” tròn mầu đỏ và một ít mầu vàng. Giá trị của đồng đỏ là một trăm, đồng vàng là năm mươi đô.

    Người chia bài là một cô Mỹ trắng khá xinh. Hai tay với mười ngón sơn đỏ chót, thoăn thoắt đảo bài, rồi chia mau cho năm khách chơi, mỗi người bảy lá. Đây là môn chơi xập xám, thay vì mười ba lá, họ rút xuống chỉ còn bảy lá để chơi cho lẹ. Trên mặt bàn trải thảm xanh, trước mặt mỗi khách có vẽ một hình chữ nhật chia thành mười ô vuông. Có người đặt đầy cả mười ô tức hai ngàn tám trăm đồng một ván! Mimi được Lâm khẽ giải thích khiến cô bé rùng mình thè lưởi, lắc đầu. Lâm đánh không lớn…mỗi ván đặt một ngàn dò dẫm.

    Kiểu chơi này, người chia bài không làm cái, mà lần lượt di chuyển tới từng người chơi. Người chia bài sẽ thay nhà cái thu tiền được hay giam tiền khi thua cho cửa thắng. Lâm được một bàn, thua một bàn thì tới lượt làm cái. Với lần làm cái này, Lâm rút được suốt dưới…nên ăn cả làng. Ván bài này Lâm thu được cả chục ngàn. Chưa thu hết tiền thắng, Lâm đã quay lại…cười tít, đếm cho Mimi mười đồng xu đỏ, kề mặt sát vào tai cô nhỏ, nói khẽ:

    – Mimi có tiền ké bài rồi nhé…

    Phấn chỉ hừ trong miệng.

    Đứng xem Lâm chơi chừng mười lăm phút, Phấn đã thấy mỏi chân. Mimi thì đang coi đánh bài hấp dẫn nên không thấy mệt mỏi. Lâm được Mimi thỉnh thoảng dựa ngực no tròn vào đầu, vào gáy khiến anh chàng đê mê…rồi lại được thánh cho ăn lộc, thắng liên tiến ba bốn ván. Lâm thầm cười trong bụng. Người ta thường nói đỏ tình đen bạc…nhưng Lâm thì…đỏ cả hai!

    Bỗng Lâm nghe thấy Phấn nhẹ thở dài, anh chàng mới sực nhớ ra sự có mặt của chị đàn bà kỳ đà cản mũi này. Nhân được một bàn khá, Lâm quay lại, ái ngại nhìn Phấn, khẽ nói:

   – Em mỏi chân rồi hả…mẹ, cái luật khốn nạn ở đâu…không cho một cái ghế phụ…

   Chung quanh bàn cũng không thiếu những người chầu rìa như Phấn. Họ kiên nhẫn đứng đợi người quen thắng bàn lớn..là dúi cho con chíp, một trăm chứ  ít à. Phấn lắc đầu chán nản, không nói. Lâm đếm mười cái chíp đỏ, với ngược tay lại phía sau, nói:

   – Để Mimi nó ở đây với anh…em ra kia chơi xả xui ít ván…đi.

    Với một ngàn này, chơi cò con dăm bảy đồng cũng được khá lâu. Phấn miễn cưỡng cầm lấy xấp chíp quay đi, miệng còn lầu bầu:

    – Em không ở muộn được đâu nha…

    Không biết nghĩ sao, Lâm gọi giật lại:

    – Phấn…cầm lấy năm cái nữa chơi cho vững bụng.

   Phấn chỉ xoay người với tay nhận, không nói gì, ngúng nguẩy ra khu ngoài.

    Thời gian trôi qua, trong tay Mimi đã có tới hơn hai chục cái chíp đỏ khiến cô nhỏ quên cả giữ ý. Chiếc ghế ngồi ở đây cũng thuộc loại lớn, nên khi thấy Mimi muốn rũ xuống vì mỏi chân, Lâm mới xích mông sang một bên, rồi đưa tay ôm ngang hông cô gái kéo ngồi xuống, miệng nói vài câu để người chia bài thông cảm. Vì là khách quen, người này cũng lờ đi. Lâm thấy tiền thắng dần dần “ra đi”…, anh chàng đành phải đánh nhỏ lại…vì đầu óc đã bị chia trí…do Mimi đang ngồi trong vòng tay ôm của mình. Tay phải đánh bài, tay trái Lâm tha hồ táy máy từ trên ngực tới hông trái của con nhỏ…Trước Mimi còn khó chịu…nhưng sau cũng cảm thấy những khoái cảm như luồng điện chạy khắp cơ thể. Có lúc, Lâm như vô tình ghé sát mặt vào Mimi…rồi còn mạnh dạn hôn cả lên má cô nhỏ. Mimi như bị du vào mê hồn trận vừa tiền…vừa nhục dục nên cũng không còn phản ứng chống cự.

    Không biết lúc đó mấy giờ, bổng cả hai Lâm, Mimi giật bắn người vì tiếùng nói nhỏ, nhưng như gắt của Phấn:

    – Về!

   Lâm luống cuống thu tay lại, Mimi thì đứng vùng dậy, hơi bẽn lẽn. Phấn nắm tay con gái giật:

    – Về. Ông ấy ở lại thì mặc ổng.

    Bàn chơi đang có ván gây cấn nên không ai để ý tới hai mẹ con Phấn. Lâm cười gượng:

    – Thì đợi hết vài ván nữa.

    Phấn lắc đầu:

    – Ở lại chơi đi…bọn này về…

   Nói xong, Phấn kéo Mimi đi. Mimi cũng biết không nên ở lại, cô líu ríu theo mẹ, không một lời phản đối. Hai người ra chỗ đổi tiền, Mimi có trong tay hai ngàn

bốn trăm. Phấn cũng có tiền, nhưng Mimi không biết mẹ được bao nhiêu.

    Ngồi trên xe, vừa lái xe, Phấn vừa suy nghĩ về Lâm. Thằng cha trai lơ, mình bỏ qua cho hắn…không ngờ càng ngày hắn càng lợi dụng để tấn công con bé. Phấn không rầy la Mimi vì chính nàng đã từng bảo con nên bỏ qua những cái lặt vặt cho Lâm. Vì thế, Phấn chỉ nói:

    – Con coi chừng cái chú phải gió đó…có ngày nó kéo mày lên giường là khổ cả đời đấy con ạ. Phải coi chừng.

    Lên giường! Mimi cũng biết mẹ ám chỉ chuyện gì…nhưng cô gái không thấy nó quan trọng…vì chính trong trường học, người ta cũng không kết án những chuyện như vậy, mà họ chỉ dạy mình làm cách nào để…không mang bầu…và mắc bệnh AIDS thôi. Nghĩ thế, nhưng Mimi không phản đối lời nhắn nhủ của mẹ.

    Về tới nhà, hai mẹ con đều tắm táp xong là lên giường liền, không chờ Lâm. Nhưng cả hai vừa đặt mình nằm, đã nghe thấy tiếng xe của anh chàng vào trong garage.

    Mimi nghĩ tới Lâm. Cái chú này cũng chơi ngon đấy chứ. Hơn hai ngàn này mình làm gì đây…đổi xe chăng.

   Có tiếng nước đá va vào ly kêu lạch cạch ở bên ngoài. Chắc Lâm đang uống nước. Rồi có tiếng chân đi qua hành lang, tiếng gõ cửa…phòng của Phấn. Sau đó, tiếng đàn ông thì thầm…tiếng nói ngắt giọng của Phấn…rồi tiếng cười khúc khích của hai người, tiếng đá va vào ly…và cuối cùng, tiếng đóng cửa. Yên lặng…

    Mimi biết thừa là Lâm đã vào phòng mẹ mình. Một chút bực tức tự nhiên…dấy lên trong lòng Mimi, rồi một

nỗi khát khao một cái gì đó… khiến cô gái dậy thì ôm chặt cái gối vào hai cặp đùi…

    Chín giờ sáng, nắng đã chan hòa khu hồ bơi. Đây là một Câu lạc bộ người tới phải có thẻ hội viên. Nước hồ trong xanh, chung quanh hồ lát gạch hoa nhiều mầu sạch sẽ, trên đó là những chiếc bàn  trắng với bốn chiếc ghế hoặc những chiếc xích đu kê từng cặp sát nhau, tất cả đều được che dù nhiều mầu, lớn. Xa hơn là bãi cỏ xanh mướt, tươi mát. Mãi cuối hồ là một buffet bán rượu và nước giải khát cùng khu nhà thay quần áo. Ngoài cùng là hàng cây cao bao quanh cả khu vực hồ bơi, gió thổi nghe rì rào, bóng mát ngả dài trên bãi cỏ.

    Sớm thế mà người vào bơi cũng đã khá đông. Phần lớn người ta xuống nước bơi lội. Tiếng gọi nhau, tiếng cười ròn rã, sảng khoái, tiếng khua nước lõm bõm tạo nên một thứ âm thanh vui tươi, trong trẻo. Những làn nước bắn tung tóe lấp lánh dưới anh nắng ban mai.

    Lâm đưa mẹ con Phấn vào trong. Ba người chọn một cái bàn gần cuối hồ bơi. Sau khi đề đồ xuống dưới chân bàn, Lâm nhìn quanh, rồi nói:

    – Em với Mimi vào phòng phía trái thay đồ để xuống bơi. Bơi làm mình mau đói, lên ăn trưa rất là ngon miệng.

    Phấn lầm lỳ không nói gì. Mimi nhìn quanh thấy đông người, cô nhỏ rất thích thú, quàng vội cái xắc tay lên vai, tất tả đi vào phòng thay đồ. Cái áo tắm của Mimi mầu đỏ đậm, kín đáo nên cô bé không đến nỗi ngượng ngập khi bắt gặp Lâm chỉ mặc một chiếc quần tắm, đang đứng đón hai mẹ con ngay ngoài cửa. Phấn

mặc áo tắm mầu xanh, đàng trước kín đáo, nhưng để cả một cái lưng trần không được mịn màng lắm.

    Lâm khôn ngoan đi bên Phấn, và đưa nàng xuống hồ. Hai người bắt đầu bơi ra xa, Lâm nói với Mimi:

    – Mimi bơi ở gần đây, nước nông đến cổ, đỡ nguy hiểm. Có gì gọi chú.

    Mimi không nói, trườn mình xuống nước. Thực ra, Mimi chỉ biết bơi cái lối Việt Nam, tay chân đập lung tung để cho người nổi lên, di chuyển chậm chạp. Chung quanh, ngưởi ta bơi rất là đẹp mắt…Ở trong trường, Mimi cũng có học bơi, nhưng bỏ lâu, cô nhỏ cũng không còn nhớ, thử lại một vài lần, người cứ chìm nghỉm xuống khiến nước vào miệng sặc sụa.. Đang lúc lúng túng, hai chân đạp nước tung tóe làm cho mấy người bơi gần hơi khó chịu, Mimi bỗng cảm thấy nhồn nhọc dưới bụng. Quay nhìn lại, Mimi giật mình vì Lâm đứng sát bên cạnh, miệng phì một búng nước nói:

   – Cứ bơi đi, chú đỡ dưới…cho.

    Mimi không nói, soải tay bơi theo kiểm bướm học trong trường, có tay Lâm đỡ dưới, người cô nổi lên dễ dàng. Đang tập, bỗng cô nhỏ thấy tay của Lâm lần xuống bụng dưới, bóp nhẹ, tay kia đặt trên mông mình, Mimi như bị điện giật, hơi hoảng, vội trườn mình, đứng xuống. May chỗ này cũng chưa sâu, nước mới chỉ ngậïp tới ngang cằm.

    Lâm cười giả lả:

    – Sao không tiếp tục tập nữa?

    Mimi lắc đầu, trả lời nhát gừng:

    – Thôi…chú bơi ra kia đi Mimi không tập nữa  đâu…biết bơi chút đỉnh rồi…

   Lâm lặn sâu xuống nước, ôm ngang hông cô gái khiến Mimi sợ hãi, đạp mạnh vào người đàn ông, tránh nhanh ra xa hơn.

    Phản ứng của Mimi khiến Lâm nổi lên mặt nước. Mimi nói:

   – Cháu lên đây…

   – Đừng lên vội…cứ ở đó chơi đi…

   Nói xong, Lâm soải tay bơi ra xa. Phấn ngồi trên mép hồ bơi…nhìn hai người, mặt cau có. Thấy Lâm bơi đi, Phấn mới khẽ gọi Mimi lại:

    – Đừng để lão ta…tập bơi…nghe. Chơi quanh chỗ này, nước nông..là được rồi…

   Nói xong, Phấn cũng xuống nước, chậm chậm bơi theo Lâm.

    Mimi đưa tay sờ xuống phần thân thể mà Lâm vừa đụng tới…khiến Mimi hơi nhột và thẹn thầm trong bụng.

    Khi Mimi ra khỏi nước, đứng trên bờ hồ tắm, dưới ánh nắng chan hòa, cô nhỏ thấy thân thể mình nổi lên từng vùng…từng vùng rất là lộ liễu dưới chiếc áo tắm mỏng dính, dán sát vào da thịt. Mimi vội chạy lại bàn của mình, ngồi xuống, nhìn quanh xem có ai để ý tới mình không.

    Không ai? Trừ một người. Hắn có nước da ngăm đen, mắt lớn, phần sọ đàng sau gáy dô ra hơi thiếu mỹ thuật. Mình trần, chiếc quần tắm màu nâu đậm có đốm trắng, đang ngồi bó gối bên bờ hồ. Hắn đeo kính mát, đưa mắt trông theo Mimi từ chỗ cô nhỏ lên bờ cho tới khi ngồi xuống ghế. Nhìn nhưng yên lặng. Bắt gặp cái nhìn đó, Mimi xoay người, ngồi quay lưng về phía chàng thanh niên.

    Đột nhiên Mimi thấy người nôn nao buồn nôn. Cô nhỏ cố gắng kìm hãm cái bụng cứ cuồn cuộn nổi lên từng đợt, muốn tống khứ những gì có trong dạ dày ra ngoài. Cuối cùng, Mimi biết đã đến cữ. Cô nhỏ tay run run cúi xuống lần mò tìm hộp thuốc để trong xắc tay. Mimi phải ói khan một chút…rồi mới châm lửa, hít được vài hơi. Sau đó, Mimi bị say, gục đầu xuống bàn.

    Có người lay vai, Mimi hoảng hốt nhìn lên. Anh chàng mắt to đang đứùng bên cạnh, sẽ hỏi:

    – Cô có sao không?

    Mimi khó chịu, lắc đầu:

    – Ơ kìa, việc gì tới ông chứ?

    Anh chàng tần ngần:

    – Xin lỗi…tôi nói thật…cô cứ như thế…nguy hại lắm. Tôi có thể giúp cô…

    Mimi trừng mắt nhìn người thanh niên không mấy đẹp trai, hỏi lại:

    –  Mặc tôi, ông tới đây làm gì?

    Anh chàng vẫn không chịu thua, lắc đầu:

    – Tôi biết chứ…vì tôi là bác sĩ mà, tôi có thể giúp cô.

    Nghe người đối điện xưng là bác sĩ, Mimi mới nhìn thẳng, quan sát anh chàng. Còn trẻ, chưa quá ba mươi đâu…giỏi đấy chứ, nhưng chắc mới ra trường:

    – Ông nói giúp…là giúp gì cơ?

    Thấy cô gái đã hơi thuận chiều, anh chàng bác sĩ tự nhiên, không cần mời, ngồi ngay xuống ghế đốùi diện:

    – Tôi là bác sĩ Hoành…phòng mạch tôi mới mở trên đường Nobel, số 33. Tôi có thể giúp cô…bỏ xài drugs.

    Mimi lắc đầu:

    – Có sao đâu.

    Hoành lắc đầu:

    – Nó sẽ làm cho cô kém thông minh đi, cơ thể mau bải hoải…và càng lúc, cơn ghiền càng sảy ra nhiều lần trong một ngày hơn…như vậy…cô làm sao học hành được chứ.

    – Hừ, học hành!

    – Đúng, mình phải học thực giỏi…ra trường, có địa vị, có job tốt, tiền bạc dư  thừa…đời mới đáng sống chứ.

    Mimi đã sảng khoái, cười:

    – Ôi, học hành chán ngắt, đến khi kiếm được tiền, thì cũng đã…già rồi…còn gì nữa mà đáng sống với không đáng sống.

    Lý luận cùn, nhưng suy ra lại đúng với đám phụ nữ ưa hưởng thụ. Hoành hơi lúng túng, nhưng chợt nhìn thân hình tươi mát của cô gái, anh ta tìm ra lý lẽ mới:

   – Còn nữa. Bây giờ không sao nhưng cứ tiếp tục…thân thể của cô sẽ “deform” trong nay mai thôi.

    Đánh đúng yếu điểm, Mimi ngạc nhiên:

    – Nghĩa là…

    – Sắc đẹp của cô sẽ…không còn như hiện nay nữa…

    Nói xong, Hoàng ngập ngừng:

    – Cô ghi điện thoại của tôi…lúc nào gọi lấy hẹn…tôi sẽ giúp cho…

    Cái “mác” bác sĩ cũng khiến Mimi thấy anh chàng cũng không đến nỗi xí trai. Cô nhỏ vội lấy xắc tay lục tìm cái bút, chi vội tên và số điện thoại của Hoành.

   Vừa xong, bỗng Lâm lù lù đi tới. Sự có mặt của Hoành làm Lâm cau mày, hỏi trống không:

    – Gì thế?

    Mimi nhanh miệng:

    – Không có gì…đây là bác sĩ Hoành…người quen.

    Hoành nghĩ Lâm là ba của Mimi, nên hắn vội đứng lên, hơi cúi đầu đưa tay ta bắt, miệng tự giới thiệu:

    – Chào bác…bác sĩ Hoành!

    Cái chức vị bác sĩ Hoành tưởng sẽ làm cho Lâm vui lòng, nhưng anh chàng không ngờ Lâm lườm một cái, không cả đưa tay bắt, nói trống không:

    – Mimi, lại đàng kia…giải khát.

    Vừa nói, Lâm vừa nắm tay Mimi kéo đi trước mắt ngạc nhiên của bác sĩ Hoành. Mimi ngoái nhìn nhanh về phía chàng thanh niên vừa quen, rồi miễn cưỡng theo Lâm đến chỗ buffet. Tại một bàn, Phấn đang ngồi uống rượu, mắt nhìn về phía Mimi và Lâm, yên lặng.

    Mimi ngồi xuống ghế, Lâm lầu bầu:

   – Bác sĩ, bác siếc gì..mà…thấy gái…mặc áo tắm là cứ bám như đỉa đói…

    Phấn nhướng mắt:

    – Bác sĩ…nào vậy?

    – Đâu biết…xưng vậy chứ chắc gì…Cái giọng…Phước Tỉnh…rặt ra đó.

    Giọng kỳ thị lếu láo ra mặt.

   Mimi chẳng ra lời. Lâm muốn gạt chuyện đó, cúi xuống hỏi Mimi:

    – Uống gì Mimi?

    – Cho coca cola…

    Lâm đi lấy nước, Phấn hỏi:

    – Chuyện gì vậy?

    Mimi lấp lửng:

   – À, ở đàng đó có cái anh chàng xưng là bác sĩ, đếùn hỏi chuyện chơi…với con…ông ấy tới…nổi xùng với người ta. Rõ dớ dẩn.

    Phấn gật đầu:

    – Thôi được, để đó…Tao cũng bực với thằng chả lắm rồi…Uống nước xong sửa soạn về thôi…Rõ lắm chuyện.

    Mimi nhìn về phía anh chàng Hoành… nhớ tới cái số điện thoại đã ghi trong sổ tay.

    Lúc này, người ta đã lên bờ khá đông. Họ đi lại, tung tăng quanh hồ hay ngả lưng trên mấy chiếc xích đu dưới bóng râm của những cái dù lớn. Có người còn trải khăn ra bãi cỏ bên ngoài, nằm tênh hênh phơi người dưới ánh nắng. Đàn ông Tây phương, ngực, bụng mọc lông xồm xoàm. Có người lông che cả vai, tay chân…không khác gì con khỉ đột. Các loại áo tắm mầu sắc rực rỡ, làm tăng vẻ đẹp của những tấm thân nõn nà, nẩy nở, nhất là các bà, các cô Mỹ, hở hang phơi bầy tự nhiên trước mắt thiên hạ.

    Chưa tới mười hai giờ, Phấn đã giục về. Lâm ra chiều còn luyến tiếc, nhưng không phản đối ý muốn của Phấn. Hắn nhìn chăm chăm vào Mimi, vớt vát:

    – Mimi bơi đã chưa?

    Cô gái nhìn lơ đãng ra xa:

   – Không bơi nữa đâu…về thôi.

    Ba người ra về. Phấn ấm ức. Lâm…tạm thỏa mãn với những lén lút đầy khích động. Mimi thì nghĩ tới số điện thoại của bác sĩ  Hoành. Không ai nói với ai một lời cho tới khi bộ ba đến tiệm ăn trưa.

                                                           CHƯƠNG X

    Nhìn bà mẹ phấn son lòe loẹt, dù ngày nay nhờ khoa giải phẫu thẩm mỹ, khuôn mặt đã nhẹ nhõm, trẻ ra cả mươi tuổi, thay đổi cách ăn diện theo lối tây phương, đi học một khóa nhảy đầm với nữ vũ sư  Phi Yến, nhưng cái giọng nói cố hữu của người vùng biển mà có lần Lâm đã phát giác ra ngay từ ông con bác sĩ, người ta cũng bấm bụng cười thầm.

    Nhờ làn sóng tỵ nạn, những người vùng ven bờ biển Việt nam sẵn có ghe thuyền và tay nghề đi biển, chỉ cần một lần tổ chức đưa người vượt biên là có cơ làm giầu. Mỗi người mua một chỗ trên ghe đánh cá của họ cũng phải từ năm cây vàng trở lên. Với số vốn đó, họ tìm nơi định cư tại những vùng có thể tiếp tục nghề cũ, tỉ như  một vài thị trấn thuộc tiểu bang Lousiana. Nhờ chịu khó, những người này đã thích ứng được với hoàn cảnh mới và nhiều người đã thành công. Trong các khu họ ở, những chiếc xe Mercedese, Cadillac, BMW mới tinh được mua bằng tiền “cash” đậu dài dài khiến dân địa phương phải ghen tị! Họ quê mùa, nhưng trong cùng thôn xóm sống quây quần với nhau, chuyện đó chẳng có gì quan trọng. Con cái của họ nhờ gia đình sung túc, bung ra học tại những trường có tiếng và phần lớn thành đạt.

    Ngày trước ở Việt Nam, những ông bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, luật sư…đều tự coi là phát xuất từ những gia đình “noble”. Đi tới đâu cũng được người ta trọng vọng nên rất là tự mãn. Họ trở thành một giai cấp thượng lưu của xã hội. Trong chính phủ miền Nam trước đây, có những chức vụ chẳng dính dáng gì tới ống nghe, kim chích, đơn thuốc…cũng được giao phó cho các ông bác sĩ, dược sĩ. Một vài vị còn nắm giữ những chức vụ chính trị quan trọng như tổng trưởng, thủ tướng…trong khi khả năng của họ không ra ngoài cái nghề chuyên môn chữa bệnh giang mai, cảm cúm hoặc buôn bán thuốc tây đã được bào chế sẵn của họ. Vì thế…mới sinh ra lắm điều quái gở trong cơ quan công quyền. Đây cũng là một trong những lý do quan trọng khiến…chính trường miền nam Việt Nam mới càng ngày càng “khá”ù…cho đến khi bị đồng minh Mỹ bỏ rơi là xụp đổ một cách nhục nhã vì một đoàn quân rừng rú.

    Nguyễn Văn Hoành, tốt nghiệp Y khoa bác sĩ trường ở một Đại Học tư  rất nổi tiếng của California. Cả gia đình gồm bố mẹ và hai em từ Lousiana về sống cả thành phố này. Sau khi bán cái cơ nghiệp bên đó, họ đủ tiền mua nhà cửa khang trang ở đây. Ông bố suốt mười mấy năm trời vật lộn với biển cả, nên chỉ nói tiếng Việt. Trái lại, nhờ nhà thờ bảo trợ, lại có thì giờ rảnh rỗi, bà mẹ học nói được chút ít tiếng Anh. Vì thế sang tới đây bà ta thường đi theo Hoành lo việc mở phòng mạch, giúp cậu con giao tiếp với người Việt trong vùng.

    Khởi đầu, tại đây, giới y khoa từ Việt Nam sang người ta lập hội và có một nếp sống riêng xa cách với xã hội người tỵ nạn Cộng sản. Họ tổ chức giải trí riêng, giao du, tiệc tùng, hát karaoke với nhau và cả những mẩu đăng báo hiếu, hỉ họ cũng chỉ đứùng với những người cùng giới. Sau này, vì lý do nghề nghiệp như những vụ tai nạn xa cộ, giới y khoa có vài liên hệ với giới luật gia người ta mới thấy bóng dáng vài ông luật sư  đi chung với nhóm y khoa. Trong sinh hoạt cộng đồng, kỷ niệm 3o tháng ba mươi tháng tư chẳng hạn, rất ít khi thấy những ông này tham dự.

     Khi lớp thanh niên lớn lên và tốt nghiệp từ các trường Hoa Kỳ, như  Nguyễn Văn Hoành chẳng hạn, cung cách hành xử có vài thay đổi. Lớp người này tuy không có kinh nghiệm, nhưng khi hành nghề, họ có vẻ hiểu biết khá hơn lớp cũ, nhất là giới Nha sĩ. Vì thế, trận chiến quảng cáo xảy ra, các ông các bà cạnh tranh ráo riết. Giới bác sĩ ôn hòa hơn, nhưng hai thế hệ cũng khó hòa hợp với nhau. Giới trẻ năng động, ít kênh kiệu, nên cũng có một số bác sĩ trẻ tham gia chút đỉnh trong sinh hoạt chung. Đôi khi có dịp, họ cũng hòa đồng với mọi người…như làm MC trong một vài đám cưới, hát hỏng, văn nghệ văn gừng với thân hữu ngoài giới mình. Những ông bố, bà mẹ của họ cũng không là những người cho mình thuộc Thành phần cao sang, nên họ thường sống giản dị, quê mùa.

    Có lần bác sĩ Hoành tới lượt phụ trách tổ chức buổi vui cuối tuần cho đồng nghiệp. Hai mẹ con phải sắm bộ kaoraoke, đặt đồ ăn và nhất là “giấu” ông bố ngư phủ trên gác suốt buổi tối. Thực ra người ta chỉ cần một nơi vui chơi, còn những chuyện khác là phụ thôi. Nhưng có một điểm bất tiện là khi mở ball, bà Đôi cứ thích nhẩy với các ông bác sĩ. Mấy ông này…lại kỵ cái gốc gác của bà ta, nhất là có những lần bà làm cho các bà bác sĩ (vợ của mấy ông bác sĩ) xốn mắt, lườm nguýt…nên nhiều khi mất vui. Đó cũng là cái tính kỳ thị của các ông các bà bác sĩ, nha sĩ đó thôi. Các ông, các bà phải biết…không có “quê” thì làm sao có “tỉnh”, nếu cha mẹ các ông, các bà không phải là người quê mùa thì ông của các ông, các bà hay ông cố của các ông, các bà cũng quê mùa vậy…như thế làm sao lại “khi” bà Đôi chứ? Hoành nhìn thấy, cũng hơi bực…các bạn đồng nghiệp, tuy nhiên trong thâm tâm cũng muốn có một partner khác và để bà mẹ ở một chỗ…với ông bố thì tốt hơn là để bà chường mặt ra với thiên hạ để họ xầm xì phê bình.

    Con nhỏ Mimi tới đúng lúc. Hoành tình cờ biết tên cô gái nhờ câu nói của Lâm. Nó có nghiện ngập một chút lại tốt…vì là loại thời trang, chịu chơi…chứ không như mấy cô tiểu thư ở đây, hễ quen với con trai …là đặt “vấn đề” ràng buộc. Từ l